Câu chuyện này kể chuyện chính Chúa Ki-tô đã tới thăm nhà một người nông dân vào đêm Giáng sinh và dạy anh ta điều gì. Tôi được nghe nó từ một ông già người Xi-bi-ri, người biết rất rõ chuyện ấy. Ông kể với tôi thế nào, tôi xin kể lại đúng như lời ông.
Chỗ chúng tôi là đất của dân lưu đày tới định cư, nhưng là chốn tốt, chốn buôn bán. Cha tôi tới vùng này từ thời còn chế độ nông nô ở nước Nga, còn tôi thì sinh ra ở đây. Theo thân phận mình, nhà tôi cũng đủ ăn đủ mặc, bây giờ cũng không túng thiếu. Đạo thì chúng tôi giữ theo lối giản dị của người Nga. Cha tôi đọc nhiều, ông làm cho tôi cũng mê đọc sách. Ai yêu học hành thì người ấy là bạn thân nhất của tôi, vì người ấy tôi sẵn lòng vào lửa xuống nước. Và có một lần Chúa ban cho tôi niềm an ủi là người bạn Ti-mô-phây Ô-xi-pô-vích, người mà tôi muốn kể cho các bạn nghe đã gặp phép lạ thế nào.
Ti-mô-phây Ô-xi-pốp tới chỗ chúng tôi khi còn trẻ. Tôi khi ấy mười tám tuổi, còn anh có lẽ ngoài hai mươi một chút. Ti-mô-sa sống rất đứng đắn, không có gì đáng hổ thẹn. Anh bị toà xử đày tới định cư ở đây vì tội gì, thì theo lệ chỗ chúng tôi, người ta nể nhau mà không hỏi, nhưng nghe nói là anh bị người chú làm hại. Ông chú làm người giám hộ khi anh mồ côi, rồi tiêu tán, hay chiếm lấy, gần hết gia tài của anh. Còn Ti-mô-phây hồi ấy trẻ người nên nóng nảy, chú cháu cãi nhau, và anh cầm vũ khí đánh chú. Nhờ lòng thương xót của Đấng Tạo Hoá, tội lỗi trong cơn điên ấy không thành trọn vẹn, Ti-mô-phây chỉ đâm xuyên qua tay chú. Vì anh còn trẻ, nên hình phạt chẳng có gì nặng hơn: từ một nhà buôn hạng nhất, anh bị đày tới chỗ chúng tôi định cư.
Gia sản của Ti-mô-sa tuy bị cướp mất chín phần, nhưng còn một phần mười thì vẫn sống được. Anh dựng nhà ở chỗ chúng tôi rồi bắt đầu sống, nhưng trong lòng nỗi uất ức cứ sôi sục, và một thời gian dài anh lánh xa mọi người. Anh lúc nào cũng ngồi ở nhà, chỉ có anh làm thuê và chị làm thuê là thấy mặt anh, còn ở nhà thì anh cứ đọc sách, toàn những sách đạo. Cuối cùng chúng tôi quen nhau, chính là nhờ sách, tôi bắt đầu tới nhà anh, còn anh thì vui lòng tiếp tôi. Hai đứa hợp nhau.
Thoạt đầu cha mẹ tôi không mấy muốn cho tôi tới nhà anh. Họ thấy anh khó hiểu. Họ bảo: “Chẳng biết anh ta là hạng người nào, sao lại trốn tránh mọi người. Coi chừng anh ta dạy con điều gì xấu.” Nhưng tôi, vốn vâng lời cha mẹ, nói thật với cha với mẹ rằng tôi chẳng nghe Ti-mô-phây nói điều gì xấu, chúng tôi chỉ cùng đọc sách và bàn chuyện đạo, phải sống theo ý thánh của Chúa thế nào để khỏi làm sa sút, khỏi làm ô danh hình ảnh Đấng Tạo Hoá trong mình. Thế là người ta cho tôi tới ngồi với Ti-mô-phây bao lâu tuỳ thích, rồi chính cha tôi cũng tới thăm anh, và sau đó Ti-mô-phây cũng tới nhà chúng tôi. Hai ông bà già nhà tôi thấy anh là người tốt, đâm ra quý anh, và rất tiếc là anh hay u sầu. Hễ anh nhớ tới mối nhục của mình, nhất là nếu ai nhắc dù chỉ một lời về ông chú, là mặt anh tái nhợt, rồi sau đó anh đi lại thẫn thờ, buông xuôi hai tay. Những lúc ấy anh chẳng muốn đọc sách nữa, trong mắt thay vì vẻ hiền hoà thường ngày lại rực lên cơn giận.
Anh thật thà mẫu mực, lại thông minh, nhưng vì buồn bã mà chẳng chịu làm ăn gì. Nhưng Chúa chẳng bao lâu đã giúp anh khỏi buồn chán: anh đem lòng thương em gái tôi, cưới cô, và thôi buồn chán, bắt đầu sống, làm ăn, gây dựng cơ nghiệp, và mười năm sau thì ai cũng thấy anh là người vững vàng bậc nhất. Anh dựng được nhà như một toà dinh thự, cái gì cũng đầy đủ, dư dật, ai cũng kính nể, vợ thì hiền, con thì khoẻ. Còn cần gì nữa? Tưởng như mọi nỗi đau ngày trước đều có thể quên đi rồi. Thế nhưng anh vẫn nhớ mối nhục của mình, và có một lần, khi hai chúng tôi ngồi trên chiếc xe ngựa nhỏ, đang trò chuyện rất vui vẻ, tôi hỏi anh:
— Này anh Ti-mô-sa, bây giờ anh có bằng lòng với mọi thứ không?
— Là theo nghĩa nào? Anh hỏi.
— Anh đã có lại đủ những gì anh mất ở quê chưa?
Thế là mặt anh lập tức tái đi, anh chẳng nói một lời, chỉ lặng lẽ điều khiển con ngựa. Tôi bèn xin lỗi.
— Anh ơi, tôi nói, anh bỏ qua cho tôi đã hỏi thế… Tôi tưởng chuyện xấu ấy đã… qua từ lâu và đã quên đi rồi.
— Chẳng sao, anh đáp, nó đã… qua từ lâu, nó qua rồi, nhưng vẫn còn nhớ…
Tôi thấy thương anh, nhưng không phải vì anh từng có nhiều của hơn, mà vì anh u mê như thế: Kinh Thánh thì anh biết, nói chuyện đạo thì anh giỏi, mà lại giữ mối hận dai dẳng đến vậy. Nghĩa là lời thánh chẳng giúp ích gì cho anh.
Tôi ngẫm nghĩ, vì tôi vẫn coi anh khôn hơn mình về mọi mặt, và vẫn mong nhờ anh mà được nghe những lời bàn bạc tốt lành, thế mà anh lại nhớ điều ác… Anh nhận ra, liền hỏi:
— Giờ anh đang nghĩ gì thế?
— Thì, tôi nói, nghĩ lan man thôi.
— Không, anh đang nghĩ về tôi.
— Cũng có nghĩ về anh.
— Thế anh hiểu về tôi thế nào?
— Anh đừng giận nhé, tôi nghĩ thế này về anh. Kinh Thánh thì anh biết, nhưng lòng anh thì đầy giận dữ, không chịu phục Chúa. Vậy Kinh Thánh có ích gì cho anh không?
Ti-mô-phây không giận, nhưng mặt sầm lại buồn bã, rồi đáp:
— Anh không đủ hiểu biết để giảng giải lời thánh.
— Anh nói đúng, tôi đáp, tôi không hiểu biết.
— Mà anh cũng không hiểu, anh nói, trên đời có những nỗi nhục thế nào.
Điều này tôi cũng đồng ý với anh. Thế là anh nói rằng có những sự xúc phạm không thể nào nhịn được, rồi kể với tôi rằng anh giận ông chú đến thế không phải vì tiền, mà vì một điều khác, không thể nào quên.
— Tôi muốn im lặng suốt đời về chuyện ấy, anh nói, nhưng hôm nay tôi sẽ mở lòng với anh, vì anh là bạn tôi.
Tôi nói:
— Nếu điều ấy có ích cho anh, thì anh cứ mở lòng.
Và anh kể với tôi rằng ông chú đã làm cha anh đau đớn đến chết, làm mẹ anh vì buồn mà xuống mồ, vu khống chính anh, rồi lúc tuổi đã già, ông dỗ dành và doạ dẫm buộc một gia đình gả cho ông, một ông già, một cô gái trẻ mà Ti-mô-sa đã yêu từ nhỏ và vẫn luôn định cưới làm vợ.
— Những chuyện ấy, anh nói, có tha thứ được không? Cả đời tôi sẽ không tha cho ông ta.
— Phải rồi, tôi đáp, nỗi nhục của anh lớn thật. Nhưng Kinh Thánh chẳng giúp gì được anh, điều ấy cũng không sai.
Thế là anh lại nhắc tôi rằng tôi kém anh về Kinh Thánh, rồi bắt đầu chứng minh rằng trong Cựu Ước, chính các bậc thánh nhân đã không tha cho kẻ gian ác, thậm chí còn tự tay giết chúng. Anh chàng tội nghiệp muốn bằng cách ấy biện hộ cho lương tâm mình trước mặt tôi.
Còn tôi, vì chất phác, nên đáp anh một cách chất phác.
— Anh Ti-mô-sa, tôi nói, anh là người khôn, anh đọc nhiều, cái gì cũng biết, nên tôi không cãi lại anh về Kinh Thánh được. Nói thật với anh, những gì tôi đã đọc, tôi cũng chẳng hiểu hết, vì tôi là người tội lỗi, đầu óc hẹp hòi. Nhưng tôi nói với anh thế này: trong Cựu Ước cái gì cũng cũ kỹ, đọc vào cứ như hai mặt lẫn lộn trong đầu, còn trong Tân Ước thì rõ ràng hơn. Ở đó, sáng lên trên tất cả là câu: “Hãy yêu thương và hãy tha thứ”, và điều ấy quý nhất, như chiếc chìa khoá vàng mở được mọi ổ khoá. Mà tha thứ ở chỗ nào, lẽ nào chỉ là trong lỗi nhỏ nhặt, chứ không phải trong tội lớn nhất?
Anh im lặng.
Thế là tôi nghĩ trong lòng: “Lạy Chúa! Nếu ý Chúa muốn, xin hãy qua miệng con nói một lời với linh hồn người anh em của con.” Rồi tôi nói Chúa Ki-tô đã bị đánh, bị lăng nhục, bị nhổ vào mặt thế nào, người ta xếp đặt sao cho chỉ riêng Người là không có chỗ nào dung thân, vậy mà Người đã tha cho tất cả.
— Anh hãy làm theo điều ấy, tôi nói, đừng theo cái thói báo thù.
Thế là anh đưa ra những lời giảng giải dài dòng, rằng ai đó đã viết là có những điều mà tha thứ thì cũng như làm cái ác thêm nhiều.
Tôi không cãi lại được, chỉ nói:
— Tôi chỉ sợ “đọc nhiều sách quá làm người ta hoá dại”. Anh hãy đứng lên chống lại chính mình. Chừng nào anh còn nhớ điều ác, thì điều ác còn sống. Hãy để nó chết đi, khi ấy linh hồn anh sẽ được sống yên ổn.
Ti-mô-phây nghe tôi nói, siết chặt tay tôi, nhưng không nói nhiều, chỉ nói ngắn gọn:
— Tôi không thể. Thôi đi anh, tôi nặng lòng lắm.
Tôi thôi không nói nữa. Tôi biết anh đau ở chỗ nào, nên im lặng. Thời gian trôi, lại sáu năm nữa qua đi, và suốt thời gian ấy tôi để ý anh, thấy anh vẫn đau khổ, và nếu cứ để anh hoàn toàn tự do, nếu anh gặp được ông chú ở đâu đó, thì anh sẽ quên hết Kinh Thánh mà làm tôi tớ cho con quỷ báo thù. Nhưng trong lòng tôi vẫn yên, vì tôi thấy ở đây có ngón tay của Chúa. Đã bắt đầu thấp thoáng một ngón tay, thì chắc rồi sẽ thấy cả bàn tay. Chúa sẽ cứu bạn tôi khỏi tội giận dữ. Nhưng chuyện ấy xảy ra thật lạ lùng.
Bấy giờ Ti-mô-phây đã sống ở chỗ chúng tôi năm thứ mười sáu, đã cưới vợ được mười lăm năm. Vậy là anh đã ba mươi bảy hay ba mươi tám tuổi, có ba con, sống rất sung túc. Anh đặc biệt yêu hoa hồng, trồng rất nhiều, cả trên bậu cửa sổ lẫn trong khu vườn nhỏ trước nhà. Cả khoảng đất trước nhà phủ kín hoa hồng, và nhờ mùi thơm của chúng mà cả ngôi nhà ngào ngạt.
Ti-mô-phây có thói quen, cứ lúc mặt trời gần lặn là anh nhất định ra khu vườn nhỏ, tự tay chăm sóc những khóm hồng, rồi ngồi trên chiếc ghế nhỏ đọc sách. Theo tôi biết, anh còn hay cầu nguyện ở đó nữa.
Đúng như thế, có một lần anh ra đây, mang theo cuốn Phúc Âm. Anh ngắm nghía những khóm hồng, rồi ngồi xuống, mở sách ra đọc. Anh đọc tới chỗ Chúa Ki-tô tới nhà một người Pha-ri-sêu làm khách, và người ta chẳng đưa cho Người lấy chút nước để rửa chân. Ti-mô-phây thấy tủi thay cho Chúa không chịu nổi, thương Người lắm. Thương đến nỗi anh khóc vì cách ông chủ nhà giàu có kia đã đối xử với vị khách thánh thiện. Đúng vào giây phút ấy, phép lạ bắt đầu, mà Ti-mô-sa kể với tôi thế này:
— Tôi nhìn quanh mình, anh nói, mà nghĩ: mình thì có đủ đầy sung túc đến thế này, còn Chúa của mình thì đã đi trong cảnh nghèo nàn, nhục nhã như thế… Và nước mắt tràn đầy mắt tôi, chớp mãi không ráo. Rồi mọi thứ quanh tôi thành màu hồng, cả chính nước mắt tôi cũng hồng. Rồi như trong cơn mê hay cơn ngất, tôi kêu lên: “Lạy Chúa! Nếu Người tới nhà con, con sẽ dâng cả chính mình con cho Người.”
Thì bỗng đâu đó, như trong một làn gió màu hồng, có tiếng đáp lại phả tới:
— Ta sẽ tới!
Ti-mô-phây run rẩy chạy tới nhà tôi, hỏi:
— Anh hiểu chuyện này thế nào: chẳng lẽ Chúa lại có thể tới nhà tôi làm khách?
Tôi đáp:
— Chuyện ấy, anh ạ, vượt quá sự hiểu của tôi. Về chuyện ấy, trong Kinh Thánh có thấy gì không?
Ti-mô-phây nói:
— Trong Kinh Thánh có câu: “Chúa Ki-tô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một.” Tôi không dám không tin.
— Thế thì, tôi nói, anh cứ tin.
— Tôi sẽ cho đặt sẵn một bộ bát đĩa cho Người trên bàn mỗi ngày.
Tôi nhún vai, đáp:
— Anh đừng hỏi tôi, anh tự xem điều gì đẹp lòng Người nhất. Tuy vậy, tôi cũng chẳng thấy đặt bát đĩa cho Người là xúc phạm Người, có điều như thế có kiêu ngạo quá không?
— Có câu, anh nói, “Người này đón nhận kẻ tội lỗi, và ăn uống với người thu thuế.”
— Thì cũng có câu, tôi đáp, “Lạy Chúa! Con không đáng để Chúa vào nhà con.” Tôi thích câu ấy.
Ti-mô-phây nói:
— Anh không biết đâu.
— Thôi được, cứ theo ý anh.
Ti-mô-phây bảo vợ, từ ngày hôm sau, đặt thêm một chỗ ngồi bên bàn ăn. Năm người ngồi vào bàn, anh, vợ và ba đứa con, thì bao giờ cũng có một chỗ thứ sáu, chỗ danh dự ở đầu bàn, trước nó là một chiếc ghế bành lớn.
Người vợ tò mò: cái gì đây, để làm gì, cho ai? Nhưng Ti-mô-phây không nói hết với vợ. Với vợ và người khác, anh chỉ nói rằng làm thế là vì lời hứa trong lòng anh, “để dành cho người khách quý nhất”. Còn người khách thật sự là ai thì ngoài anh với tôi chẳng ai biết.
Ti-mô-phây chờ Đấng Cứu Thế vào ngày hôm sau, sau khi nghe lời ấy trong khu vườn hồng, rồi chờ vào ngày thứ ba, rồi vào ngày chủ nhật đầu tiên, nhưng những lần chờ ấy đều không thành. Rồi những ngày chờ đợi còn kéo dài nữa: lễ nào Ti-mô-phây cũng chờ Chúa tới làm khách, mỏi mòn vì lo lắng, nhưng không hề nhụt lòng tin rằng Chúa sẽ giữ lời hứa, sẽ tới. Ti-mô-phây mở lòng với tôi rằng: “Ngày nào tôi cũng cầu: Vâng, xin Chúa hãy đến! Và tôi chờ, nhưng chẳng nghe lời đáp mà tôi mong mỏi: Vâng, Ta sắp đến!”
Tôi không biết trả lời Ti-mô-phây thế nào, và nhiều lúc tôi nghĩ bạn tôi sinh kiêu ngạo, và vì thế mà giờ đây vướng vào một ảo tưởng uổng công. Tuy vậy, sự quan phòng của Chúa lại khác.
Lễ Giáng sinh tới. Mùa đông rét dữ. Đêm trước lễ, Ti-mô-phây tới nhà tôi, nói:
— Người anh em thân mến, ngày mai tôi sẽ được đón Chúa.
Tôi đã từ lâu không biết đáp sao trước những lời như thế, nên lúc ấy chỉ hỏi:
— Anh lấy gì để chắc chắn như vậy?
— Hôm nay, anh đáp, tôi vừa cầu: “Vâng, xin Chúa hãy đến!”, thì cả linh hồn tôi chao lên, và trong đó như có tiếng kèn vang lên: “Vâng, Ta sắp đến!” Ngày mai là lễ Giáng sinh thánh của Người, chẳng lẽ Người lại không tới vào ngày ấy? Anh hãy tới nhà tôi cùng cả nhà, vì linh hồn tôi đang run lên vì sợ.
Tôi nói:
— Anh Ti-mô-sa! Anh biết là tôi chẳng biết phán xét gì về những chuyện ấy, và tôi cũng chẳng mong được thấy Chúa, vì tôi là người tội lỗi. Nhưng anh là người nhà của chúng tôi, chúng tôi sẽ tới. Có điều, nếu anh tin chắc đến thế mà chờ một vị khách lớn đến thế, thì anh đừng mời bạn bè anh, mà hãy họp cho Người một đám bạn bè mà Người ưa thích.
— Tôi hiểu rồi, anh đáp, tôi sẽ sai ngay những người làm của tôi và con trai tôi đi khắp các làng, mời tất cả những người bị đày, những ai đang túng quẫn, đang khổ sở. Chúa mà tỏ lòng thương xót lạ lùng mà tới, thì Người sẽ thấy mọi thứ đều theo đúng lời răn.
Lời ấy của anh tôi cũng không thích.
— Anh Ti-mô-phây, tôi nói, ai mà sắp đặt được mọi thứ đúng theo lời răn? Điều này mình không hiểu, điều kia mình quên mất, điều nọ mình không làm nổi. Nhưng nếu tất cả những điều ấy đang “vang kèn” mạnh mẽ đến thế trong lòng anh, thì cứ để mọi sự xảy ra như anh được tỏ cho biết. Nếu Chúa tới, thiếu gì Người sẽ bù vào, và nếu anh quên mất ai mà Người cần, thì chính Người sẽ dẫn người còn thiếu ấy tới.
Hôm Giáng sinh chúng tôi tới nhà Ti-mô-phây cả nhà, hơi muộn, như người ta vẫn tới dự bữa tiệc có mời. Anh dặn thế để đợi cho đủ mọi người. Chúng tôi thấy toà nhà lớn của anh đầy người, đủ hạng người chỗ chúng tôi, dân Xi-bi-ri, dân bị đày. Đàn ông, đàn bà, cả lũ trẻ con, đủ mọi thân phận, đủ mọi miền: cả người Nga, cả người Ba Lan, cả người xứ Phần theo đạo khác. Ti-mô-phây đã họp tất cả những người định cư nghèo khổ, những người từ lúc tới đây vẫn chưa gây dựng nổi cơ ngơi. Bàn lớn trải khăn, đủ mọi thứ cần có. Những chị làm thuê chạy tới chạy lui, bày nước bánh mì chua và những đĩa bánh nướng. Còn ngoài sân trời đã chạng vạng, mà cũng chẳng còn ai để chờ nữa: những người đi mời đều đã về cả, khách cũng chẳng còn từ đâu tới được, vì ngoài trời đã nổi bão tuyết, gió quất như ngày tận thế.
Chỉ có một vị khách là mãi không thấy tới, vị khách quý hơn tất cả.
Đã phải thắp đèn và ngồi vào bàn, vì trời đã tối hẳn, cả chúng tôi đều đang chờ trong cảnh nhập nhoạng, chỉ có chút ánh sáng nhỏ từ những ngọn đèn dầu trước các bức ảnh thánh.
Ti-mô-phây lúc đi lúc ngồi, rõ ràng đang lo lắng nặng nề. Mọi niềm hy vọng của anh đã lung lay: giờ thì rõ là “vị khách lớn” sẽ không tới nữa.
Thêm một phút trôi qua, Ti-mô-phây thở dài, buồn bã nhìn tôi, nói:
— Anh thân mến ơi, tôi thấy là hoặc Chúa muốn để tôi bị chê cười, hoặc là anh nói đúng: tôi đã không biết họp đủ những người cần có để đón Người. Mọi sự xin theo ý Chúa: ta cầu nguyện rồi ngồi vào bàn.
Tôi đáp:
— Anh đọc kinh đi.
Anh đứng trước bức ảnh thánh, đọc to: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, rồi tiếp: “Chúa Ki-tô giáng sinh, hãy ngợi khen, Chúa Ki-tô từ trời xuống, hãy ra đón, Chúa Ki-tô ở trên mặt đất…”
Anh vừa dứt lời thì bỗng có cái gì đập vào tường từ phía sân mạnh khủng khiếp, đến nỗi mọi thứ đều rung chuyển, rồi lập tức có tiếng ồn chạy qua gian ngoài rộng, và bỗng cánh cửa vào gian phòng tự mở toang.
Tất cả mọi người có mặt, kinh hãi khôn tả, dạt cả vào một góc, nhiều người ngã xuống, chỉ có vài người gan dạ nhất là nhìn ra cửa. Còn ở cửa, trên ngưỡng cửa, có một ông già già lắm, già lắm, mặc toàn đồ rách rưới, run lẩy bẩy, hai tay bám chặt vào khung cửa để khỏi ngã. Còn từ phía sau ông, từ gian ngoài vốn tối om, một thứ ánh sáng hồng khôn tả toả ra, và qua vai ông già, một bàn tay trắng như tuyết chìa vào trong phòng, cầm một chiếc đèn đất dài có ngọn lửa, giống như cây đèn người ta vẫn vẽ trong tranh cuộc trò chuyện với ông Ni-cô-đê-mô… Gió và bão tuyết ngoài sân quất vào, mà ngọn lửa không hề lay động… Ngọn lửa ấy soi lên mặt ông già và lên bàn tay ông, và trên tay ông đập vào mắt một vết sẹo cũ đã liền, trắng bệch vì giá rét.
Ti-mô-phây thấy thế, kêu lên:
— Lạy Chúa! Con thấy rồi, và con xin đón người này nhân danh Chúa, còn chính Chúa xin đừng vào nhà con, con là người độc ác và tội lỗi.
Nói rồi anh phủ phục mặt sát đất. Tôi cũng ngã xuống đất cùng anh, vì vui mừng thấy anh đã được lay động bởi sự khiêm nhường thật sự của người có đạo, và tôi kêu to lên với tất cả mọi người:
— Hãy nghe đây: Chúa Ki-tô đang ở giữa chúng ta!
Và tất cả đáp:
— A-men, nghĩa là thật như vậy.
Bấy giờ người ta mang đèn tới. Tôi và Ti-mô-phây ngẩng dậy khỏi sàn, thì bàn tay trắng đã không còn thấy nữa, chỉ còn lại ông già.
Ti-mô-phây đứng dậy, nắm lấy cả hai tay ông già, mời ông ngồi vào chỗ đầu tiên. Còn ông già ấy là ai, có lẽ chính các bạn cũng đã đoán ra: đó là kẻ thù của Ti-mô-phây, người chú đã làm anh khánh kiệt. Ông nói vắn tắt rằng mọi thứ của ông đã tan thành tro bụi: ông mất cả gia đình lẫn của cải, và từ lâu ông đi khắp nơi để tìm người cháu xin tha thứ. Ông vừa khao khát điều ấy, vừa sợ cơn giận của Ti-mô-phây, rồi giữa trận bão tuyết này ông lạc đường, rét cóng, chỉ còn mong được chết.
— Nhưng bỗng, ông nói, có một người không biết là ai toả sáng quanh tôi mà bảo: “Hãy đi, hãy sưởi ấm ở chỗ của Ta và ăn từ chén của Ta”, rồi nắm lấy cả hai tay tôi, và tôi đã đứng ở đây, chính tôi cũng không biết từ đâu tới.
Còn Ti-mô-phây đáp lại trước mặt mọi người:
— Chú ơi, cháu biết người dẫn đường của chú: đó là Chúa, Người đã phán: “Kẻ thù của ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống.” Chú hãy ngồi vào chỗ đầu tiên của nhà cháu, hãy ăn, hãy uống để tôn vinh Người, và hãy ở nhà cháu, muốn gì cứ làm, cho tới hết đời.
Từ đó ông già ở lại luôn với Ti-mô-phây, và lúc lâm chung đã chúc phúc cho anh, còn Ti-mô-phây thì mãi mãi được bình yên trong lòng.
Người nông dân ấy đã được dạy như thế, để dựng trong tim mình một chiếc máng cỏ cho Chúa Ki-tô giáng sinh trên mặt đất. Và trái tim nào cũng có thể thành chiếc máng cỏ ấy, nếu nó làm theo lời răn: “Hãy yêu kẻ thù của các ngươi, hãy làm ơn cho kẻ làm hại các ngươi.” Chúa Ki-tô sẽ tới trái tim ấy như tới một gian phòng đã dọn sẵn, và sẽ ở lại đó.
Vâng, xin Chúa hãy đến, vâng, xin Chúa mau đến!
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn