Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Công chúa Gây-rơ-lau

của Andrew Lang

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 17.911 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Một hôm, có một ông vua hùng mạnh và…
  2. 3:04Hai đứa trẻ đau buồn lắm, vì chúng thương…
  3. 5:47Một tuần sau, nhà vua về. Cả triều thần…
  4. 8:34May thay, công chúa đã từng học phép thuật…
  5. 10:25Rồi nàng quay lại hôn chàng.
  6. 12:16Nàng không muốn ai biết mình là ai. Nàng…
  7. 14:05Nó là phù thuỷ. Ta chẳng dính dáng gì…
  8. 16:21Việc sửa soạn đám cưới được đẩy gấp lên,…

Một hôm, có một ông vua hùng mạnh và bà hoàng hậu xinh đẹp ngồi trong vườn ngự ở kinh đô, say sưa bàn chuyện tương lai của đứa con trai bé bỏng đang ngủ bên cạnh trong chiếc nôi vàng lộng lẫy. Họ lấy nhau đã nhiều năm mà chẳng có con, nên khi đứa bé ra đời, họ thấy mình là cặp vợ chồng sung sướng nhất trên đời. Thằng bé khoẻ mạnh, chắc nịch, thích đạp chân và vung nắm tay. Nhưng dẫu nó có yếu ớt, bé nhỏ, thì với họ nó vẫn là sinh linh kỳ diệu nhất trần gian. Hai vợ chồng mải tính toán cho con tới mức không hề để ý một cái bóng đen khổng lồ đang bò tới gần. Chỉ tới khi một cái đầu ghê rợn với hàm răng sáng loáng vươn ra phía trên họ thì đã muộn. Trong chớp mắt, đứa con yêu quý của họ đã bị cướp đi.

Một lúc lâu, nhà vua và hoàng hậu ngồi lặng đi vì kinh hoàng. Rồi nhà vua chậm chạp đứng dậy, đưa tay cho vợ, dắt bà, lúc ấy vẫn khóc nức nở, vào cung. Suốt bao nhiêu ngày sau đó, thần dân không ai trông thấy họ.

Trong khi đó, con rồng ngậm chiếc nôi giữa hai hàm răng, bay vút lên trời cao, còn đứa bé vẫn ngủ say. Nó bay nhanh tới mức chẳng mấy chốc đã vượt qua biên giới một vương quốc khác. Ở đây, nó lại trông thấy nhà vua và hoàng hậu nước ấy ngồi trong vườn, bên cạnh là một bé gái nằm trong chiếc nôi tuyệt đẹp bằng sa tanh trắng và ren. Nó lại sà xuống từ phía sau như lần trước, sắp chộp lấy chiếc nôi, thì nhà vua nhảy bật dậy, giáng cho nó một gậy bằng cây quyền trượng vàng. Đau quá, con rồng không những giật lùi lại mà còn nhả rơi thằng bé, rồi dang cánh bay vút lên trời, thoát khỏi mọi nguy hiểm.

Nhà vua quay sang vợ. Bà đang ngồi mặt tái mét vì sợ, ôm chặt đứa con vào lòng. Ngài nói:

— Thật là thoát nạn trong gang tấc.

Hoàng hậu thì thào:

— Khiếp quá. Nhưng mình nhìn xem, cái gì lấp lánh nằm đằng kia thế?

Nhà vua đi theo hướng tay bà chỉ, và sửng sốt thấy một chiếc nôi khác, một đứa bé khác.

— A! Hẳn là con quái vật đã cướp đứa bé này, cũng như nó định cướp Gây-rơ-lau.

Ngài cúi xuống, đọc mấy chữ viết trên tấm vải lanh mịn quấn quanh thằng bé: "Đây là Grê-ta-ri, con trai vua Grê-ta-ri!"

Không may, hai ông vua láng giềng này từng xích mích nặng nề với nhau, đã mấy năm nay không đi lại thư từ gì. Vì thế, thay vì cử ngay sứ giả sang báo cho vua Grê-ta-ri biết con trai mình còn sống, nhà vua chỉ nhận đứa bé làm con nuôi, cho nó lớn lên cùng công chúa Gây-rơ-lau.

Một thời gian, hai đứa trẻ sống êm đềm, ngày nào cũng vui như ngày hội. Nhưng rồi tới lúc hoàng hậu không còn chạy thi hay chơi trốn tìm với chúng trong vườn như bà vẫn thích nữa, mà chỉ nằm trên chồng gối êm nhìn chúng chơi. Ít lâu sau, bà thôi cả việc ấy. Người trong cung nói khẽ với nhau, và ngay cả Gây-rơ-lau với Grê-ta-ri cũng bước nhẹ, đi êm mỗi khi tới gần phòng bà. Cuối cùng, một buổi sáng, chính nhà vua cho gọi hai đứa tới. Mắt đỏ hoe vì khóc, ngài báo cho chúng biết hoàng hậu đã mất.

Hai đứa trẻ đau buồn lắm, vì chúng thương hoàng hậu vô cùng, và từ nay cuộc sống không có bà thật tẻ nhạt. Nhưng bà thị nữ trông nom chúng trong ngọn tháp xây cho chúng từ hồi còn bé là người hiền hậu, tốt bụng. Những khi nhà vua bận việc hay đi vắng tới các miền khác trong nước, bà làm cho chúng được vui, và lo cho chúng học mọi điều mà một hoàng tử, một công chúa cần phải biết.

Hai, ba năm trôi qua như thế. Rồi một hôm, khi hai đứa đang nóng lòng chờ vua cha từ một thành phố xa trở về, thì một sứ giả nhà vua sai đi trước phi ngựa hối hả vào sân cung, báo rằng nhà vua sắp đưa về một người vợ mới.

Nhà vua lấy vợ khác thì tự nó cũng chẳng có gì lạ lùng hay đáng sợ. Nhưng bà thị nữ già chẳng mấy chốc đã đoán ra rằng bà hoàng hậu mới, tuy xinh đẹp, lại là một mụ phù thuỷ. Lại dễ thấy mụ ghen ghét bất cứ ai có thể được nhà vua yêu chiều, nên đó là điềm chẳng lành cho Gây-rơ-lau và Grê-ta-ri. Người đàn bà trung thành nằm trằn trọc không ngủ được vì lo cho hai đứa trẻ. Lòng bà càng chùng xuống khi, vài tháng sau đám cưới, chiến tranh nổ ra với một nước bên kia biển, và nhà vua cưỡi ngựa dẫn quân ra trận.

Rồi điều bà lo bấy lâu đã tới. Một đêm, khác hẳn mọi khi, bà ngủ say như chết. Về sau bà tin chắc người ta đã bỏ thuốc mê vào thức ăn của bà. Đêm ấy, mụ phù thuỷ tới ngọn tháp. Mụ đã làm gì ở đó thì không ai biết, chỉ biết rằng khi mặt trời mọc, giường của Grê-ta-ri và Gây-rơ-lau đều trống trơn.

Rạng sáng, hoàng hậu cho gọi mấy tên lính cận vệ tới, bảo rằng mụ được báo mộng sẽ gặp hoạ vì một con thú dữ, và ra lệnh cho chúng đi giết hết mọi con vật trong vòng hai dặm quanh cung điện. Nhưng chúng chỉ gặp đúng hai con ngựa non lông đen tuyệt đẹp, xứng làm ngựa cưỡi của nhà vua. Giết đi thì tiếc quá, mà hai con ngựa non thì làm hại được ai? Vậy là chúng để cho hai con ngựa nhảy nhót chạy đi trên đồng, rồi quay về cung.

Khi chúng lại vào chầu, hoàng hậu hỏi:

— Các ngươi không thấy gì thật sao? Không thấy gì thật sao?

— Tâu lệnh bà, chúng thần không thấy gì cả.

Nhưng hoàng hậu không tin. Bọn lính vừa đi, mụ dặn viên quản gia rằng bữa tối hãy chuốc cho chúng thật nhiều rượu mạnh để chúng ăn nói buông tuồng, rồi lắng nghe chúng lảm nhảm gì thì về báo lại hết cho mụ.

Khuya hôm ấy, viên quản gia xin vào phòng hoàng hậu:

— Tâu lệnh bà, lệnh bà dạy gì, thần đã làm cả. Nhưng rốt cuộc bọn lính đã nói thật với lệnh bà. Thần nghe chúng nói từ đầu tới cuối, chúng chẳng thấy gì ngoài hai con ngựa non lông đen.

Lẽ ra ông còn kể thêm, nhưng ánh mắt rực lửa của hoàng hậu làm ông khiếp sợ. Ông vội cúi chào, lùi nhanh ra khỏi phòng.

Một tuần sau, nhà vua về. Cả triều thần mừng rỡ đón ngài.

— Giờ thì có khi mụ sẽ tìm người khác mà gào thét.

Họ thì thầm với nhau. "Mụ" ở đây là hoàng hậu. Mấy ngày qua mụ trút giận lên đầu kẻ hầu người hạ, dù chẳng ai biết chuyện gì khiến mụ tức tối đến thế. Nhưng dẫu sao, có nhà vua trị vì trong cung thay cho vợ thì mọi sự hẳn sẽ khá hơn.

Không may, niềm vui của họ chẳng được bao lâu. Ngay đêm đầu tiên nhà vua về, hoàng hậu kể lại giấc mộng dữ mụ thấy lúc ngài đi vắng, và nài ngài sáng mai ra ngoài giết hết mọi sinh vật trông thấy trong vòng hai dặm quanh thành. Nhà vua vốn tin hết mọi lời hoàng hậu nói, hứa sẽ làm như ý mụ. Nhưng ngài cưỡi ngựa còn chưa ra khỏi khu vườn xinh đẹp bao quanh cung điện, thì đã bị tiếng hót của hai con chim nhỏ màu xanh lam đậu trên một cây nhựa ruồi quả đỏ níu chân. Tiếng hót ấy khiến ngài nghĩ tới tất cả những gì đẹp đẽ nhất ngài từng nghe hay từng mơ tưởng. Giờ này qua giờ khác, chim vẫn hót, nhà vua vẫn ngồi nghe. Dĩ nhiên ngài không bao giờ ngờ được rằng chính Gây-rơ-lau và Grê-ta-ri đang cất tiếng hót mê hồn ấy. Cuối cùng trời tối, tiếng chim im bặt, nhà vua giật mình tỉnh lại, thì thấy lời hứa với hoàng hậu hôm ấy đã chẳng thể giữ được nữa.

Nhà vua vừa bước vào phòng, hoàng hậu đã hỏi dồn:

— Thế nào? Mình có thấy gì không?

— Chà, mình ơi, ta gần như xấu hổ không dám thú thật. Ta cưỡi ngựa còn chưa tới cổng tây thì tiếng hót của hai con chim nhỏ màu xanh lạ lùng đã làm ta quên hết mọi thứ trên đời. Mình khó mà tin được, nhưng phải tới khi trời tối ta mới nhớ ra mình đang ở đâu, đáng lẽ phải làm gì. Thôi được, ngày mai chẳng gì cản được ta làm theo ý mình.

Hoàng hậu quay đi, mắt loé lên một tia sáng kỳ quái, lẩm bẩm:

— Sẽ chẳng có ngày mai đâu.

Nhưng nhà vua không nghe thấy.

Đêm ấy, nhà vua mở một bữa tiệc lớn trong cung mừng chiến thắng quân thù. Ba người mà hoàng hậu sai đi giết thú dữ đều giữ những chức vụ quan trọng trong cung, vì họ được giao việc hộ vệ hoàng hậu. Những dịp yến tiệc, chỗ của họ bao giờ cũng ngồi sát nhà vua. Thế nên hoàng hậu dễ dàng rắc một thứ thuốc độc ngấm chậm mà chết người vào chén của họ, không ai hay biết. Trước lúc rạng đông, cả cung điện bừng tỉnh vì tin dữ: nhà vua đã băng hà, còn ba viên chỉ huy cận vệ cũng đang hấp hối.

Dĩ nhiên, chẳng ai kêu khóc than vãn to bằng hoàng hậu. Nhưng tang lễ huy hoàng vừa xong, mụ tuyên bố sẽ đóng cửa ở trong một lâu đài xa cho hết năm để tang. Mụ chỉ định một người nhiếp chính, rồi lên đường, chỉ dẫn theo một cô hầu biết hết mọi bí mật của mụ. Vừa rời khỏi cung, mụ vội vàng làm phép, tìm xem Gây-rơ-lau và Grê-ta-ri đang ẩn dưới hình dạng nào.

May thay, công chúa đã từng học phép thuật với một bà giáo cũ, nên đoán ra được âm mưu độc ác của mẹ kế. Nàng vội hoá mình thành một con cá voi, và biến người anh nuôi thành vây của nó. Mụ hoàng hậu liền hoá thành cá mập, đuổi theo.

Suốt mấy tiếng đồng hồ, cá voi và cá mập đánh nhau dữ dội, nước biển quanh đó đỏ ngầu máu. Lúc bên này thắng thế, lúc bên kia thắng thế. Nhưng rồi đám cá nhỏ tụ quanh xem đều thấy rõ phần thắng sẽ về tay cá voi. Quả đúng như vậy. Có điều, sau trận vật lộn kinh hồn, khi con cá mập đã nổi phềnh trên mặt nước, chết hẳn, chẳng còn hại được ai, thì con cá voi cũng kiệt sức. Nó chỉ còn đủ sức lết tấm thân đầy thương tích vào một vịnh nhỏ yên tĩnh. Suốt ba ngày nó nằm đó, im lìm bất động như đã chết. Hết ba ngày, vết thương lành hẳn, nó mới bắt đầu nghĩ xem nên làm gì.

Khi cả hai đã trở lại hình người, ngồi trên một vách đá cao nhìn xuống biển, Gây-rơ-lau bảo Grê-ta-ri:

— Chúng ta về vương quốc của cha anh đi.

Grê-ta-ri, thật ra chẳng khôn ngoan gì, đáp:

— Em giỏi quá! Anh chẳng bao giờ nghĩ ra điều ấy!

Gây-rơ-lau lấy trong áo ra một chiếc hộp nhỏ đựng bột trắng, rắc một ít lên người chàng, một ít lên mình. Nhanh hơn tia chớp, họ đã thấy mình đứng trong khu vườn cung điện, nơi bao nhiêu năm trước con rồng đã cướp Grê-ta-ri đi.

— Bây giờ anh lấy dải băng có chữ vàng buộc lên trán, rồi mạnh dạn đi thẳng vào lâu đài. Và nhớ kỹ, dù khát đến mấy, anh cũng không được uống gì cho tới khi đã nói chuyện với cha anh. Nếu anh uống, tai hoạ sẽ giáng xuống cả hai ta.

Grê-ta-ri trố mắt nhìn nàng:

— Sao anh lại khát được? Đi tới cổng lâu đài mất chưa tới năm phút.

Gây-rơ-lau im lặng, nhưng ánh mắt nàng buồn rầu. Cuối cùng nàng nói:

— Chào anh.

Rồi nàng quay lại hôn chàng.

Grê-ta-ri nói đúng khi bảo rằng đi tới lâu đài mất chưa tới năm phút. Ít nhất thì chẳng ai ngờ được nó lại lâu hơn. Vậy mà, thật lạ, cánh cửa mở rộng tới mức chàng nhìn rõ cả màu những tấm rèm bên trong, cứ như chẳng gần thêm chút nào. Còn mặt trời thì mỗi lúc một gắt hơn, lưỡi chàng khô khốc vì khát.

— Lạ thật! Mình làm sao thế này? Sao mãi mình chưa tới được lâu đài?

Chàng lẩm bẩm. Đầu gối chàng run lẩy bẩy vì mệt, đầu óc quay cuồng. Chàng loạng choạng đi thêm vài bước như người mù, thì bỗng nghe tiếng nước chảy róc rách. Trong một khu rừng nhỏ ven đường, chàng thấy một dòng suối đổ xuống từ một tảng đá. Vừa trông thấy nước, chàng quên sạch lời hứa với Gây-rơ-lau. Chàng xông qua bụi gai, mặc cho gai cào rách áo, nằm sấp xuống bên dòng nước, giật lấy chiếc chén vàng treo trên cành cây, uống một hơi thật dài.

Khi chàng đứng dậy, ký ức về Gây-rơ-lau và về cuộc đời đã qua đều biến mất. Thay vào đó, có cái gì mơ hồ cựa quậy trong lòng chàng khi trông thấy một ông già và một bà già tóc bạc đứng nơi cửa mở, giang tay về phía chàng.

— Grê-ta-ri! Grê-ta-ri! Cuối cùng con đã về!

Gây-rơ-lau chờ ba tiếng đồng hồ ở chỗ Grê-ta-ri để nàng lại, rồi nàng bắt đầu hiểu chuyện gì đã xảy ra. Lòng nàng nặng trĩu, nhưng nàng chẳng mấy chốc đã quyết định phải làm gì. Nàng rẽ lối ra khỏi khu rừng, men theo bức tường cao bao quanh vườn ngự, tới một căn nhà nhỏ của bác gác rừng sống cùng hai cô con gái.

Một trong hai cô gái ra mở cửa. Gây-rơ-lau hỏi:

— Nhà mình có cần người quét dọn, vắt sữa bò không?

— Cần lắm. Trông chị khoẻ mạnh, sạch sẽ, nếu chị muốn thì chúng tôi nhận chị làm người giúp việc. Nhưng trước hết chị tên là gì?

Gây-rơ-lau đáp ngay:

— Lau-phéc-ta.

Nàng không muốn ai biết mình là ai. Nàng theo cô chủ mới vào nhà, xin được dạy việc ngay. Nàng khéo léo tới mức chẳng bao lâu khắp nơi đồn rằng cô gái lạ tới ở nhà bác gác rừng vừa giỏi giang vừa xinh đẹp, cả nước không ai bằng.

Năm tháng cứ thế trôi, Gây-rơ-lau lớn lên thành một thiếu nữ. Thỉnh thoảng nàng thoáng thấy Grê-ta-ri cưỡi ngựa đi săn trong rừng. Nhưng hễ thấy chàng tới là nàng nấp sau những thân cây to, vì lòng nàng vẫn còn đau vì chàng đã quên nàng. Thế nhưng một hôm, khi nàng đang hái thuốc, chàng bất chợt xuất hiện, nàng không kịp trốn. Có điều nàng đã nhuộm mặt và tay cho sạm nâu, lại trùm mái tóc đẹp dưới một chiếc mũ đỏ, nên chàng không nhận ra cô em nuôi ngày trước.

— Cô gái xinh đẹp, cô tên là gì?

Cô gái nhún mình chào thật thấp:

— Lau-phéc-ta.

— À, thì ra cô là người ta nghe đồn nhiều đến thế. Cô đẹp quá, phí cả đời đi hầu hạ con gái bác gác rừng. Hãy theo ta về cung, mẹ ta, hoàng hậu, sẽ cho cô làm thị nữ.

— Thật thế thì là vận may lớn. Nếu chàng nói thật, em sẽ đi theo chàng. Nhưng làm sao em biết được chàng không đùa?

Chàng trai hăm hở kêu lên:

— Hãy bảo ta làm một việc gì cho cô, bất kể việc gì, ta cũng làm.

Nàng cụp mắt xuống:

— Chàng hãy ra chuồng, buộc con bê trong ấy lại, kẻo đêm nó sổng ra đi lạc. Bác gác rừng và hai cô con gái đối xử với em tử tế, em không muốn bỏ đi mà còn để dở việc gì.

Thế là Grê-ta-ri ra chuồng, quấn sợi thừng quanh sừng con bê. Nhưng buộc chặt nó vào tường xong, chàng thấy một vòng dây đã quấn quanh cổ tay mình, giật mãi cũng không ra. Suốt đêm chàng vặn vẹo, vùng vẫy, tới khi mệt gần chết. Nhưng khi mặt trời mọc, sợi dây bỗng tự tuột ra. Chàng giận cô gái lắm, lê bước về cung.

— Nó là phù thuỷ. Ta chẳng dính dáng gì tới nó nữa.

Chàng làu bàu, rồi quăng mình lên giường ngủ suốt ngày.

Ít lâu sau chuyện ấy, nhà vua và hoàng hậu cử người con trai yêu quý đi sứ sang một nước láng giềng, chọn vợ trong số bảy nàng công chúa. Dĩ nhiên người được chọn là nàng đẹp nhất, và đôi trẻ lên thuyền về ngay nước của cha mẹ hoàng tử. Gió thuận, thuyền nhanh, nên chẳng mấy chốc đã cập bến cảng gần lâu đài nhất, sớm hơn ai nấy tưởng. Một cỗ xe lộng lẫy đã để sẵn gần bãi biển, nhưng không tìm đâu ra ngựa, vì ngựa đã bị đưa đi hết để dự cuộc duyệt binh lớn nhà vua tổ chức hôm ấy mừng đám cưới con trai.

Khi Grê-ta-ri kể cho công chúa nghe cảnh khó xử của họ, nàng gắt gỏng:

— Tôi không ngồi đây cả ngày được. Tôi đã mệt rã rời rồi. Chàng phải tìm cái gì kéo xe đi, dù chỉ là con lừa cũng được. Không thì tôi đi thuyền về thẳng nhà cha tôi.

Grê-ta-ri khốn khổ băn khoăn lắm trước những lời ấy. Không phải chàng yêu nàng lắm, vì suốt chuyến đi biển nàng đã mấy lần tỏ cho chàng thấy nàng kiêu căng và cáu kỉnh thế nào. Nhưng là hoàng tử, lại là chú rể, dĩ nhiên chàng không thể để nàng chịu một chút coi thường nào. Chàng vội sai người hầu đi tìm con vật gì đó, đem ngay về chỗ họ đang chờ.

Trong lúc chờ lâu, công chúa ngồi trong cỗ xe vàng tuyệt đẹp, quấn chặt tấm áo choàng nhung xanh rắc đầy những con ong bạc, kín tới mức chẳng ai thấy được đến chóp mũi nàng. Cuối cùng có một cô gái lùa một con bò non đi tới, theo sau là một người đưa tin của hoàng tử đang nói chuyện rối rít.

Grê-ta-ri nhảy xuống, ra đón họ:

— Cô gái xinh đẹp, cô cho ta mượn con bò được không? Cô cứ tự định giá, ta sẽ trả không tiếc, vì xưa nay chưa có con vua nào lâm cảnh khó như thế này.

— Giá của tôi là ba chỗ ngồi cho tôi và hai người bạn, ngay sau lưng chàng và cô dâu trong tiệc cưới.

Grê-ta-ri mừng rỡ nhận lời ngay.

Sáu con ngựa cũng không kéo nổi cỗ xe đi nhanh bằng con bò này. Cây cối, đồng ruộng vùn vụt lùi lại phía sau, cô dâu chóng cả mặt, lại còn đinh ninh rằng xe sắp lật tới nơi. Nhưng sợ thì sợ, chẳng có chuyện gì xảy ra, và cỗ xe dừng lại an toàn trước cửa cung, làm nhà vua và hoàng hậu ngạc nhiên vô cùng.

Việc sửa soạn đám cưới được đẩy gấp lên, cuối tuần thì mọi thứ đã sẵn sàng. Có lẽ cũng may là trong mấy ngày ấy công chúa mải lo áo quần, châu báu, chẳng mấy để ý tới Grê-ta-ri. Nhờ vậy, tới ngày cưới, chàng gần như đã quên nàng cáu kỉnh, thô lỗ thế nào trên đường về.

Những ông già bà cả lâu năm nhất trong thành đều nói rằng xưa nay chưa thấy đám rước dâu nào lộng lẫy như đám rước vào đại sảnh hôm ấy, nơi sẽ bày tiệc trước khi cử hành hôn lễ trong cung. Công chúa vui vẻ hẳn lên, vì thấy mọi con mắt đều đổ dồn vào mình. Nàng cúi chào, mỉm cười khắp bên phải bên trái. Nắm tay hoàng tử, nàng kiêu hãnh lướt dọc căn phòng, nơi khách khứa đã tề tựu đông đủ, tới chỗ của mình ở đầu bàn tiệc, bên cạnh chú rể. Đúng lúc ấy, ba người đàn bà lạ mặc áo lấp lánh màu xanh lam, xanh lá và đỏ lặng lẽ lướt vào, ngồi xuống một chiếc ghế dài còn trống ngay sau lưng đôi trẻ. Người mặc áo đỏ chính là Gây-rơ-lau, đi cùng hai cô con gái bác gác rừng. Một tay nàng cầm chiếc đũa bằng vỏ cây bạch dương, tay kia xách một chiếc giỏ đậy kín.

Ba người lặng lẽ ngồi trong khi tiệc diễn ra. Hầu như chẳng ai để ý tới họ, mà nếu có để ý thì cũng tưởng họ là người hầu của bà hoàng hậu tương lai. Bỗng, đúng lúc tiệc vui nhất, Gây-rơ-lau mở chiếc giỏ. Một con gà trống và một con gà mái bay ra. Trước con mắt sửng sốt của mọi người, hai con gà bay vòng vòng trước mặt đôi trẻ, con gà trống cứ nhổ lông đuôi con gà mái, con gà mái cố trốn mà không thoát.

Cuối cùng con gà mái kêu lên:

— Anh định đối xử với em tệ bạc như Grê-ta-ri đã đối xử với Gây-rơ-lau sao?

Grê-ta-ri nghe thấy, đứng bật dậy như người mất hồn. Trong chớp mắt, cả quá khứ ùa về. Chàng quên bẵng cô công chúa ngồi bên cạnh, chỉ còn thấy gương mặt cô bé chàng từng chơi đùa bao năm về trước.

— Gây-rơ-lau đâu?

Chàng kêu lên, nhìn quanh đại sảnh, và mắt chàng dừng lại ở người đàn bà lạ. Nàng mỉm cười, giơ ra một chiếc nhẫn. Đó là chiếc nhẫn chàng tặng nàng hôm nàng tròn mười hai tuổi, khi họ còn là trẻ con, chưa hề nghĩ gì tới tương lai.

— Nàng, chứ không ai khác, sẽ là vợ ta.

Chàng nói, nắm lấy tay nàng, dẫn ra giữa đám đông.

Cảnh tượng sau đó thật khó mà tả cho hết. Dĩ nhiên chẳng ai hiểu chuyện gì đã xảy ra, và nhà vua cùng hoàng hậu tưởng con trai mình bỗng dưng hoá điên. Còn cơn giận dữ, điên tiết của cô công chúa thì không ai tin nổi. Khách khứa vội vã rời khỏi đại sảnh để hoàng gia tự thu xếp việc nhà. Rốt cuộc, người ta thoả thuận rằng cô công chúa bị chê bỏ sẽ được nửa vương quốc thay cho một người chồng. Nàng lên thuyền về nước ngay, và chẳng bao lâu đính hôn với một chàng quý tộc trẻ mà thật lòng nàng ưa hơn Grê-ta-ri nhiều.

Chiều hôm ấy, Grê-ta-ri cưới Gây-rơ-lau. Họ sống hạnh phúc cho tới lúc chết, và làm cho cả thần dân của mình cũng được hạnh phúc.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện dân gian Ai-xơ-len, theo bản Đức Neuisländische Volksmärchen của J. C. Poestion (1884); dịch từ bản tiếng Anh Geirlaug the King's Daughter, Andrew Lang, The Olive Fairy Book, 1907
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →