Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Chuyện ma: người khổng lồ hoá đá

của Mark Twain

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 13.095 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tôi thuê một căn phòng rộng ở tít phía…
  2. 2:59Tôi chờ. Một lúc sau tôi thấy một cái…
  3. 5:47Rồi tôi nhận ra phòng tôi đã bị xâm…
  4. 8:31Mọi nỗi khổ sở của tôi tan biến, vì…
  5. 9:37Nhưng vô ích. Tôi chưa kịp chặn anh ta…
  6. 11:41“Nứt nẻ vì rét, khốn nạn lắm. Tôi bị…
  7. 13:58Chưa bao giờ tôi thấy một vẻ xấu hổ,…
  8. 14:54Tôi nghe tiếng bước chân oai vệ của anh…

Tôi thuê một căn phòng rộng ở tít phía trên đại lộ Brốt-uây, trong một toà nhà cổ khổng lồ mà các tầng trên đã bỏ trống hoàn toàn suốt bao năm, cho tới khi tôi tới. Nơi ấy từ lâu đã bị bỏ mặc cho bụi bặm và mạng nhện, cho cô quạnh và im lặng. Cái đêm đầu tiên leo lên chỗ ở của mình, tôi có cảm giác như đang lần mò giữa những nấm mồ, xâm phạm vào chốn riêng tư của người chết. Lần đầu tiên trong đời, một nỗi sợ mê tín xâm chiếm lấy tôi. Khi tôi rẽ qua một góc cầu thang tối om, một sợi mạng nhện vô hình đung đưa tấm lưới mỏng mảnh của nó quệt vào mặt tôi rồi bám chặt ở đó, tôi rùng mình như người vừa gặp ma.

Tới được phòng mình, khoá cửa nhốt cái ẩm mốc và bóng tối ở bên ngoài, tôi mừng lắm. Trong lò sưởi, ngọn lửa đang cháy vui vẻ. Tôi ngồi xuống trước lò, thấy nhẹ nhõm, yên lòng. Tôi ngồi đó hai tiếng đồng hồ, nghĩ về những ngày đã qua, gợi lại những cảnh cũ, gọi về những gương mặt đã gần như quên lãng từ trong màn sương quá khứ. Tôi tưởng như nghe lại những giọng nói đã im bặt từ lâu, mãi mãi, và những bài hát xưa từng quen thuộc mà nay không còn ai hát nữa.

Khi những mơ màng của tôi lắng dần thành một nỗi buồn mỗi lúc một thấm thía, thì tiếng gió rít ngoài kia cũng dịu xuống thành tiếng than van. Tiếng mưa giận dữ quất vào cửa kính nhỏ dần thành tiếng lộp độp êm ả. Rồi từng tiếng động ngoài phố lần lượt lắng xuống, cho tới khi tiếng bước chân vội vã của người lỡ đường cuối cùng tắt hẳn ở đằng xa, không để lại một âm thanh nào.

Lửa đã lụi. Một cảm giác cô đơn len vào lòng tôi. Tôi đứng dậy cởi áo, đi lại trong phòng bằng đầu ngón chân, lén lút làm những việc cần làm, như thể quanh tôi toàn kẻ thù đang ngủ, mà đánh thức chúng dậy thì sẽ mất mạng. Tôi trùm chăn nằm trên giường, lắng nghe tiếng mưa, tiếng gió, tiếng cánh cửa chớp đâu đó cót két khe khẽ, cho tới khi những âm thanh ấy ru tôi vào giấc ngủ.

Tôi ngủ say, nhưng ngủ được bao lâu thì tôi không biết. Bỗng nhiên tôi thấy mình tỉnh giấc, lòng run rẩy chờ đợi một điều gì đó. Mọi thứ đều lặng im. Tất cả, trừ trái tim tôi, tôi nghe rõ nó đập.

Rồi chăn bắt đầu từ từ tuột dần về phía cuối giường, như thể có ai đang kéo! Tôi không cựa quậy nổi, không nói được. Tấm chăn vẫn thong thả tuột đi, cho tới khi ngực tôi trống trơn. Tôi cố hết sức chộp lấy nó, kéo trùm lên đầu. Tôi chờ, lắng nghe, chờ. Lại một lần nữa cái lực kéo đều đều ấy bắt đầu, và lại một lần nữa tôi nằm đờ ra suốt một thế kỷ những giây phút lê thê, cho tới khi ngực tôi lại trần trụi. Cuối cùng tôi gom hết sức lực, giật chăn về chỗ cũ, nắm chặt lấy.

Tôi chờ. Một lúc sau tôi thấy một cái giật khẽ, tôi nắm chặt thêm. Cái giật mạnh dần lên thành một sức kéo đều, mỗi lúc một mạnh, mạnh hơn nữa. Tay tôi tuột ra, và lần thứ ba tấm chăn trượt đi. Tôi rên lên. Từ phía cuối giường vọng lại một tiếng rên đáp lời! Mồ hôi lấm tấm trên trán tôi. Tôi chết nhiều hơn sống.

Rồi tôi nghe một tiếng bước chân nặng nề trong phòng, tôi tưởng như bước chân của một con voi, chẳng giống bước chân người chút nào. Nhưng nó đang đi xa khỏi tôi, thế cũng đỡ. Tôi nghe nó tới gần cửa, đi ra ngoài mà chẳng hề động tới then cài hay ổ khoá, rồi lang thang dọc những hành lang ảm đạm, đè lên sàn nhà, lên xà nhà kêu cót két mỗi khi nó bước qua. Rồi im lặng lại ngự trị.

Khi cơn hoảng loạn đã lắng xuống, tôi tự nhủ: “Mơ thôi. Chỉ là một cơn ác mộng ghê tởm.” Tôi cứ nằm nghĩ đi nghĩ lại cho tới khi tự thuyết phục được mình rằng đó là mơ. Một tiếng cười nhẹ nhõm làm môi tôi giãn ra, và tôi lại thấy vui. Tôi trở dậy bật đèn. Thấy ổ khoá và then cài vẫn y như lúc tôi để, một tiếng cười yên lòng nữa trào lên trong lòng, lăn tăn trên môi tôi. Tôi lấy tẩu ra châm, vừa ngồi xuống trước lò sưởi thì cái tẩu rơi khỏi những ngón tay rã rời của tôi, máu trên má tôi rút sạch, hơi thở đang đều đặn bỗng tắc nghẹn lại!

Trong đống tro trên nền lò sưởi, ngay cạnh dấu chân trần của tôi, có một dấu chân khác, to đến mức so với nó, chân tôi chỉ như chân đứa trẻ sơ sinh! Vậy là tôi đã có khách tới thăm, và tiếng bước chân voi kia đã có lời giải thích.

Tôi tắt đèn, trở lại giường, người tê dại vì sợ. Tôi nằm rất lâu, căng mắt nhìn vào bóng tối, lắng nghe. Rồi tôi nghe một tiếng sột soạt trên đầu, như có ai kéo một vật nặng lê qua sàn nhà. Rồi tiếng cái vật ấy bị quăng xuống, cửa sổ phòng tôi rung lên theo cú va. Từ những góc xa của toà nhà, tôi nghe tiếng cửa đóng sầm, nghe bị bóp nghẹt. Thỉnh thoảng, tôi lại nghe những bước chân lén lút rón rén ra vào các hành lang, lên xuống cầu thang. Đôi khi những tiếng động ấy tới gần cửa phòng tôi, ngập ngừng, rồi lại đi xa.

Tôi nghe tiếng xích loảng xoảng khe khẽ ở những lối đi xa xăm, rồi lắng nghe tiếng loảng xoảng ấy mỗi lúc một gần, mệt mỏi leo lên các bậc cầu thang. Mỗi bước con quỷ mang xích tiến lên, phần xích thừa lại rơi xuống bậc thang kế tiếp, kêu lách cách rõ mồn một. Tôi nghe những câu nói lầm bầm, những tiếng thét bật ra nửa chừng như bị bóp nghẹt thô bạo. Tôi nghe tiếng sột soạt của những tấm áo vô hình, tiếng vỗ của những đôi cánh vô hình.

Rồi tôi nhận ra phòng tôi đã bị xâm nhập, tôi không còn ở một mình. Tôi nghe tiếng thở dài, tiếng thở quanh giường, và những tiếng thì thầm bí ẩn. Ba quả cầu nhỏ ánh lân tinh dịu dàng hiện ra trên trần nhà, ngay trên đầu tôi, bám lại phát sáng ở đó một lúc, rồi rơi xuống. Hai quả rơi trúng mặt tôi, một quả rơi xuống gối. Chúng vỡ toé ra như chất lỏng, âm ấm. Trực giác bảo tôi rằng chúng đã hoá thành những giọt máu khi rơi xuống. Chẳng cần đèn tôi cũng biết chắc điều ấy.

Rồi tôi thấy những gương mặt nhợt nhạt, lờ mờ phát sáng, và những bàn tay trắng giơ lên, lơ lửng trong không trung, không có thân mình. Chúng lơ lửng một lát rồi biến mất. Tiếng thì thầm ngừng lại, cả những giọng nói và những âm thanh cũng ngừng, và một sự tĩnh lặng trang nghiêm tiếp theo.

Tôi chờ đợi, lắng nghe. Tôi cảm thấy mình phải có ánh sáng, không thì chết mất. Tôi yếu rũ vì sợ. Tôi từ từ nhổm dậy định ngồi lên, thì mặt tôi chạm phải một bàn tay lạnh nhớp nháp! Hình như mọi sức lực rời bỏ tôi, và tôi ngã vật ra như một người bệnh bị đánh gục. Rồi tôi nghe tiếng áo sột soạt, hình như nó đi về phía cửa rồi ra ngoài.

Khi mọi thứ lại yên tĩnh, tôi bò ra khỏi giường, ốm yếu và rã rời, đưa bàn tay run như tay ông già trăm tuổi lên bật đèn khí. Ánh sáng làm tinh thần tôi phấn chấn được đôi chút. Tôi ngồi xuống, chìm vào ngẩn ngơ ngắm cái dấu chân to tướng trong đống tro.

Được một lúc, đường viền của dấu chân bắt đầu chập chờn, mờ đi. Tôi ngước lên, thấy ngọn lửa đèn khí to bè đang từ từ héo lụi. Cùng lúc ấy tôi lại nghe tiếng bước chân voi. Tôi nghe nó tới gần, gần mãi, dọc những hành lang ẩm mốc, và ánh đèn càng lúc càng lụi. Bước chân tới tận cửa phòng tôi thì dừng lại. Ánh đèn đã tàn xuống thành một màu xanh bệch bạc, mọi vật quanh tôi chìm trong một thứ ánh hoàng hôn ma quái. Cửa không mở, vậy mà tôi cảm thấy một làn gió nhẹ phả vào má, rồi tôi nhận ra có một cái gì đó khổng lồ, mờ mịt như mây đang ở trước mặt mình.

Tôi nhìn nó, mắt như bị thôi miên. Một quầng sáng nhợt len lên cái Vật ấy. Dần dần những nếp mây của nó thành hình. Một cánh tay hiện ra, rồi hai chân, rồi thân mình, và cuối cùng là một gương mặt to lớn buồn bã nhìn ra từ làn hơi. Trút bỏ lớp áo mỏng như sương, trần truồng, cơ bắp cuồn cuộn và đẹp đẽ, người khổng lồ Các-đíp uy nghi đứng sừng sững trước mặt tôi! Đó chính là cái pho tượng người hoá đá đào được dưới đất mà cả nước đang đổ xô đi xem.

Mọi nỗi khổ sở của tôi tan biến, vì đến đứa trẻ con cũng biết rằng một gương mặt hiền hậu như thế chẳng thể nào mang lại tai hoạ. Tinh thần vui vẻ của tôi trở lại ngay lập tức, và như cùng chung niềm vui ấy, ngọn đèn khí lại bừng sáng. Chưa có kẻ bị ruồng bỏ cô đơn nào mừng được đón bạn như tôi mừng được chào người khổng lồ thân thiện ấy. Tôi nói:

“Ơ kìa, hoá ra chỉ là anh thôi à? Anh có biết suốt hai ba tiếng vừa rồi tôi sợ gần chết không? Thật lòng tôi mừng được gặp anh lắm. Giá mà tôi có cái ghế. Này, này, đừng ngồi lên cái thứ ấy...”

Nhưng muộn mất rồi. Tôi chưa kịp ngăn thì anh ta đã ngồi xuống, và đổ sụm. Cả đời tôi chưa từng thấy cái ghế nào vỡ vụn ra như thế.

“Thôi, thôi, anh sẽ làm hỏng hết...”

Lại muộn mất rồi. Lại thêm một tiếng rầm, và thêm một cái ghế nữa trở về với những nguyên tố ban đầu của nó.

“Chết tiệt, anh không có chút phán đoán nào à? Anh muốn phá sạch đồ đạc trong nhà này hả? Này, này, cái đồ ngốc hoá đá kia...”

Nhưng vô ích. Tôi chưa kịp chặn anh ta lại thì anh ta đã ngồi xuống giường, và cái giường thành một đống đổ nát thảm thương.

“Này, làm ăn kiểu gì thế hả? Trước hết anh lừng lững đi khắp nơi, kéo theo cả một đạo quân yêu ma lang bạt để doạ tôi tới chết. Rồi khi tôi đã bỏ qua cho anh cái lối ăn mặc khiếm nhã mà người có học ở đâu cũng không chịu nổi, trừ ở một nhà hát đứng đắn, mà ngay cả ở đó cũng không, nếu người khoả thân là đàn ông như anh, thì anh lại đền đáp tôi bằng cách phá tan mọi thứ đồ đạc mà anh tìm được để ngồi. Mà sao anh lại làm thế? Anh tự làm hại mình cũng chẳng kém gì hại tôi. Anh làm gãy mất đoạn cuối xương sống rồi kìa, lại còn vương vãi đầy sàn những mẩu đá vỡ từ mông anh, trông chỗ này cứ như một xưởng đá hoa cương. Anh phải biết xấu hổ chứ. Anh to xác thế kia thì phải khôn hơn chứ.”

“Thôi được, tôi sẽ không làm vỡ đồ đạc nữa. Nhưng tôi biết làm sao bây giờ? Cả trăm năm nay tôi chưa có dịp được ngồi xuống.” Và nước mắt trào lên trong mắt anh ta.

Tôi nói: “Tội nghiệp anh, lẽ ra tôi không nên gay gắt với anh như thế. Mà chắc anh cũng là trẻ mồ côi nữa. Nhưng anh cứ ngồi xuống sàn đây, chẳng thứ gì khác chịu nổi sức nặng của anh đâu. Vả lại, anh đứng tít trên cao kia thì chúng mình khó mà trò chuyện thân mật. Tôi muốn anh ngồi thấp xuống, để tôi ngồi vắt vẻo trên cái ghế đẩu cao của bàn kế toán này, mà tán gẫu với anh mặt đối mặt.”

Thế là anh ta ngồi xuống sàn, châm cái tẩu tôi đưa cho, khoác một tấm chăn đỏ của tôi lên vai, úp cái chậu tắm ngồi của tôi lên đầu như đội mũ sắt, trông vừa đẹp như tranh vừa thoải mái. Rồi anh ta bắt chéo hai cổ chân, trong khi tôi nhóm lại lửa, và chìa hai bàn chân khổng lồ, đáy bằng phẳng, lỗ chỗ như tổ ong, ra hơ cho ấm dễ chịu.

“Đáy bàn chân với bắp chân anh bị làm sao mà lỗ chỗ thế kia?”

“Nứt nẻ vì rét, khốn nạn lắm. Tôi bị nẻ lên tận gáy, hồi nằm chầu chực ngoài kia, dưới lòng đất trang trại nhà ông Niu-en. Nhưng tôi yêu chỗ ấy. Tôi yêu nó như người ta yêu ngôi nhà cũ của mình. Chẳng ở đâu tôi thấy bình yên bằng khi ở đó.”

Chúng tôi trò chuyện được nửa giờ. Rồi tôi để ý thấy anh ta có vẻ mệt, và hỏi chuyện ấy.

Anh ta nói: “Mệt à? Phải nói là mệt lắm. Giờ thì tôi sẽ kể anh nghe hết, vì anh đã đối xử tốt với tôi. Tôi là linh hồn của Người Hoá Đá đang nằm trong viện bảo tàng bên kia đường. Tôi là hồn ma của người khổng lồ Các-đíp. Tôi không thể yên nghỉ, không thể được bình yên, cho tới khi người ta đem tấm thân tội nghiệp ấy chôn xuống đất trở lại. Vậy thì muốn người ta làm theo ý nguyện ấy, điều tự nhiên nhất tôi có thể làm là gì? Làm cho họ khiếp sợ mà phải làm! Ám cái chỗ thi thể đang nằm!

Thế là tôi ám viện bảo tàng hết đêm này qua đêm khác. Tôi còn rủ cả những hồn ma khác tới giúp. Nhưng chẳng ích gì, vì nửa đêm chẳng ai tới viện bảo tàng cả. Rồi tôi nảy ra ý sang bên đường, ám chỗ này một chút. Tôi nghĩ hễ có người nghe thấy là tôi thành công, vì tôi có những bạn đồng hành giỏi giang nhất mà địa ngục có thể cung cấp. Đêm này qua đêm khác, chúng tôi rùng rợn đi lại khắp những hành lang ẩm mốc này, kéo xích, rên rỉ, thì thầm, rầm rập lên xuống cầu thang, tới nỗi, nói thật với anh, tôi gần như kiệt sức. Nhưng tối nay thấy phòng anh có đèn, tôi lại gom hết sức lực, xông vào làm với khá nhiều cái hăng hái như xưa. Nhưng tôi mệt lử rồi, mệt rã rời. Tôi van anh, hãy cho tôi chút hy vọng!”

Tôi nhảy phắt khỏi chỗ ngồi, phấn khích kêu lên:

“Chuyện này vượt quá mọi thứ! Mọi thứ từng xảy ra trên đời! Này, ông hoá thạch lầm lẫn tội nghiệp kia, ông khổ công vô ích rồi. Ông đang ám một bản đúc thạch cao của chính ông! Người khổng lồ Các-đíp thật đang nằm ở Ôn-ba-ni kia! Cái pho tượng bày bên kia đường là đồ giả người ta đúc lại rồi đem ra Niu Oóc bày, rao là hàng thật duy nhất. Chết tiệt, ông không nhận ra cả hài cốt của chính mình à?”

Chưa bao giờ tôi thấy một vẻ xấu hổ, một nỗi nhục nhã đáng thương đến thế hiện lên đầy một gương mặt.

Người Hoá Đá từ từ đứng dậy, nói:

“Thật lòng đấy chứ, có thật thế không?”

“Thật như tôi đang ngồi đây.”

Anh ta rút tẩu khỏi miệng, đặt lên bệ lò sưởi, rồi đứng lưỡng lự một lúc. Theo thói quen cũ, anh ta vô thức thọc tay vào chỗ đáng lẽ là túi quần, trầm ngâm gục cằm xuống ngực. Cuối cùng anh ta nói:

“Chà, tôi chưa bao giờ thấy mình lố bịch đến thế. Người Hoá Đá đã lừa được tất cả mọi người, vậy mà rốt cuộc cái trò lừa bịp đê tiện ấy lại lừa luôn cả hồn ma của chính nó! Con ơi, nếu trong lòng con còn chút lòng thương nào dành cho một bóng ma tội nghiệp không bạn bè như ta, thì đừng để chuyện này lọt ra ngoài nhé. Thử nghĩ xem con sẽ thấy thế nào nếu con tự biến mình thành một con lừa như thế.”

Tôi nghe tiếng bước chân oai vệ của anh ta xa dần, từng bước, từng bước xuống cầu thang, ra tới con phố vắng tanh. Tôi thấy buồn vì anh ta đã đi, anh chàng tội nghiệp. Mà còn buồn hơn vì anh ta đã mang theo cả tấm chăn đỏ và cái chậu tắm của tôi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1870
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Ghost Story, Mark Twain, 1870, bản in trong tập Sketches New and Old (Project Gutenberg số 3189)
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →