Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chương một: Tờ di chúc bị mất

Con trai bà Rát-ma-ni · Chương 1/3 · của Rabindranath Tagore

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 23.429 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Mẹ của Ka-li-pa-đa là bà Rát-ma-ni, nhưng bà phải…
  2. 3:59Thế còn ngôi nhà?
  3. 7:13Cái viễn cảnh hoang phí ngày mai hiện ra…
  4. 14:08Ba-ga-la, con trai ông thầy, nhờ làm trung gian…
  5. 16:13Thế là Bha-va-ni tới thăm Ba-ga-la chẳng vì cớ…
  6. 17:44Ngày mồng năm, bữa sáng, Bha-va-ni bỏ qua bát…
  7. 19:28Nói rồi ông đi ra khỏi nhà.
  8. 21:54Con nói phải, con ạ, con phải lên Calcutta.

Chương 1: Chương một: Tờ di chúc bị mất

Mẹ của Ka-li-pa-đa là bà Rát-ma-ni, nhưng bà phải làm cả bổn phận của người cha nữa, vì khi cả cha lẫn mẹ đều là "mẹ" thì thật tai hại cho đứa con. Chồng bà, ông Bha-va-ni, hoàn toàn không biết giữ kỷ cương với con cái. Muốn hiểu vì sao ông cứ một mực chiều hư con trai, thì phải nghe đôi chút về lịch sử trước kia của gia đình.

Ông Bha-va-ni sinh ra trong dòng họ danh giá ở Xa-ni-a-ri. Cha ông, ông A-bha-y-a Cha-ran, với người vợ đầu có một con trai là Sya-ma Cha-ran. Khi vợ mất, ông cưới vợ khác, lúc ấy chính ông đã quá tuổi lấy vợ, và ông bố vợ mới nhân cái thế yếu của con rể mà đòi tách riêng một phần điền sản để dành cho con gái mình. Như thế ông yên tâm rằng con gái đã được lo liệu chu đáo, nếu chẳng may goá chồng sớm. Con gái ông sẽ không phải sống nhờ lòng thương của Sya-ma Cha-ran.

Nửa đầu điều ông lo trước quả đã thành sự thật. Bởi chỉ ít lâu sau khi bà sinh một con trai, đặt tên là Bha-va-ni, thì ông A-bha-y-a Cha-ran mất. Ông bố vợ, nghĩ tới ngày mình chết, thấy yên lòng và được an ủi lắm vì biết con gái đã được lo cho đâu vào đấy.

Sya-ma Cha-ran lúc ấy đã lớn lắm rồi. Thật ra con trai cả của ông còn lớn hơn Bha-va-ni một tuổi. Ông nuôi Bha-va-ni cùng với con trai mình. Làm thế mà ông chưa bao giờ lấy một đồng xu nào từ phần điền sản dành cho bà mẹ kế, và năm nào ông cũng trình sổ sách chi li, rồi xin bà ký nhận. Sự ngay thẳng của ông trong việc ấy khiến cả vùng ngạc nhiên. Thật ra người ta cho rằng ngay thẳng như thế là một tên khác của sự dại dột. Họ không ưa chuyện chia tách khối gia sản tổ tiên vốn chưa hề chia. Giá Sya-ma Cha-ran ngấm ngầm xoay xở huỷ được phần của hồi môn kia, thì hàng xóm hẳn đã khen ông khôn ngoan, mà sẵn có những người khuyên bảo tốt bụng có thể giúp ông đắc lực để đạt mục đích ấy. Nhưng Sya-ma Cha-ran, bất chấp nguy cơ làm sứt mẻ gia sản tổ tiên, vẫn nghiêm ngặt để riêng phần của hồi môn thuộc về mẹ kế. Còn bà goá, bà Vra-gia Xun-đa-ri, vốn tính thương người và cả tin, hết lòng tin cậy Sya-ma Cha-ran như con đẻ. Đã hơn một lần bà trách ông quá kỹ tính về phần tài sản của bà. Bà bảo, vì bà chết có mang theo được đâu, mà dù sao thì nó cũng trở về với gia đình, nên chẳng cần sổ sách nghiêm ngặt làm gì. Nhưng ông chẳng bao giờ nghe.

Sya-ma Cha-ran vốn quen nghiêm khắc, con cái ông đều biết rõ điều ấy. Nhưng Bha-va-ni thì được tha hồ tự do, khiến người ta có cảm tưởng ông thiên vị người em cùng cha khác mẹ hơn con mình. Thế nhưng việc học của Bha-va-ni bị bỏ bê đáng buồn, và ông hoàn toàn trông cậy vào Sya-ma Cha-ran trong việc quản lý phần điền sản của mình. Thỉnh thoảng ông chỉ việc ký vào giấy tờ, chẳng bao giờ bận tâm đọc xem trong ấy viết gì. Ngược lại, Ta-ra-pa-đa, con trai cả của Sya-ma Cha-ran, thì rất thạo việc quản lý điền trang, vì phải làm phụ tá cho cha.

Sau khi Sya-ma Cha-ran mất, Ta-ra-pa-đa nói với Bha-va-ni:

— Chú ơi, chúng ta không nên sống chung như bấy lâu nay nữa, vì bất cứ lúc nào một chuyện hiểu lầm cỏn con cũng có thể làm tan nát cả nhà.

Chưa bao giờ, dù trong mơ, Bha-va-ni nghĩ rằng có ngày mình phải tự lo liệu việc của mình. Cái thế giới nơi ông sinh ra và lớn lên lúc nào cũng hiện ra với ông trọn vẹn, đầy đủ tự nó. Ông không sao hiểu nổi cái tai hoạ rằng ở đâu đó có thể có một đường ranh, và thế giới của ông có thể bị xẻ làm đôi. Thấy Ta-ra-pa-đa không lay chuyển, dửng dưng trước nỗi đau và nỗi nhục mà việc ấy đem lại cho gia đình, ông bắt đầu vắt óc nghĩ cách chia gia sản sao cho ít đau lòng nhất.

Ta-ra-pa-đa tỏ vẻ ngạc nhiên thấy chú lo lắng, bảo chẳng cần bận tâm gì cả, vì việc chia đã làm xong từ thời ông nội còn sống. Bha-va-ni sửng sốt:

— Nhưng chú có biết gì về chuyện ấy đâu!

Ta-ra-pa-đa đáp:

— Thế thì cả vùng này chỉ có mình chú là không biết. Vì sợ sau khi ông mất sẽ có kiện tụng tai hại, ông nội cháu đã cho mẹ chú một phần điền sản rồi.

Bha-va-ni nghĩ chuyện ấy cũng có thể lắm, bèn hỏi:

— Thế còn ngôi nhà?

Ta-ra-pa-đa đáp:

— Nếu chú muốn, chú cứ giữ ngôi nhà này, còn chúng cháu xin bằng lòng với ngôi nhà kia trên tỉnh.

Vì Bha-va-ni chưa bao giờ tới ngôi nhà trên tỉnh ấy, nên ông chẳng biết gì về nó, cũng chẳng quyến luyến gì nó. Ông sững sờ trước tấm lòng rộng lượng của Ta-ra-pa-đa, dễ dàng nhường lại quyền của mình đối với ngôi nhà ở làng, nơi họ đã cùng lớn lên. Nhưng khi Bha-va-ni kể hết mọi chuyện với mẹ, bà đập tay lên trán mà nói:

— Thật vô lý! Cái phần mẹ được chồng cho là của hồi môn riêng của mẹ, hoa lợi ít ỏi lắm. Mẹ không hiểu sao con lại mất phần của con trong gia sản của cha con.

Bha-va-ni bảo:

— Ta-ra-pa-đa quả quyết rằng ông nội nó chẳng cho nhà mình gì khác ngoài mảnh đất ấy.

Bà Vra-gia Xun-đa-ri sửng sốt, bảo con rằng chồng bà đã lập hai bản di chúc, một bản vẫn còn nằm trong rương của bà. Mở rương ra thì chỉ thấy có văn tự tặng cho phần tài sản của người mẹ, không có gì khác. Bản di chúc đã bị lấy mất.

Người ta đi nhờ người khuyên bảo. Người ra tay cứu giúp là Ba-ga-la, con trai vị thầy tâm linh của gia đình. Nghề của người cha là lo phần hồn cho cả làng, còn phần đời thì để cho người con. Hai cha con đã chia nhau thế giới bên kia và thế giới bên này. Người khác ra sao thì không biết, chứ bản thân hai cha con chẳng phải chịu thiệt gì vì cuộc chia ấy. Ba-ga-la bảo dù mất di chúc thì phần gia sản tổ tiên giữa hai anh em vẫn phải chia đều.

Đúng lúc ấy, lại xuất hiện một bản di chúc ủng hộ đòi hỏi của phía bên kia. Trong văn bản ấy chẳng nhắc gì tới Bha-va-ni, và toàn bộ gia sản được để lại cho các cháu nội, vào thời Bha-va-ni chưa có con trai. Với Ba-ga-la làm thuyền trưởng, Bha-va-ni giương buồm vượt biển kiện tụng hiểm nghèo. Khi con thuyền của ông cuối cùng vào tới bến, thì tiền của ông gần như cạn sạch, còn gia sản tổ tiên thì đã nằm trong tay phía bên kia. Mảnh đất cho mẹ ông đã teo tóp lại tới mức chỉ vừa đủ cho họ chỗ nương thân, hay giữ được chút thể diện dòng họ. Rồi Ta-ra-pa-đa dọn lên tỉnh, và từ đó hai bên không bao giờ gặp lại nhau nữa.

Sự phản bội của Sya-ma Cha-ran đâm vào tim bà goá như lưỡi dao của kẻ sát nhân. Tới cuối đời, ngày nào bà cũng thở dài mà bảo rằng Trời không bao giờ để cho một sự bất công như thế xảy ra. Bà nói với Bha-va-ni, giọng chắc chắn như đinh đóng cột:

— Mẹ chẳng biết luật lệ, toà án của các con, nhưng mẹ chắc chắn một ngày nào đó bản di chúc thật của chồng mẹ sẽ được tìm thấy. Con sẽ lấy lại được nó.

Vì Bha-va-ni bất lực trước mọi việc đời, nên những lời quả quyết ấy an ủi ông rất nhiều. Ông yên vị trong cái lười biếng của mình, trong bụng chắc mẩm rằng lời tiên tri của người mẹ mộ đạo không bao giờ lại không thành. Sau khi mẹ mất, niềm tin của ông càng vững hơn, vì ký ức về lòng mộ đạo của bà càng sáng rực nhờ cái bí ẩn của cái chết. Ông chẳng mảy may bận tâm tới cảnh nghèo túng mỗi năm một ngặt nghèo. Những nhu cầu của đời sống, việc giữ gìn nền nếp gia phong, với ông như một vở kịch diễn trên sân khấu tạm, chứ chẳng phải chuyện thật. Khi bộ quần áo đắt tiền ngày trước đã sờn rách, phải ra hiệu mua thứ vải rẻ tiền, thì ông thấy buồn cười gần như một trò đùa. Ông mỉm cười tự nhủ: "Họ đâu biết rằng đây chỉ là một chặng thoáng qua trong vận số của ta. Rồi một ngày kia ta làm lễ hội Pu-gia linh đình chưa từng thấy, lúc ấy họ mới càng ngạc nhiên."

Cái viễn cảnh hoang phí ngày mai hiện ra rõ mồn một trước mắt tâm trí ông, tới mức cảnh túng thiếu hiện tại lọt khỏi tầm mắt ông. Người hầu Nô-tô là bạn tâm tình chính để ông bàn những chuyện ấy. Hai chủ tớ hay chuyện trò sôi nổi, đôi khi Nô-tô cũng có ý khác chủ, chẳng hạn về chuyện có nên mời một gánh hát từ Calcutta về cho những dịp lễ sau này hay không. Nô-tô hay bị Bha-va-ni mắng vì cái tính keo kiệt trời sinh trong những khoản chi tiêu tương lai ấy.

Trong khi mối lo duy nhất của Bha-va-ni là chưa có người nối dõi để thừa kế khối của cải khổng lồ sẽ có, thì ông sinh được một con trai. Lá số tử vi chỉ rõ rằng gia sản bị mất sẽ trở về với đứa bé này.

Từ khi con trai ra đời, thái độ của Bha-va-ni đổi khác. Giờ đây ông thấy khó vô cùng nếu cứ chịu cảnh nghèo với vẻ thản nhiên buồn cười như trước, vì ông cảm thấy mình có bổn phận với người đại diện mới của dòng họ lừng danh Xa-ni-a-ri, kẻ có cả một tương lai rực rỡ trước mặt. Việc không giữ được nếp hoang phí truyền thống trong dịp con trai chào đời làm ông đau lòng khôn xiết. Ông thấy như mình đang lừa dối chính con mình. Vậy là ông đền bù cho con bằng cách chiều chuộng nó quá mức.

Vợ ông Bha-va-ni, bà Rát-ma-ni, tính tình khác hẳn chồng. Bà chẳng bao giờ bận tâm tới truyền thống của dòng họ Chau-đu-ri ở Xa-ni-a-ri. Bha-va-ni biết rõ điều ấy, và độ lượng mỉm cười một mình, như thể chẳng thể trông đợi gì hơn ở một người đàn bà xuất thân từ một nhà theo phái Vít-xnu dòng dõi hết sức tầm thường. Rát-ma-ni thẳng thắn thừa nhận bà không thể chia sẻ những tình cảm dòng họ ấy. Điều bà quan tâm nhất là hạnh phúc của đứa con.

Hầu như chẳng có người quen nào trong vùng mà Bha-va-ni không bàn chuyện tờ di chúc bị mất. Nhưng với vợ thì ông chẳng bao giờ nói một lời nào về chuyện ấy. Một hai lần ông đã thử, nhưng cái vẻ hoàn toàn dửng dưng của bà khiến ông bỏ dở. Bà chẳng để ý tới sự hiển hách ngày xưa của dòng họ, cũng chẳng để ý tới vinh quang mai sau. Bà chỉ chăm chăm lo những nhu cầu thực của hiện tại, mà những nhu cầu ấy thì chẳng ít ỏi, cũng chẳng nhỏ nhặt.

Khi nữ thần Vận May bỏ một ngôi nhà mà đi, thì nữ thần thường để lại vài gánh nặng, và cái dòng họ lâu đời này vẫn còn vướng cả một đám người ăn bám, dù mái nhà che chở của chính nó gần như sắp đổ nát thành bụi. Đám ăn bám ấy coi việc bị sai làm bất cứ việc gì là một sự sỉ nhục. Hơi khói bếp chạm tới là họ nhức đầu. Bị sai đi đâu là họ bỗng lên cơn đau khớp. Vì thế mọi trách nhiệm lo cho cả nhà đổ lên vai một mình bà Rát-ma-ni. Đàn bà mà ngày đêm phải mặc cả với số phận từng thứ vụn vặt đáng thương, thì sẽ mất đi vẻ dịu dàng thanh lịch, và vì thế lại bị chính những người mình đang còng lưng lo cho trách móc.

Ngoài việc nhà, bà Rát-ma-ni còn phải giữ sổ sách mảnh điền sản nhỏ còn sót lại, và lo việc thu tô. Chưa bao giờ điền sản được quản lý nghiêm ngặt tới thế. Bha-va-ni xưa nay chẳng thu nổi những khoản tô người ta nợ mình. Còn Rát-ma-ni thì chẳng bao giờ miễn cho ai một mảy may tô nào. Đám tá điền, cả những người làm công cho bà, sau lưng bà đều chê bai cái nhà hèn mọn bà xuất thân. Ngay cả chồng bà thỉnh thoảng cũng lên tiếng phản đối cái lối tằn tiện khắt khe trái với nếp nhà lừng danh thiên hạ của dòng họ Xa-ni-a-ri.

Bà Rát-ma-ni chẳng chút hờn dỗi nhận hết tiếng xấu về mình, công khai thừa nhận cha mẹ mình nghèo. Quấn chặt vạt sa-ri quanh eo, bà cứ theo lối mạnh mẽ của mình mà lo việc nhà, khiến cả người trong nhà lẫn hàng xóm đều khó chịu với bà. Nhưng chẳng ai đủ can đảm xen vào. Chỉ có một điều bà cẩn thận tránh. Bà chẳng bao giờ nhờ chồng giúp việc gì, mà còn lo sợ ông nhận lấy bất cứ trách nhiệm nào. Thật ra bà lúc nào cũng ra sức giữ cho chồng được rảnh rang ăn không ngồi rồi. Mà vì ông đã được rèn luyện tốt nhất có thể theo hướng ấy, nên bà hoàn toàn thành công.

Bà Rát-ma-ni đã tới tuổi trung niên mới có con trai. Cho tới lúc ấy, tất cả nỗi dịu dàng dồn nén của một người mẹ trong bà và tất cả tình yêu của một người vợ đều tập trung vào người chồng chất phác vô dụng này. Bha-va-ni là một đứa trẻ lỡ lớn quá tuổi. Đó là lý do vì sao, sau khi mẹ chồng mất, bà phải đảm đương cùng lúc vai người mẹ và vai bà chủ.

Để che chở chồng khỏi những cuộc xâm lăng của Ba-ga-la, con trai ông thầy, và những tai hoạ khác, bà Rát-ma-ni giữ một vẻ nghiêm khắc tới mức bạn bè của chồng đều sợ bà một phép. Bà chẳng bao giờ có được cái cơ hội mà người đàn bà thường có, là giấu kín sự dữ dằn của mình, làm mềm bớt lưỡi sắc của lời nói, giữ vẻ đoan trang dè dặt với đàn ông như đàn bà vẫn nên làm.

Bha-va-ni ngoan ngoãn chịu quyền vợ trong những việc liên quan tới chính mình. Nhưng ông thấy hết sức khó mà nghe theo bà trong những việc liên quan tới Ka-li-pa-đa, con trai ông. Lý do là bà Rát-ma-ni chẳng bao giờ nhìn con trai của Bha-va-ni theo con mắt của Bha-va-ni. Trong lòng bà thương chồng mà nghĩ: "Tội nghiệp ông ấy, sinh ra trong nhà giàu đâu phải lỗi của ông ấy, mà là cái bất hạnh của ông ấy." Vì thế bà không bao giờ mong chồng phải mất đi bất cứ tiện nghi nào ông đã quen. Tình hình tiền nong trong nhà có ra sao chăng nữa, bà vẫn cố giữ cho ông được thảnh thơi sung sướng như thường lệ. Dưới sự cai quản của bà, mọi khoản chi đều bị hạn chế ngặt nghèo, trừ những khoản cho Bha-va-ni. Bà không bao giờ để ông nhận ra những chỗ thiếu hụt không tránh khỏi trong bữa ăn hay quần áo của ông. Bà đổ cho một con chó tưởng tượng nào đó làm hỏng những món chưa bao giờ được nấu, rồi tự trách mình bất cẩn. Bà mắng Nô-tô để mất hay để bị lấy trộm một món quần áo nào đó chưa từng có. Việc ấy thường khiến Bha-va-ni động lòng thương người hầu yêu quý mà đứng ra bênh vực. Thật ra đã nhiều lần Bha-va-ni trơ trẽn thú nhận chính mình đã dùng cái áo chưa từng được mua, cái áo Nô-tô bị mắng vì làm mất. Nhưng chuyện sau đó ra sao thì ông chẳng đủ sức bịa, đành trông cậy vào trí tưởng tượng phong phú của bà vợ, cũng chính là người buộc tội!

Bà Rát-ma-ni đối xử với chồng như thế, nhưng chẳng bao giờ xếp con trai vào cùng hạng. Vì nó là con bà, việc gì phải cho nó làm ra vẻ ta đây? Bữa sáng Ka-li-pa-đa phải bằng lòng với vài vốc cốm và ít mật. Mùa lạnh nó phải quấn người và cả đầu bằng một tấm khăn vải bông thô dày. Bà gọi thầy giáo của con tới, dặn thầy đừng bao giờ nương tay nếu con bà lơ là bài vở một chút nào. Cách đối xử với chính con mình như thế là đòn nặng nề nhất mà Bha-va-ni Cha-ran phải chịu kể từ ngày sa sút. Nhưng vì xưa nay ông vẫn chịu thua kẻ mạnh, nên ông chẳng đủ gan đứng lên chống lại vợ về cách bà dạy con.

Quần áo bà Rát-ma-ni sắm cho con trong dịp lễ Pu-gia bằng thứ vải tồi tới mức ngày xưa có đem cho đầy tớ trong nhà, họ cũng làm loạn. Nhưng bà Rát-ma-ni đã hơn một lần cố giải thích với chồng rằng Ka-li-pa-đa là người mới nhất trong dòng họ Chau-đu-ri, chưa từng biết cảnh huy hoàng ngày xưa, nên được gì cũng mừng. Nhưng chính sự ngây thơ đáng thương của thằng bé về số phận của mình lại làm Bha-va-ni đau hơn bất cứ điều gì, và ông không sao tha thứ cho mình vì đã lừa dối đứa trẻ. Mỗi khi Ka-li-pa-đa nhảy cẫng lên sung sướng chạy tới khoe ông món quà mẹ cho, món quà nhỏ nhặt tới nực cười, thì lòng Bha-va-ni đau như bị tra tấn.

Ba-ga-la, con trai ông thầy, nhờ làm trung gian trong vụ kiện đã làm Bha-va-ni sạt nghiệp, nay đã khá giả. Với số tiền có trong tay, trước mỗi kỳ lễ Pu-gia, hắn lên Calcutta mua đồ lặt vặt rẻ tiền về bán. Mực vô hình, những thứ quái gở vừa là gậy vừa là cần câu vừa là ô, giấy viết thư có tranh ở góc, lụa mua ở các phiên bán đấu giá, và đủ thứ hấp dẫn dân làng chất phác, đó là hàng hoá của hắn. Đám thanh niên sành điệu trong làng đua nhau mua những thứ quét sạch từ chợ Calcutta ấy để tỏ ra mình không quê mùa, vì người ta bảo với họ rằng các quý ông thành phố tuyệt đối không thể thiếu chúng.

Có lần Ba-ga-la mua về một món đồ chơi kỳ diệu, một con búp bê hình một người đàn bà ngoại quốc, lên dây cót là đứng dậy khỏi ghế, hăng hái phe phẩy quạt. Ka-li-pa-đa mê nó lắm. Thằng bé có lý do rất chính đáng để tránh hỏi mẹ về món đồ chơi, nên nó đi thẳng tới chỗ cha, xin cha mua cho. Bha-va-ni nhận lời ngay, nhưng nghe giá thì mặt ông xị xuống. Bà Rát-ma-ni giữ hết tiền, nên ông tới chỗ bà như một kẻ ăn mày rụt rè. Ông mở đầu bằng đủ thứ chuyện chẳng dính dáng gì, rồi liều mạng nhảy bổ vào đề tài một cách lộn xộn đến giật mình.

Bà Rát-ma-ni nói gọn lỏn:

— Ông điên à?

Bha-va-ni Cha-ran ngồi im, xoay xở trong đầu xem nên nói gì tiếp. Ông kêu lên:

— Này bà, tôi nghĩ bữa tối tôi đâu cần ngày nào cũng có chè sữa.

Bà Rát-ma-ni gắt:

— Ai bảo ông thế?

— Thầy thuốc bảo chè sữa rất hại cho gan mật.

— Thầy thuốc là đồ ngốc!

— Nhưng tôi chắc là cơm hợp với tôi hơn bánh lu-chi chiên của bà. Bánh ấy khó tiêu quá.

— Tôi chưa từng thấy ông khó tiêu bao giờ. Ông ăn bánh ấy cả đời rồi!

Bha-va-ni Cha-ran sẵn lòng hy sinh lắm, nhưng lối đi ấy bị chặn mất. Bơ có lên giá thì số bánh lu-chi của ông vẫn chẳng bớt cái nào. Bữa trưa ông chỉ cần sữa là đủ, nhưng vẫn phải có cả sữa đông, vì đó là nếp nhà. Bà Rát-ma-ni không chịu nổi cảnh thấy ông ngồi vào bữa mà thiếu sữa đông. Vì thế mọi nỗ lực của ông nhằm khoét một lỗ hổng trong khẩu phần hằng ngày, để cô đầm phe phẩy quạt có thể lọt vào, đều thất bại hoàn toàn.

Thế là Bha-va-ni tới thăm Ba-ga-la chẳng vì cớ gì, rồi sau một hồi vòng vo tam quốc, mới hỏi về con búp bê ngoại quốc. Đương nhiên Ba-ga-la đã biết cảnh túng quẫn của ông từ lâu, nhưng Bha-va-ni vẫn khổ sở vô cùng khi phải ngập ngừng mua con búp bê cho con vì không có sẵn tiền. Nuốt lòng tự ái, ông rút từ dưới nách ra một tấm khăn choàng Ca-sơ-mia cũ quý giá, giọng khàn khàn mà nói:

— Dạo này tôi túng, chẳng có mấy tiền mặt. Nên tôi quyết đem cầm tấm khăn này để mua con búp bê ấy cho thằng Ka-li-pa-đa.

Giá vật đem cầm rẻ hơn tấm khăn Ca-sơ-mia ấy, thì Ba-ga-la đã chốt ngay. Nhưng biết rằng mình không thể giữ tấm khăn ấy trước dư luận cả làng, nhất là trước con mắt canh chừng của bà Rát-ma-ni, hắn từ chối không nhận. Và Bha-va-ni đành thất vọng ra về, tấm khăn Ca-sơ-mia giấu dưới nách.

Ngày nào Ka-li-pa-đa cũng đòi con búp bê ngoại quốc phe phẩy quạt, và ngày nào Bha-va-ni cũng mỉm cười bảo:

— Đợi một chút, con trai, đợi tới ngày mồng bảy trăng.

Nhưng mỗi ngày mới qua, giữ nụ cười ấy càng lúc càng khó.

Ngày mồng bốn trăng, Bha-va-ni bất ngờ đột kích bà vợ mà nói:

— Tôi để ý thấy thằng Ka-li-pa-đa có gì không ổn, sức khoẻ nó có chuyện gì đấy.

Bà Rát-ma-ni đáp:

— Vớ vẩn, nó khoẻ như vâm.

— Bà không thấy nó ngồi im hàng giờ liền à?

— Giá nó ngồi yên được chừng ấy phút thì tôi đã nhẹ cả người.

Mọi mũi tên đều trượt đích, chẳng gây được chút ấn tượng nào, Bha-va-ni Cha-ran thở dài thườn thượt, luồn tay vào tóc, bỏ ra hiên ngồi, rít điếu sòng sọc tới đáng sợ.

Ngày mồng năm, bữa sáng, Bha-va-ni bỏ qua bát sữa đông và chè sữa không đụng tới. Buổi tối ông chỉ ăn đúng một miếng bánh xăn-đét. Bánh lu-chi để nguyên đó. Ông kêu chán ăn. Lần này thì thành luỹ đã bị khoét một lỗ đáng kể.

Ngày mồng sáu, bà Rát-ma-ni gọi Ka-li-pa-đa vào phòng, gọi con bằng tên cưng ngọt ngào:

— Bê-tu ơi, con đủ lớn để biết rằng thèm muốn thứ mình không thể có thì đã đi được nửa đường tới ăn cắp rồi.

Ka-li-pa-đa thút thít:

— Con biết gì đâu. Cha hứa cho con cái búp bê ấy mà.

Bà Rát-ma-ni ngồi xuống giải thích cho con biết sau lời hứa của cha nó là bao nhiêu điều, bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu mất mát và thiếu thốn. Cả đời bà chưa bao giờ nói với Ka-li-pa-đa như thế, vì bà quen ra lệnh ngắn gọn và gay gắt. Thằng bé hết sức kinh ngạc khi thấy mẹ dỗ dành, giải thích cặn kẽ dài dòng như vậy, và tuy chỉ là đứa trẻ, nó cũng thấu được phần nào nỗi khổ sâu xa trong lòng mẹ. Thế nhưng cũng dễ hiểu là thằng bé khó mà dứt lòng khỏi cô đầm phe phẩy quạt quyến rũ kia. Nó xị mặt ra, lấy chân di di xuống đất.

Thấy thế lòng bà Rát-ma-ni lập tức rắn lại, bà nói bằng cái giọng nghiêm khắc của mình:

— Phải, con muốn khóc lóc, muốn giận dỗi thì tuỳ, nhưng thứ gì không phải phần con thì con sẽ không bao giờ có được.

Rồi bà vội vã đi ra, không nói thêm lời nào.

Ka-li-pa-đa đi ra ngoài. Bha-va-ni Cha-ran vẫn đang rít điếu. Thấy Ka-li-pa-đa từ xa, ông đứng dậy đi về phía ngược lại như thể có việc gấp. Ka-li-pa-đa chạy tới hỏi:

— Thế còn con búp bê?

Hôm ấy Bha-va-ni không sao cười nổi. Ông quàng tay qua cổ Ka-li-pa-đa mà bảo:

— Con ơi, đợi một chút. Cha có việc gấp phải làm cho xong. Để cha làm xong đã, rồi mình nói chuyện ấy sau.

Nói rồi ông đi ra khỏi nhà.

Ka-li-pa-đa thấy cha gạt một giọt nước mắt. Nó đứng ở cửa nhìn theo cha, và ngay cả một đứa trẻ như nó cũng thấy rõ là cha chẳng đi tới chỗ nào cả, chỉ đang lê theo một nỗi tuyệt vọng không gì vơi nổi.

Ka-li-pa-đa lập tức quay vào với mẹ mà nói:

— Mẹ ơi, con không cần con búp bê ngoại quốc ấy nữa.

Sáng hôm ấy Bha-va-ni Cha-ran về muộn. Khi ông tắm xong ngồi vào bữa, thì nhìn mặt ông cũng biết rõ bát sữa đông và chè sữa cũng chẳng được đối đãi tử tế hơn hôm qua, và khúc cá ngon nhất sẽ về phần con mèo.

Đúng vào lúc gay cấn ấy, bà Rát-ma-ni mang vào một cái hộp các-tông buộc dây, đặt trước mặt chồng. Bà định đợi tới lúc chồng ăn xong đi nằm nghỉ trưa mới tiết lộ bí mật của cái hộp. Nhưng để cứu bát sữa đông, bát chè sữa và con cá khỏi bị ghẻ lạnh oan uổng, bà đành mở ra trước giờ. Thế là con búp bê ngoại quốc ra khỏi hộp, chẳng chần chừ gì mà bắt đầu phe phẩy quạt hăng say.

Thế là con mèo đành thất vọng bỏ đi. Bha-va-ni bảo vợ rằng chưa bao giờ ông được ăn món nào ngon thế. Canh cá ngon tuyệt trần, sữa đông đông vừa khéo hiếm có, còn chè sữa thì tuyệt hảo.

Ngày mồng bảy trăng, Ka-li-pa-đa có được món đồ chơi nó hằng mong. Suốt cả ngày hôm ấy, nó để cô đầm phe phẩy quạt không ngừng, khiến bọn bạn trai cùng lứa ghen tị. Nếu là lúc khác thì trò ấy hẳn đã làm nó chán ngấy vì đơn điệu. Nhưng biết rằng ngày hôm sau sẽ phải trả lại, nên trong lần duy nhất ấy, nó cứ say mê không dứt. Bà Rát-ma-ni đã thuê con búp bê của Ba-ga-la với giá hai ru-pi một ngày.

Ngày mồng tám trăng, Ka-li-pa-đa thở dài một tiếng thật sâu, tự tay mang con búp bê, cùng cái hộp và sợi dây, trả lại cho Ba-ga-la. Từ hôm ấy Ka-li-pa-đa bắt đầu được mẹ tâm sự, và việc tặng những món quà đắt tiền mỗi năm của Bha-va-ni bỗng trở nên dễ dàng tới mức chính ông cũng ngạc nhiên.

Khi được mẹ giúp mà hiểu ra rằng trên đời chẳng có gì có được mà không phải trả cái giá không tránh khỏi là nỗi khổ, Ka-li-pa-đa lớn lên rất nhanh trong tâm trí, và trở thành người phụ việc đắc lực của mẹ trong công việc hằng ngày. Với cậu, đã thành lẽ sống tự nhiên rằng đừng ai làm cho gánh nặng của thế gian nặng thêm, mà mỗi người nên cố làm cho nó nhẹ bớt.

Khi Ka-li-pa-đa đỗ kỳ thi bậc tiểu học bằng tiếng bản xứ và được học bổng, Bha-va-ni đề nghị con thôi học để trông nom điền sản. Ka-li-pa-đa tới thưa với mẹ:

— Con mà không học cho xong thì con chẳng bao giờ nên người được.

Mẹ cậu bảo:

— Con nói phải, con ạ, con phải lên Calcutta.

Ka-li-pa-đa giải thích với mẹ rằng chẳng cần tốn cho cậu một đồng xu nào. Học bổng là đủ, và cậu sẽ cố kiếm thêm việc gì làm để bù vào.

Nhưng cần phải thuyết phục Bha-va-ni thấy đó là điều khôn ngoan. Bà Rát-ma-ni không muốn viện lý rằng điền sản còn lại chẳng bao nhiêu mà cần trông nom, vì bà biết lời ấy sẽ làm ông đau lòng. Bà bảo Ka-li-pa-đa phải trở thành người mà ai cũng kính trọng. Nhưng mọi người trong dòng họ Chau-đu-ri đều được kính trọng mà chẳng bao giờ phải bước chân ra khỏi Xa-ni-a-ri. Thế giới bên ngoài với họ xa lạ như thế giới bên kia nấm mồ. Vì thế Bha-va-ni không sao hình dung nổi có người lại nghĩ tới chuyện một cậu bé như Ka-li-pa-đa lên Calcutta. Nhưng may thay, người khôn ngoan nhất làng, Ba-ga-la, lại đồng ý với bà Rát-ma-ni. Hắn bảo:

— Rõ như ban ngày là một ngày kia Ka-li-pa-đa sẽ thành luật sư, và rồi cậu ấy sẽ đòi lại công bằng cho cái gia sản mà dòng họ đã bị tước mất.

Điều ấy an ủi Bha-va-ni Cha-ran rất nhiều, ông mang tập hồ sơ về vụ mất trộm di chúc ra, ngày ngày bàn bạc, cố giải thích hết đầu đuôi cho Ka-li-pa-đa. Nhưng con trai ông chẳng mấy hăng hái, chỉ nhắc lại theo cha cái nỗi oan khuất trọng đại ấy.

Hôm trước ngày Ka-li-pa-đa lên Calcutta, bà Rát-ma-ni đeo vào cổ con một lá bùa có chép mấy câu thần chú để giữ cho con khỏi điều dữ. Đồng thời bà đưa con một tờ giấy bạc năm mươi ru-pi, dặn con cất để dành phòng khi có việc gì đặc biệt cần kíp. Tờ giấy bạc ấy, biểu tượng của vô vàn những lần hy sinh nhỏ nhặt hằng ngày của mẹ, mới là lá bùa thật nhất đối với Ka-li-pa-đa. Cậu quyết giữ nó bên mình, và dù có chuyện gì cũng không bao giờ tiêu tới.

— Hết chương 1 —

Mục lục Con trai bà Rát-ma-ni

  1. 1Chương một: Tờ di chúc bị mất23 phút
  2. 2Chương hai: Căn phòng tầng dướiĐang thu âm
  3. 3Chương ba: Tờ di chúc trở vềĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRabindranath Tagore (1861 – 1941)
Năm mất1941
Xuất bản lần đầu1910
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Bengal Rasmanir Chhele của Rabindranath Tagore, 1910; dịch từ bản tiếng Anh The Son of Rashmani trong tập Stories from Tagore, 1918
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →