Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cổng Ra-sô-môn

của Akutagawa Ryūnosuke

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 11.537 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Một buổi chiều nọ, có một gã đầy tớ…
  2. 1:49Tác giả vừa viết rằng gã đầy tớ đứng…
  3. 4:16Mấy phút sau. Ở lưng chừng chiếc thang rộng…
  4. 6:10Sáu phần sợ hãi, bốn phần tò mò, gã…
  5. 7:39Mụ kia, định chạy đi đâu?
  6. 8:55Mụ già càng trợn to đôi mắt vốn đã…
  7. 10:26Gã đã tra kiếm vào vỏ, tay trái đè…
  8. 11:35Ít lâu sau, mụ già nằm sóng soài như…

Một buổi chiều nọ, có một gã đầy tớ đứng dưới cổng Ra-sô-môn chờ tạnh mưa.

Dưới mái cổng rộng, ngoài gã ra không còn ai. Chỉ có một con dế đậu trên cây cột tròn to tướng, lớp sơn son đã tróc lở từng mảng. Cổng Ra-sô-môn nằm ngay trên đại lộ Chu Tước, lẽ ra phải có thêm vài người trú mưa nữa, một bà đội nón lá rộng vành, một ông đội mũ ô sa mềm. Vậy mà ngoài gã, chẳng có ai.

Là vì mấy năm nay, kinh đô liên tiếp gặp tai ương, nào động đất, nào gió lốc, nào hoả hoạn, nào đói kém. Cảnh tiêu điều trong thành thật không sao kể xiết. Sử cũ chép rằng người ta đập vỡ cả tượng Phật, đồ thờ, chất những mảnh gỗ còn dính sơn son, còn dát vàng dát bạc ấy bên đường, đem bán làm củi. Trong thành đã vậy thì việc sửa sang cổng Ra-sô-môn, dĩ nhiên chẳng ai còn đoái hoài. Thấy cổng hoang phế, cáo chồn kéo đến ở. Kẻ trộm kéo đến ở. Rồi tới sau cùng, người ta còn quen lệ mang những xác chết không ai nhận lên cổng này mà vứt bỏ. Vì thế, hễ mặt trời khuất là ai nấy đều sợ, không ai dám bén mảng tới gần cổng nữa.

Bù lại, quạ ở đâu kéo đến rất đông. Ban ngày nhìn lên, thấy từng bầy quạ bay lượn thành vòng, vừa bay vừa kêu quanh đôi đầu đao cao vút trên nóc. Nhất là những khi trời chiều đỏ ối phía trên cổng, đàn quạ hiện lên rõ mồn một, như ai rắc một nắm vừng đen lên nền trời. Quạ đến đây, dĩ nhiên là để mổ thịt những xác chết nằm trên lầu cổng. Có điều hôm nay, có lẽ vì trời đã muộn, không thấy một con nào. Chỉ thấy trên những bậc đá sắp sụp, cỏ mọc dài ở các khe nứt, lấm tấm những vệt phân quạ trắng đóng khô.

Gã đầy tớ ngồi trên bậc cao nhất trong bảy bậc đá, chiếc áo chẽn màu chàm đã giặt bạc thếch. Gã vừa mân mê cái mụn bọc to tướng mọc trên má phải, vừa thẫn thờ nhìn mưa rơi.

Tác giả vừa viết rằng gã đầy tớ đứng chờ tạnh mưa. Nhưng thật ra, mưa có tạnh thì gã cũng chẳng biết đi đâu. Ngày thường, lẽ dĩ nhiên gã sẽ về nhà chủ. Có điều bốn năm hôm trước, gã đã bị chủ đuổi. Như đã nói, kinh đô hồi ấy suy tàn đến cùng cực. Gã bị người chủ mình hầu hạ bao nhiêu năm cho thôi việc, thật ra cũng chỉ là một gợn sóng nhỏ của cơn suy tàn ấy. Cho nên nói gã đứng chờ tạnh mưa, chẳng bằng nói gã bị mưa giam chân, không còn chốn nào để về, đang bơ vơ không biết tính sao. Thêm nữa, sắc trời hôm nay cũng góp phần không nhỏ làm lòng gã thêm sầu muộn. Mưa bắt đầu rơi từ quá giờ Thân, đến giờ vẫn chưa có dấu hiệu ngớt. Gã ngồi đó, trước hết là phải lo xem ngày mai sống bằng gì. Tức là phải tìm cách xoay xở cái việc không sao xoay xở nổi. Đầu óc gã cứ lần theo những ý nghĩ chẳng ra đâu vào đâu, tai thì nghe mà như không nghe tiếng mưa rơi trên đại lộ Chu Tước.

Mưa bao trùm cổng Ra-sô-môn, gom từ xa xa về một tiếng ào ào. Bóng chiều cứ hạ thấp dần bầu trời. Ngước lên thì thấy mái cổng, với những mũi ngói chìa xiên ra, như đang đỡ lấy những đám mây nặng nề u ám.

Muốn xoay xở cái việc không sao xoay xở nổi thì không còn thì giờ mà lựa chọn cách làm. Còn lựa chọn thì chỉ có nước chết đói dưới chân tường đất hay trên mặt đường. Rồi bị khiêng lên cổng này, vứt bỏ như một con chó. Nếu không lựa chọn… Ý nghĩ của gã đi đi lại lại mãi trên cùng một con đường, rốt cuộc mới chạm được tới chỗ này. Nhưng cái chữ nếu ấy, bao lâu vẫn chỉ là nếu. Gã đã chấp nhận rằng không thể lựa chọn cách làm. Nhưng để gỡ cho xong cái chữ nếu, đương nhiên phải đi tới điều kế tiếp: ngoài làm kẻ cướp ra, không còn cách nào khác. Vậy mà gã vẫn chưa có đủ can đảm để dứt khoát nhận lấy điều ấy.

Gã hắt hơi một cái thật to, rồi uể oải đứng lên. Chiều xuống, kinh đô lạnh tới mức đã thèm một lò than sưởi. Gió theo bóng tối lùa qua giữa hai hàng cột không chút nể nang. Con dế đậu trên cột sơn son cũng đã đi đâu mất.

Gã rụt cổ lại, so cao đôi vai áo chàm khoác ngoài lớp áo lót màu vàng hoa sơn trà, rồi đưa mắt nhìn quanh cổng. Gã nghĩ, nếu có chỗ nào không bị mưa gió, không bị ai trông thấy, có thể nằm yên một đêm, thì cứ tạm qua đêm ở đó đã. May sao, gã chợt thấy một chiếc thang gỗ rộng, cũng sơn son, bắc lên lầu trên cổng. Ở trên ấy, có ai đi nữa thì cũng chỉ là người chết. Gã bèn đè tay giữ thanh kiếm đeo bên hông cho khỏi tuột khỏi vỏ, rồi đặt bàn chân xỏ dép rơm lên bậc thang thấp nhất.

Mấy phút sau. Ở lưng chừng chiếc thang rộng dẫn lên lầu cổng Ra-sô-môn, có một gã đàn ông co mình như con mèo, nín thở dòm ngó tình hình phía trên. Ánh lửa từ trên lầu hắt xuống, le lói soi ướt má phải của gã. Đó là cái má lún phún râu ngắn, có một cái mụn bọc đỏ mưng mủ. Ngay từ đầu, gã đinh ninh trên ấy chỉ toàn người chết. Thế mà vừa leo được hai ba bậc, gã đã thấy hình như có ai đang thắp lửa trên đó, lại còn đưa ngọn lửa đi chỗ này chỗ kia. Ánh sáng vàng đục chập chờn in lên trần nhà, nơi góc nào cũng giăng mạng nhện, nên gã biết ngay. Đêm mưa thế này, trên lầu cổng Ra-sô-môn này mà có người thắp lửa, thì hẳn không phải người thường.

Gã rón rén như con thạch sùng, gần như bò lên tới bậc thang trên cùng. Rồi gã ép người xuống thật thấp, vươn cổ ra thật dài, run run nhìn vào trong lầu.

Trong lầu, đúng như lời đồn, có mấy cái xác bị vứt bừa bãi. Nhưng ánh lửa chỉ soi được một khoảng hẹp hơn gã tưởng, nên không biết có bao nhiêu xác. Chỉ lờ mờ thấy rằng có xác trần truồng, có xác còn mặc áo. Dĩ nhiên trong đó có cả đàn bà lẫn đàn ông. Những cái xác ấy, cái thì há miệng, cái thì duỗi tay, nằm lăn lóc trên sàn như những hình nhân nặn bằng đất, đến nỗi khó mà tin được rằng đã có lúc họ là người sống. Ánh lửa mờ mờ rọi lên những chỗ nhô cao như vai, như ngực, khiến những chỗ trũng càng tối thêm. Và họ cứ thế câm lặng mãi mãi, như người câm.

Mùi xác thối xộc lên, gã bất giác đưa tay bịt mũi. Nhưng ngay giây sau, bàn tay ấy đã quên bịt mũi. Bởi một cảm xúc mãnh liệt đã cướp mất gần hết khứu giác của gã.

Lúc ấy, lần đầu tiên, mắt gã nhìn thấy một con người đang ngồi xổm giữa đám xác chết. Đó là một mụ già thấp bé, gầy gò, tóc bạc trắng, mặc áo màu vỏ cây bách, trông như một con khỉ. Tay phải mụ cầm một thanh gỗ thông đang cháy, cúi sát nhìn vào mặt một cái xác. Xem mái tóc dài ấy thì chắc là xác đàn bà.

Sáu phần sợ hãi, bốn phần tò mò, gã đứng sững, có lúc quên cả thở. Mượn lời người chép sử xưa mà nói, gã thấy tóc gáy dựng đứng cả lên. Rồi mụ già cắm thanh gỗ thông vào kẽ ván sàn, đưa hai tay ôm lấy đầu cái xác mà mụ đang nhìn, và cứ như khỉ mẹ bắt chấy cho khỉ con, mụ bắt đầu nhổ từng sợi tóc dài. Tóc cứ theo tay mụ mà tuột ra.

Mỗi sợi tóc tuột ra, nỗi sợ trong lòng gã lại vơi đi một chút. Và cùng lúc ấy, một mối căm ghét dữ dội đối với mụ già cũng nhen lên dần. Mà không, nói căm ghét mụ già có lẽ chưa đúng. Đúng hơn là lòng căm ghét mọi điều ác cứ mỗi phút một mạnh thêm. Giá như lúc này có ai đem cái câu hỏi gã vừa tự hỏi dưới chân cổng ra hỏi lại, rằng chết đói hay làm kẻ cướp, thì hẳn gã sẽ chọn chết đói chẳng chút đắn đo. Lòng ghét cái ác trong gã lúc ấy đã bốc lên phừng phừng, như thanh gỗ thông mụ già cắm trên sàn.

Dĩ nhiên gã không hiểu tại sao mụ già lại nhổ tóc người chết. Vì thế, xét theo lẽ phải, gã không biết nên xếp việc ấy vào điều thiện hay điều ác. Nhưng đối với gã, đêm mưa này, trên lầu cổng Ra-sô-môn này, nhổ tóc người chết, chỉ chừng ấy thôi đã là một tội ác không thể tha thứ. Còn chuyện vừa nãy chính gã cũng định đi làm kẻ cướp, thì dĩ nhiên gã đã quên sạch từ lâu.

Thế là gã dồn sức vào hai chân, bất thình lình nhảy phắt từ thang lên. Rồi tay đặt lên chuôi kiếm, gã sải bước đến trước mặt mụ già. Mụ già giật nảy mình, khỏi phải nói.

Vừa trông thấy gã, mụ bật dậy như bị nỏ bắn.

— Mụ kia, định chạy đi đâu?

Gã quát, chặn đường mụ già đang cuống cuồng bỏ chạy, chân vấp cả vào xác chết. Mụ vẫn cố xô gã ra để chạy. Gã lại đẩy mụ trở lại, không cho đi. Giữa đám xác chết, hai người vật lộn với nhau một lúc, không ai nói một lời. Nhưng ai thắng ai thua thì đã rõ từ đầu. Cuối cùng gã tóm lấy cánh tay mụ, vặn mạnh, quật mụ ngã xuống sàn. Cánh tay chỉ còn da bọc xương, y như cẳng gà.

— Mụ làm gì ở đây? Nói! Không nói thì biết tay ta!

Gã đẩy mụ ra, rút phắt thanh kiếm khỏi vỏ, chìa ánh thép trắng lạnh ngay trước mắt mụ. Nhưng mụ già vẫn im lặng. Hai tay mụ run lẩy bẩy, vai thở hổn hển, mắt trợn trừng tưởng như con ngươi sắp lòi ra khỏi hốc, mà vẫn lì lợm câm lặng như người câm. Thấy thế, lần đầu tiên gã nhận ra rành rọt rằng sống chết của mụ già này hoàn toàn nằm trong tay mình. Và ý nghĩ ấy, chẳng biết từ lúc nào, đã làm nguội đi lòng căm ghét đang bừng bừng khi nãy. Cái còn lại chỉ là niềm đắc ý, thoả mãn yên ổn của kẻ vừa làm xong một việc trọn vẹn. Gã nhìn xuống mụ già, giọng dịu đi đôi chút:

— Ta không phải lính sở tuần sát kinh thành đâu. Ta chỉ là kẻ đi đường vừa qua dưới cổng này thôi. Cho nên ta chẳng trói mụ hay làm gì mụ cả. Mụ chỉ cần nói cho ta biết, giờ này mụ ở trên cổng làm gì, thế là được.

Mụ già càng trợn to đôi mắt vốn đã mở trừng, chòng chọc nhìn mặt gã. Đôi mắt viền mi đỏ ké, sắc lẻm như mắt loài chim ăn thịt. Rồi mụ mấp máy đôi môi nhăn nheo, nhăn tới mức gần như dính liền vào mũi, như đang nhai một thứ gì. Có thể thấy trái cổ nhọn hoắt trồi sụt trong cái cổ gầy. Rồi từ cái cổ họng ấy, một giọng nói khàn khàn như tiếng quạ kêu, đứt quãng từng hơi, lọt vào tai gã:

— Nhổ tóc này, nhổ tóc này… để làm bộ tóc giả đấy mà.

Câu trả lời tầm thường quá đỗi khiến gã thất vọng. Và cùng với nỗi thất vọng, mối căm ghét lúc nãy lại len trở vào lòng gã, kèm theo một niềm khinh bỉ lạnh lùng. Có lẽ mụ già cũng nhận ra vẻ mặt ấy. Tay vẫn còn nắm nhúm tóc dài vừa nhổ từ đầu cái xác, mụ lắp bắp, giọng ồm ồm như tiếng cóc kêu:

— Phải, nhổ tóc người chết thì có lẽ là việc xấu lắm. Nhưng mấy người chết ở đây, toàn là hạng đáng bị người ta làm thế cả. Như con mụ mà ta vừa nhổ tóc đây này, nó đem rắn chặt thành từng khúc ngắn chừng một gang tay, phơi khô, rồi bảo là cá khô, mang tới trại lính canh mà bán. Nếu không mắc dịch mà chết thì chắc giờ nó vẫn còn đi bán. Mà nghe đâu bọn lính khen cá khô của nó ngon, bữa nào cũng mua về làm đồ ăn. Ta chẳng cho việc nó làm là xấu. Không làm thì chết đói, nên đành phải làm thôi. Cho nên, việc ta đang làm đây, ta cũng chẳng cho là xấu. Không làm thì cũng chết đói, nên đành phải làm thôi. Vậy thì con mụ này, nó hiểu thấu cái sự đành phải làm ấy, chắc nó cũng rộng lòng mà bỏ qua cho ta.

Mụ già nói đại ý như thế.

Gã đã tra kiếm vào vỏ, tay trái đè lên chuôi kiếm, lạnh lùng nghe mụ nói. Dĩ nhiên, tay phải gã vẫn mân mê cái mụn bọc đỏ mưng mủ trên má. Nhưng càng nghe, trong lòng gã càng nảy ra một thứ can đảm. Đó chính là thứ can đảm gã còn thiếu khi ngồi dưới chân cổng lúc nãy. Và đó cũng là thứ can đảm đi theo hướng hoàn toàn ngược lại với thứ can đảm đã đẩy gã lên cổng tóm lấy mụ già. Giờ đây, gã không những chẳng còn phân vân giữa chết đói và làm kẻ cướp. Mà với tâm trạng gã lúc này, cái chuyện chết đói đã bị đẩy văng ra ngoài ý nghĩ, gần như không còn nghĩ tới được nữa.

— Thật thế chứ?

Mụ già vừa dứt lời, gã hỏi vặn lại bằng giọng giễu cợt. Rồi gã bước lên một bước, bất ngờ buông tay phải khỏi cái mụn, túm lấy cổ áo mụ, gằn giọng như muốn cắn:

— Vậy thì ta lột áo mụ, mụ cũng đừng oán ta nhé. Ta mà không làm thế thì cũng chết đói thôi.

Gã nhanh tay lột phăng chiếc áo của mụ già. Rồi mụ níu lấy chân gã, gã thẳng chân đạp mụ ngã nhào lên đống xác chết. Từ đó tới miệng thang chỉ vỏn vẹn năm bước chân. Gã cắp chiếc áo màu vỏ cây bách vừa lột được vào nách, chỉ trong chớp mắt đã lao xuống chiếc thang dốc đứng, chìm vào đáy đêm.

Ít lâu sau, mụ già nằm sóng soài như chết khi nãy mới gượng tấm thân trần truồng ngồi dậy giữa đám xác. Miệng lẩm bẩm, rên rỉ, mụ lần theo ánh lửa vẫn còn cháy, bò tới miệng thang. Rồi từ đó, mụ thò mái tóc bạc ngắn ngủn chúc xuống, nhìn xuống chân cổng. Bên ngoài chỉ có đêm đen thăm thẳm.

Không ai biết gã đầy tớ đã đi đâu.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAkutagawa Ryūnosuke (1892 – 1927)
Năm mất1927
Xuất bản lần đầu1915
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: 羅生門 (Rashōmon), Akutagawa Ryūnosuke, tạp chí Teikoku Bungaku, 1915
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →