Mới đây tôi có dịp tới thành phố Xanh Lu-i. Trên đường đi về miền Tây, sau khi đổi tàu ở Te-rơ Hốt, bang In-đi-a-na, có một quý ông bước lên ở một ga xép rồi ngồi xuống cạnh tôi. Ông chừng bốn mươi lăm, có khi năm mươi tuổi, trông hiền lành, phúc hậu. Chúng tôi trò chuyện vui vẻ về đủ thứ chuyện, có lẽ tới cả tiếng đồng hồ, và tôi thấy ông vô cùng thông minh, nói chuyện rất có duyên.
Biết tôi từ thủ đô Oa-sinh-tơn tới, ông lập tức hỏi han về các nhân vật tai to mặt lớn, về chuyện trong Quốc hội. Chẳng mấy chốc tôi nhận ra mình đang nói chuyện với một người rành rẽ mọi ngõ ngách của đời sống chính trường ở thủ đô, đến cả cung cách, thói quen, thủ tục làm việc của các ông thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ trong các phòng họp của cơ quan lập pháp quốc gia.
Một lúc sau, có hai người dừng lại gần chỗ chúng tôi trong chốc lát, và một người nói với người kia:
“Ha-rít này, nếu cậu làm giúp tớ việc ấy, tớ sẽ không bao giờ quên ơn cậu đâu.”
Mắt người bạn đồng hành mới của tôi sáng lên vui vẻ. Tôi nghĩ hẳn mấy lời ấy đã gợi lại một kỷ niệm đẹp. Rồi gương mặt ông chùng xuống, trầm ngâm, gần như u ám. Ông quay sang tôi:
“Để tôi kể anh nghe một câu chuyện. Để tôi kể anh nghe một chương bí mật trong đời tôi, một chương mà từ khi sự việc xảy ra tới giờ tôi chưa từng nhắc tới. Anh hãy kiên nhẫn nghe, và hứa với tôi là không ngắt lời nhé.”
Tôi hứa sẽ không ngắt lời, và ông kể lại cuộc phiêu lưu kỳ lạ sau đây, khi thì sôi nổi, khi thì buồn bã, nhưng lúc nào cũng đầy xúc cảm và thành thật.
Chuyện của người lạ như sau.
“Ngày mười chín tháng mười hai năm một nghìn tám trăm năm mươi ba, tôi rời Xanh Lu-i trên chuyến tàu đêm đi Si-ca-gô. Tính cả thảy chỉ có hai mươi bốn hành khách. Không có phụ nữ, không có trẻ con. Ai cũng vui vẻ phấn chấn, và chẳng bao lâu mọi người đã quen thân nhau. Chuyến đi hứa hẹn sẽ vui. Tôi nghĩ chẳng ai trong đoàn có chút linh cảm mơ hồ nào về những cơn kinh hoàng mà chúng tôi sắp phải trải qua.
Mười một giờ đêm, tuyết bắt đầu rơi dày. Rời ngôi làng nhỏ Uen-đơn được một quãng, chúng tôi đi vào vùng thảo nguyên mênh mông hoang vắng, trải dài hàng chục hàng chục dặm không một mái nhà, mãi tận tới khu định cư Giu-bi-li. Gió không bị cây cối, đồi núi hay thậm chí một hòn đá lạc nào cản lối, rít lên dữ dội ngang qua vùng hoang mạc bằng phẳng, lùa tuyết bay mù mịt như bọt nước tung lên từ những ngọn sóng bạc đầu trên biển động. Tuyết dày lên rất nhanh. Tàu chạy chậm dần, và chúng tôi biết đầu máy đang cày qua lớp tuyết, mỗi lúc một khó khăn hơn. Thực ra có những lúc nó gần như đứng hẳn, giữa những đống tuyết khổng lồ chất ngang đường ray như những nấm mồ của người khổng lồ. Câu chuyện bắt đầu thưa dần. Sự vui vẻ nhường chỗ cho nỗi lo nghiêm trọng. Ý nghĩ có thể bị giam giữa tuyết, trên thảo nguyên lạnh lẽo, cách nhà gần nhất năm mươi dặm, hiện lên trong đầu mọi người, và đè nặng lên tinh thần ai nấy.
Hai giờ sáng, tôi đang ngủ chập chờn thì choàng tỉnh vì mọi chuyển động quanh mình bỗng dừng hẳn. Sự thật kinh khủng loé lên ngay trong đầu tôi: chúng tôi đã bị kẹt trong đống tuyết! ‘Tất cả ra cứu tàu!’ Người nào cũng bật dậy làm theo. Mọi người lao ra ngoài, vào đêm đen hoang dại, vào bóng tối đặc quánh, vào tuyết cuộn như sóng và gió bão quất ràn rạt, vì ai cũng biết rằng lúc này để mất một khoảnh khắc là có thể đưa cả bọn tới chỗ chết. Xẻng, tay không, ván gỗ, bất cứ thứ gì, mọi thứ có thể xúc được tuyết đều được đem ra dùng ngay. Đó là một cảnh tượng kỳ dị: một nhóm nhỏ những con người cuống cuồng vật lộn với những đống tuyết, nửa người chìm trong bóng tối đen kịt, nửa người dưới ánh sáng gay gắt của ngọn đèn pha đầu máy.
Chỉ một giờ ngắn ngủi cũng đủ cho thấy mọi cố gắng của chúng tôi hoàn toàn vô ích. Chúng tôi vừa xúc xong một đống tuyết thì cơn bão đã chất thêm cả chục đống khác chặn đường. Tệ hơn nữa, người ta phát hiện ra rằng cú xung phong cuối cùng của đầu máy vào kẻ thù đã làm gãy trục bánh xe lái! Dẫu đường có thông thoáng trước mặt, chúng tôi cũng đành bó tay. Chúng tôi trở vào toa, mệt nhoài, lòng buồn rười rượi. Chúng tôi quây quanh lò sưởi, bàn bạc nghiêm túc về tình cảnh của mình.
Chúng tôi không có chút lương thực nào. Đó là nỗi khổ chính. Chúng tôi không thể chết cóng, vì toa than còn rất nhiều củi. Đó là niềm an ủi duy nhất. Cuộc thảo luận cuối cùng kết thúc bằng việc chấp nhận kết luận đáng nản lòng của ông trưởng tàu: ai cố đi bộ năm mươi dặm xuyên qua thứ tuyết như thế thì chỉ có chết. Chúng tôi không thể đi gọi cứu viện, mà có gọi được thì cứu viện cũng chẳng tới. Chúng tôi phải chịu đựng, và chờ đợi, kiên nhẫn được chừng nào hay chừng ấy, hoặc người tới cứu, hoặc chết đói! Tôi nghĩ khi những lời ấy được nói ra, đến trái tim gan góc nhất ở đó cũng thấy lạnh đi trong giây lát.
Chưa tới một giờ sau, câu chuyện trong toa chỉ còn là tiếng rì rầm khe khẽ đây đó, chập chờn giữa những đợt gió lúc nổi lúc lặng. Đèn mờ dần. Phần lớn những kẻ bị bỏ rơi ngồi thu mình giữa những cái bóng lập loè để suy nghĩ, để quên đi hiện tại nếu có thể, để ngủ nếu được.
Cái đêm dài vô tận ấy, mà với chúng tôi thì đúng là vô tận thật, cuối cùng cũng lê hết những giờ chậm chạp của nó, và bình minh xám lạnh ló lên ở phía đông. Trời sáng dần, hành khách bắt đầu cựa quậy, có dấu hiệu sống, người này rồi người khác. Ai nấy lần lượt đẩy vành mũ sụp khỏi trán, duỗi tay chân cứng đờ, liếc ra ngoài cửa sổ nhìn cảnh vật ảm đạm. Ảm đạm thật! Không một sinh vật nào, không một mái nhà nào, chẳng có gì ngoài một hoang mạc trắng mênh mông. Những tấm tuyết bị gió cuốn lên, trôi dạt bên này bên kia, một thế giới những bông tuyết xoáy tít che khuất cả bầu trời.
Suốt ngày chúng tôi lừ đừ quanh các toa, ít nói, nghĩ nhiều. Lại một đêm dài lê thê buồn tẻ, và cơn đói.
Lại một bình minh. Lại một ngày im lặng, buồn rầu, đói mòn người, vô vọng ngóng trông người tới cứu mà chẳng thể tới. Một đêm ngủ trằn trọc, mơ toàn tiệc tùng. Thức dậy thì cồn cào vì đói.
Ngày thứ tư tới rồi qua. Rồi ngày thứ năm! Năm ngày bị giam cầm khủng khiếp! Một cơn đói man dại hiện lên trong mọi cặp mắt. Trong đó có một dấu hiệu mang ý nghĩa ghê rợn, báo trước một điều gì đó đang mơ hồ thành hình trong mọi trái tim, một điều mà chưa miệng lưỡi nào dám nói thành lời.
Ngày thứ sáu trôi qua. Ngày thứ bảy rạng lên trên một đám người hốc hác, tiều tuỵ, tuyệt vọng nhất từng đứng dưới bóng tử thần. Đến lúc phải nói ra rồi! Cái điều đã lớn dần trong mọi trái tim, cuối cùng đã sẵn sàng bật ra trên mọi đôi môi! Sức chịu đựng của con người đã bị vắt kiệt tới cùng, nó phải đầu hàng. Ông Ri-sớt Gát-xtơn, người bang Min-nê-xô-ta, cao lêu đêu, gầy như xác chết, mặt tái nhợt, đứng dậy. Ai cũng biết ông sắp nói gì. Ai cũng chuẩn bị tinh thần. Mọi cảm xúc, mọi vẻ kích động đều bị nén xuống. Trong những cặp mắt mới đây còn hoang dại, giờ chỉ còn một vẻ nghiêm trang điềm tĩnh, trầm ngâm.
‘Thưa các quý ông, không thể trì hoãn thêm được nữa! Đã tới lúc rồi! Chúng ta phải quyết định xem ai trong chúng ta sẽ chết để làm thức ăn cho những người còn lại!’
Ông Giôn Uy-li-am, người bang I-li-noi, đứng dậy nói: ‘Thưa các quý ông, tôi xin đề cử mục sư Giêm Xoi-ơ, người bang Te-nét-xi.’
Ông Uy-li-am A-đam, người bang In-đi-a-na, nói: ‘Tôi xin đề cử ông Đa-ni-en Xlốt, người Niu Oóc.’
Ông Sác-lơ Lang-đơn nói: ‘Tôi xin đề cử ông Xa-mu-en Bô-en, người Xanh Lu-i.’
Ông Xlốt nói: ‘Thưa các quý ông, tôi xin rút lui, nhường cho ông Giôn Van Nốt-xtran con, người bang Niu Giơ-xi.’
Ông Gát-xtơn nói: ‘Nếu không ai phản đối thì nguyện vọng của quý ông đây sẽ được chấp thuận.’
Ông Van Nốt-xtran phản đối, nên đơn xin rút của ông Xlốt bị bác. Hai ông Xoi-ơ và Bô-en cũng xin rút, và cũng bị bác với cùng lý do.
Ông Ba-xcơm, người bang Ô-hai-ô, nói: ‘Tôi đề nghị khép lại việc đề cử, và hội nghị tiến hành bầu bằng phiếu kín.’
Ông Xoi-ơ nói: ‘Thưa các quý ông, tôi tha thiết phản đối cách làm việc này. Nó sai quy cách và không đứng đắn về mọi mặt. Tôi xin đề nghị huỷ bỏ ngay, rồi chúng ta bầu ra một chủ tọa và các thư ký giúp việc cho đàng hoàng, sau đó mới có thể bàn tiếp công việc trước mắt một cách sáng suốt.’
Ông Ben, người bang Ai-ô-oa, nói: ‘Thưa các quý ông, tôi phản đối. Đây không phải lúc câu nệ hình thức và nghi lễ. Đã hơn bảy ngày nay chúng ta không có gì ăn. Mỗi phút chúng ta phí vào những cuộc bàn cãi vô ích là nỗi khổ lại tăng thêm. Tôi hài lòng với những người đã được đề cử, tôi tin là mọi quý ông có mặt ở đây cũng vậy, và riêng tôi, tôi không hiểu tại sao chúng ta lại không tiến hành bầu ngay lập tức một hay vài vị trong số đó. Tôi muốn đưa ra một nghị quyết...’
Ông Gát-xtơn nói: ‘Nghị quyết ấy sẽ bị phản đối, và theo điều lệ thì phải để lại một ngày, như thế lại gây ra chính cái sự chậm trễ mà ông muốn tránh. Quý ông bang Niu Giơ-xi...’
Ông Van Nốt-xtran nói: ‘Thưa các quý ông, tôi là người lạ giữa các ông. Tôi không hề tìm kiếm cái vinh dự mà các ông đã ban cho tôi, và tôi cảm thấy ngại ngùng...’
Ông Moóc-gan, người bang A-la-ba-ma, ngắt lời: ‘Tôi đề nghị biểu quyết ngay.’
Đề nghị được thông qua, và dĩ nhiên mọi tranh luận tiếp theo bị chặn lại. Đề nghị bầu ban điều hành được thông qua. Theo đó, ông Gát-xtơn được chọn làm chủ tọa, ông Blây làm thư ký, các ông Hôn-cơm, Đai-ơ và Bôn-uyn làm uỷ ban đề cử, còn ông Hao-lân làm người lo hậu cần, giúp uỷ ban lựa chọn.
Rồi hội nghị nghỉ giải lao nửa giờ, có vài cuộc vận động riêng. Tiếng búa gõ vang lên, hội nghị họp lại. Uỷ ban báo cáo, đề cử các ông Gióoc Phơ-gơ-xơn người bang Ken-tắc-ki, Lu-xi-en Hơ-man người bang Lu-i-di-a-na, và Mét-xích người bang Cô-lô-ra-đô làm ứng cử viên. Báo cáo được chấp nhận.
Ông Rô-giơ, người bang Mít-xu-ri, nói: ‘Thưa ngài chủ tọa, nay bản báo cáo đã được trình lên hội nghị đúng thủ tục, tôi xin đề nghị sửa đổi: thay tên ông Hơ-man bằng tên ông Lu-xi-út Ha-rít người Xanh Lu-i, người mà tất cả chúng ta đều biết tiếng và kính trọng. Tôi không muốn bị hiểu lầm là đang bôi nhọ chút nào nhân cách và địa vị cao quý của quý ông bang Lu-i-di-a-na, tuyệt nhiên không phải vậy. Tôi kính trọng và quý mến ông ấy chẳng kém bất kỳ quý ông nào có mặt ở đây. Nhưng không ai trong chúng ta có thể nhắm mắt làm ngơ trước sự thật rằng trong tuần lễ nằm đây, ông ấy đã sụt cân nhiều hơn bất cứ ai. Không ai trong chúng ta có thể nhắm mắt làm ngơ trước sự thật rằng uỷ ban đã sao nhãng nhiệm vụ, hoặc vì cẩu thả, hoặc vì một lỗi còn nghiêm trọng hơn, khi đưa ra cho chúng ta bỏ phiếu một quý ông mà dù động cơ của ông có trong sáng tới đâu, thì thực tình chất bổ trong người ông ấy ít hơn...’
Chủ tọa nói: ‘Mời quý ông bang Mít-xu-ri ngồi xuống. Chủ tọa không thể cho phép nghi ngờ sự liêm chính của uỷ ban, trừ khi theo đúng trình tự quy định trong điều lệ. Hội nghị quyết định thế nào về đề nghị của quý ông đây?’
Ông Ha-li-đây, người bang Vớc-gi-ni-a, nói: ‘Tôi xin đề nghị sửa đổi thêm bản báo cáo, thay ông Mét-xích bằng ông Hác-vi Đê-vít người bang Ô-rê-gơn. Có thể các quý ông sẽ cho rằng những gian khổ thiếu thốn của cuộc sống nơi biên cương đã khiến ông Đê-vít trở nên dai. Nhưng thưa các quý ông, đây có phải lúc bắt bẻ chuyện dai hay không dai? Đây có phải lúc kén cá chọn canh vì những chuyện vặt? Đây có phải lúc tranh cãi những điều vụn vặt chẳng đáng gì? Không, thưa các quý ông, cái chúng ta cần là khối lượng. Chất, sức nặng, khối lượng, đó mới là những yêu cầu tối thượng lúc này, chứ không phải tài năng, không phải thiên tài, không phải học vấn. Tôi giữ nguyên đề nghị của mình.’
Ông Moóc-gan nói, giọng kích động: ‘Thưa ngài chủ tọa, tôi phản đối quyết liệt nhất bản sửa đổi này. Quý ông bang Ô-rê-gơn đã già, hơn nữa ông ấy chỉ to về xương chứ không to về thịt. Tôi xin hỏi quý ông bang Vớc-gi-ni-a: cái chúng ta cần là nước súp hay là món ăn chắc dạ? Ông định lừa chúng ta bằng những cái bóng ư? Ông định chế giễu nỗi khổ của chúng ta bằng một bóng ma xứ Ô-rê-gơn ư? Tôi xin hỏi ông, ông có dám nhìn những gương mặt lo âu quanh mình, có dám nhìn sâu vào những cặp mắt buồn rầu của chúng tôi, có dám lắng nghe nhịp đập của những trái tim đang chờ mong của chúng tôi, mà vẫn còn tống cho chúng tôi cái của giả đói meo này không? Tôi xin hỏi ông, ông có dám nghĩ tới cảnh ngộ hoang tàn, những khổ đau đã qua, tương lai đen tối của chúng tôi, mà vẫn nhẫn tâm dúi cho chúng tôi cái đồ đổ nát này, cái đống tàn tạ này, cái trò lừa đảo lảo đảo này, cái gã lang thang cằn cỗi, khô héo, chẳng còn chút nhựa sống nào, đến từ bờ biển khắc nghiệt của Ô-rê-gơn không? Không bao giờ!’
Cả toa vỗ tay rầm rầm.
Sau một cuộc tranh luận nảy lửa, bản sửa đổi được đưa ra biểu quyết, và bị bác. Ông Ha-rít được đưa vào thay theo bản sửa đổi thứ nhất. Rồi cuộc bỏ phiếu bắt đầu. Năm lượt bỏ phiếu mà chưa chọn được ai. Tới lượt thứ sáu, ông Ha-rít trúng cử, tất cả đều bỏ phiếu cho ông, trừ chính ông. Sau đó có người đề nghị thông qua kết quả bầu bằng tiếng hoan hô nhất trí, nhưng đề nghị này bị bác, vì ông Ha-rít lại bỏ phiếu chống chính mình.
Ông Rát-uây đề nghị hội nghị xét tiếp những ứng cử viên còn lại, và tiến hành bầu cho bữa sáng. Đề nghị được thông qua.
Lượt bỏ phiếu đầu tiên hoà nhau. Một nửa ủng hộ một ứng cử viên vì ông còn trẻ, một nửa ủng hộ ứng cử viên kia vì ông to con hơn. Chủ tọa bỏ lá phiếu quyết định cho người sau, tức ông Mét-xích. Quyết định này gây ra khá nhiều bất mãn trong đám bạn bè của ông Phơ-gơ-xơn, ứng cử viên thất cử, và có tiếng bàn tán đòi bỏ phiếu lại. Nhưng giữa lúc ấy, một đề nghị hoãn họp được thông qua, và hội nghị giải tán ngay.
Việc chuẩn bị bữa tối khiến phe Phơ-gơ-xơn quên đi nỗi bất bình của họ một lúc lâu. Rồi khi họ toan bàn lại thì tin vui rằng ông Ha-rít đã sẵn sàng khiến mọi ý nghĩ ấy bay biến theo gió.
Chúng tôi dựng tạm bàn ăn bằng cách kê lưng ghế lên, rồi ngồi xuống với trái tim chan chứa lòng biết ơn, trước bữa tối ngon lành nhất mà mắt chúng tôi được thấy sau bảy ngày đọa đầy. Chúng tôi đã đổi khác biết bao so với chỉ mấy giờ trước đó! Lúc ấy là tuyệt vọng, khổ sở, mắt buồn rười rượi, đói khát, lo âu như lên cơn sốt, liều lĩnh. Giờ đây là biết ơn, thanh thản, một niềm vui sâu tới mức không nói nên lời. Tôi biết đó là giờ phút vui vẻ nhất trong cuộc đời nhiều biến cố của tôi. Gió hú, cuốn tuyết điên cuồng quanh cái nhà tù của chúng tôi, nhưng giờ đây chúng chẳng làm gì được chúng tôi nữa.
Tôi thích Ha-rít. Có lẽ ông ấy có thể được nấu kỹ hơn chút nữa, nhưng tôi xin nói thẳng là chưa có người nào hợp với tôi bằng Ha-rít, hay làm tôi thoả mãn nhiều như thế. Mét-xích cũng khá, dù hơi nặng mùi. Nhưng nói về độ bổ dưỡng thực sự và thớ thịt mềm mại, thì phải là Ha-rít. Mét-xích có những điểm tốt của ông ấy, tôi không định chối, mà cũng không muốn chối, nhưng ông ấy hợp với bữa sáng chẳng hơn gì một xác ướp, thưa anh, chẳng hơn chút nào. Gầy ư? Trời ơi, gầy lắm! Mà dai ư? Ôi, dai lắm! Anh không thể tưởng tượng nổi đâu, anh sẽ không bao giờ tưởng tượng nổi cái gì như thế.”
“Ông định nói với tôi rằng...”
“Xin anh đừng ngắt lời. Sau bữa sáng, chúng tôi bầu một người tên là Uốc-cơ, người Đi-troi, cho bữa tối. Ông ấy rất ngon. Sau này tôi có viết thư nói thế với vợ ông. Ông ấy đáng được mọi lời khen ngợi. Tôi sẽ mãi nhớ Uốc-cơ. Hơi tái một chút, nhưng rất ngon.
Rồi sáng hôm sau, chúng tôi ăn sáng ông Moóc-gan người bang A-la-ba-ma. Đó là một trong những người tuyệt vời nhất mà tôi từng ngồi vào bàn cùng. Đẹp trai, có học, lịch lãm, nói thạo mấy thứ tiếng. Một quý ông hoàn hảo, đúng là một quý ông hoàn hảo, và mọng nước lạ lùng.
Bữa tối, chúng tôi ăn cái ông già xứ Ô-rê-gơn kia, và ông ta đúng là đồ của giả, không còn nghi ngờ gì nữa. Già, xương xẩu, dai nhách, không ai hình dung nổi đâu. Cuối cùng tôi nói: thưa các quý ông, các ông muốn làm gì thì làm, còn tôi sẽ chờ cuộc bầu cử sau. Ông Grai-mơ người bang I-li-noi cũng nói: ‘Thưa các quý ông, tôi cũng sẽ chờ. Khi nào các ông bầu được người nào có điểm đáng giới thiệu, tôi sẽ vui lòng nhập bọn lại.’
Chẳng mấy chốc ai cũng thấy rõ rằng mọi người đều bất mãn với ông Đê-vít xứ Ô-rê-gơn. Thế là, để giữ gìn bầu không khí thiện chí đã ngự trị thật dễ chịu từ khi chúng tôi ăn Ha-rít, người ta tổ chức bầu cử, và kết quả là ông Bê-cơ người bang Gióoc-gi-a được chọn. Ông ấy tuyệt vời!
Thôi thì, sau đó chúng tôi ăn Đu-lít-tơn, rồi Hô-kin, rồi Mác-en-roi, có vài lời phàn nàn về Mác-en-roi vì ông ta thấp bé và gầy quá mức. Rồi Pen-rốt, rồi hai ông Xmít, rồi Bê-li. Bê-li có một chân gỗ, phần ấy coi như mất trắng, nhưng phần còn lại thì ngon. Rồi một cậu bé da đỏ, rồi một anh chơi đàn quay tay, rồi một quý ông tên là Bắc-min-xtơ, một gã lang thang gầy nhom tội nghiệp, ngồi cùng chẳng vui vẻ gì mà ăn sáng cũng chẳng ra gì. Chúng tôi mừng là đã kịp bầu xong cho ông ta trước khi người tới cứu.”
“Vậy là cuối cùng người tới cứu cũng tới, ơn trời?”
“Phải, họ tới vào một buổi sáng trời trong nắng đẹp, ngay sau một cuộc bầu cử. Lần ấy trúng cử là Giôn Mơ-phi, và tôi sẵn lòng làm chứng rằng chưa từng có ai ngon hơn. Nhưng Giôn Mơ-phi được về nhà cùng chúng tôi, trên chuyến tàu tới cứu, và sống tới ngày cưới bà goá Ha-rít...”
“Bà goá của...”
“Bà goá của người trúng cử đầu tiên của chúng tôi. Ông ấy cưới bà ấy, và tới giờ vẫn hạnh phúc, được kính trọng, làm ăn phát đạt. Ôi, cứ như một cuốn tiểu thuyết, thưa anh, cứ như một câu chuyện tình. Tới ga tôi xuống rồi, thưa anh. Tôi phải chào tạm biệt anh. Lúc nào anh thu xếp được thì ghé lại chơi với tôi một hai ngày, tôi rất vui được đón anh. Tôi mến anh, thưa anh. Tôi đã nảy sinh tình cảm với anh. Tôi có thể mến anh như đã mến chính Ha-rít vậy, thưa anh. Chào anh, chúc anh thượng lộ bình an.”
Ông đi rồi. Cả đời tôi chưa bao giờ thấy choáng váng, khổ sở, hoang mang đến thế. Nhưng tận đáy lòng, tôi mừng vì ông đã đi. Dù cung cách ông hiền hoà, giọng ông nhỏ nhẹ, tôi vẫn rùng mình mỗi khi ông đưa cặp mắt thèm thuồng nhìn sang tôi. Và khi nghe nói tôi đã chiếm được cái tình cảm nguy hiểm của ông, rằng tôi đứng gần ngang hàng với cố Ha-rít trong lòng quý mến của ông, thì tim tôi như ngừng đập!
Tôi hoang mang không sao tả nổi. Tôi không nghi ngờ lời ông. Tôi không thể ngờ vực một chi tiết nào trong câu chuyện mang dấu ấn thành thật của sự thật đến thế. Nhưng những chi tiết ghê rợn của nó đè bẹp tôi, làm đầu óc tôi rối tung lên không gỡ nổi. Tôi thấy ông trưởng tàu đang nhìn mình. Tôi hỏi:
“Người ấy là ai vậy?”
“Ông ấy từng là nghị sĩ Quốc hội, một nghị sĩ giỏi. Nhưng có lần ông ấy bị kẹt tàu trong đống tuyết, suýt chết đói. Ông bị tê cóng, đông cứng khắp người, lại kiệt sức vì không có gì ăn, đến mức hai ba tháng sau đó ông ốm liệt giường, mê sảng. Giờ ông ấy khỏi rồi, chỉ có điều mắc chứng ám ảnh một chuyện. Hễ nói tới cái chuyện cũ ấy là ông không dừng lại cho tới khi ăn hết cả toa người mà ông kể. Lẽ ra giờ này ông đã ăn xong cả bọn rồi, chỉ là ông phải xuống ở ga này. Ông thuộc tên bọn họ làu làu như thuộc bảng chữ cái. Khi đã ăn hết mọi người, chỉ còn mỗi mình ông, thì ông bao giờ cũng nói: ‘Rồi tới giờ bầu cử thường lệ cho bữa sáng, vì không có ai ra tranh cử, tôi được bầu đúng thủ tục. Sau đó, vì không ai phản đối, tôi xin từ chức. Thế nên tôi mới ở đây.’”
Tôi thấy nhẹ nhõm không tả xiết khi biết rằng mình vừa chỉ nghe những lời mê sảng vô hại của một người điên, chứ không phải những trải nghiệm có thật của một kẻ ăn thịt người khát máu.
— Hết —
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian