Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Công vàng và bảy đời thợ săn

của Kinh Bổn Sinh (Jataka)

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 12.890 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành…
  2. 2:35Nhưng một hôm, có một người thợ săn sống…
  3. 3:56Vua an ủi hoàng hậu như thế, rồi ra…
  4. 5:20Hoàng hậu yêu quý của ta chết là tại…
  5. 8:13Còn con công thì nghĩ: "Gã thợ săn này…
  6. 9:47Khi mọi loài có sự sống đều không còn…
  7. 11:51Công nói:
  8. 13:54Hết thảy những con chim tôi đã bắt, hàng…

Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, đức Bồ Tát đầu thai vào bụng một con công mái ở một miền biên giới. Đến kỳ, công mẹ đẻ trứng ngay ở chỗ kiếm ăn rồi bỏ đi. Trứng của một con mẹ khoẻ mạnh thì chẳng hề hấn gì, nếu không gặp rắn rết hay loài gặm nhấm. Vì thế, quả trứng màu vàng như nụ hoa ca-ni-ca-ra ấy, đến ngày đủ tháng, tự nứt ra, và từ trong trứng chui ra một chú công con màu vàng óng, hai mắt đỏ như hạt cam thảo dây, mỏ màu san hô, ba vệt đỏ chạy quanh cổ và chạy dọc giữa lưng.

Lớn lên, thân công to bằng chiếc xe đẩy của người buôn bán, trông rất đẹp mắt. Cả đàn công màu sẫm tụ họp lại, tôn chú lên làm vua.

Một hôm, đang uống nước bên vũng nước, công nhìn thấy bóng mình đẹp đẽ, nghĩ: "Ta đẹp nhất trong loài công. Nếu cứ ở với chúng gần chỗ đường đi lối lại của con người, ta sẽ gặp nguy. Ta sẽ lên miền núi Tuyết, sống một mình ở một chốn dễ chịu."

Thế là ban đêm, khi cả đàn công đã ngủ yên trong chỗ ẩn của mình, công lặng lẽ ra đi lên miền núi Tuyết, không một ai hay biết. Công vượt qua ba dãy núi, rồi dừng lại ở dãy núi thứ tư.

Ở đó có một khu rừng, trong rừng có một cái hồ thiên nhiên mênh mông, phủ kín hoa sen. Không xa hồ, cạnh một ngọn đồi, có một cây đa khổng lồ. Công đậu xuống cành cây đa ấy. Trong lòng ngọn đồi có một cái hang rất đẹp. Muốn ở trong hang, công đậu xuống một mỏm đất bằng ngay trước cửa hang. Chỗ ấy, từ dưới trèo lên hay từ trên trèo xuống đều không được. Ở đó chẳng phải sợ chim dữ, mèo rừng, rắn rết hay con người.

"Đây đúng là chốn tuyệt vời cho ta!" Công nghĩ vậy.

Hôm ấy công ở lại đó. Sáng hôm sau, công ra khỏi hang, đậu trên đỉnh đồi, mặt hướng về phía đông. Thấy vầng mặt trời nhô lên, công đọc lời nguyện để giữ mình bình an suốt ngày hôm ấy:

— Kìa vầng dương đang lên, vị vua nhìn thấu muôn nơi, xin che chở cho tôi qua ngày hôm nay.

Đọc xong, công đi kiếm ăn. Chiều tối công lại về, đậu trên đỉnh đồi, mặt hướng về phía tây. Thấy vầng mặt trời khuất dần, công đọc lời nguyện để giữ mình bình an suốt đêm:

— Kìa vầng dương đang lặn, vị vua nhìn thấu muôn nơi, xin che chở cho tôi qua đêm nay.

Ngày tháng của công trôi qua như thế.

Nhưng một hôm, có một người thợ săn sống trong rừng trông thấy công đậu trên đỉnh đồi. Anh ta về nhà, không nói với ai. Đến lúc sắp chết, anh mới kể cho con trai:

— Con ơi, ở dãy núi thứ tư, trong khu rừng ấy, có một con công vàng. Nếu nhà vua cần thì con biết chỗ mà tìm.

Một hôm, hoàng hậu chính cung của vua Ba-la-nại, tên là Khê-ma, nằm mộng lúc trời gần sáng. Trong mộng, bà thấy một con công vàng đang giảng đạo, bà ngồi nghe, lòng tán thành. Giảng xong, con công đứng dậy định đi, bà kêu lên: "Vua công trốn mất kìa, bắt lấy nó!" Vừa kêu xong thì bà tỉnh giấc.

Tỉnh dậy, biết đó chỉ là giấc mộng, bà nghĩ: "Nếu ta tâu với vua rằng đó là giấc mộng thì vua chẳng để tâm. Nhưng nếu ta nói đó là cơn thèm của người có mang thì vua sẽ để tâm ngay."

Thế là bà làm như người có mang đang thèm thứ gì đó, nằm bẹp trên giường. Vua tới thăm, hỏi bà đau ốm gì.

— Thiếp đang thèm một thứ.

— Nàng thèm gì?

— Tâu bệ hạ, thiếp muốn được nghe một con công lông vàng giảng đạo.

— Nhưng nàng ơi, lấy đâu ra con công như thế?

— Tâu bệ hạ, nếu không tìm được thì thiếp chết mất.

— Nàng đừng lo. Nếu ở đâu có con công như thế thì nhất định sẽ bắt về cho nàng.

Vua an ủi hoàng hậu như thế, rồi ra ngồi, hỏi các quan:

— Này các khanh, hoàng hậu của ta muốn nghe một con công vàng giảng đạo. Trên đời có công vàng không?

— Tâu bệ hạ, các thầy bà-la-môn sẽ biết.

Vua hỏi các thầy bà-la-môn. Họ tâu:

— Tâu đại vương, trong những câu kệ về các tướng tốt của chúng thần có nói: trong các loài sống dưới nước thì cá, rùa, cua, trong các loài sống trên cạn thì nai, ngỗng trời, công, gà gô, những loài ấy cũng như loài người, đều có thể có màu vàng.

Vua bèn cho tập hợp hết thợ săn trong nước, hỏi đã có ai từng thấy con công vàng chưa. Ai cũng nói chưa, chỉ trừ người con trai đã được cha kể cho nghe điều mình trông thấy. Người ấy tâu:

— Chính thần chưa từng thấy, nhưng cha thần đã chỉ cho thần một nơi có con công vàng.

Vua bảo:

— Này anh, đây là chuyện sống chết của ta và hoàng hậu. Hãy bắt con công ấy về đây cho ta.

Vua ban cho anh rất nhiều tiền rồi cho anh lên đường. Anh đưa tiền lại cho vợ con, rồi tới chỗ ấy, trông thấy bậc Đại Sĩ. Anh giăng bẫy, ngày nào cũng tự nhủ thế nào con công cũng sa bẫy, vậy mà rồi anh chết đi vẫn chưa bắt được. Hoàng hậu cũng chết mà chẳng được thoả ước nguyện.

Nhà vua nổi giận, nói:

— Hoàng hậu yêu quý của ta chết là tại con công này!

Vua cho khắc câu chuyện lên một tấm thẻ vàng, rằng ở dãy núi thứ tư miền núi Tuyết có một con công vàng, ai ăn được thịt nó sẽ mãi trẻ trung và không bao giờ chết. Vua cất tấm thẻ vàng vào kho báu, rồi sau đó qua đời.

Vị vua sau lên ngôi, đọc những dòng chữ trên tấm thẻ vàng, muốn được bất tử và mãi trẻ trung, bèn sai một người thợ săn đi bắt công. Nhưng người thợ săn cũng chết như người trước.

Cứ như thế, sáu đời vua nối nhau lên ngôi rồi qua đời, sáu người thợ săn chết trên núi Tuyết mà không bắt được công.

Người thợ săn thứ bảy, do vị vua thứ bảy sai đi, suốt bảy năm trời ngày nào cũng chắc mẩm sẽ bắt được, mà vẫn không bắt nổi. Anh bắt đầu lấy làm lạ, vì sao chân con công này không bao giờ mắc bẫy. Anh rình xem con chim, thấy sáng nào chiều nào nó cũng đọc lời nguyện để giữ mình. Anh suy ra: "Ở đây không có con công nào khác. Rõ ràng đây là một con chim sống đời thánh thiện. Chính nhờ đức hạnh và lời nguyện che chở mà chân nó không bao giờ mắc vào bẫy của ta."

Nghĩ ra điều ấy rồi, anh xuống miền biên giới, bắt một con công mái, dạy cho nó hễ anh búng tay thì cất tiếng kêu, hễ anh vỗ tay thì múa. Rồi anh mang công mái theo trở lại núi.

Sáng hôm ấy, anh giăng bẫy từ trước khi đức Bồ Tát đọc lời nguyện, rồi búng tay cho công mái cất tiếng kêu.

Công nghe tiếng kêu. Tức thì lòng ham muốn đã nằm yên suốt bảy nghìn năm bỗng ngóc dậy như con rắn hổ mang bị đánh mà bạnh mang ra. Say đắm tiếng gọi của con công mái, công quên cả đọc lời nguyện che chở, vội vã bay về phía nó, hạ xuống từ trên không, và chân sa ngay vào bẫy. Cái bẫy suốt bảy nghìn năm không làm gì được công, nay trói chặt lấy chân công.

Người thợ săn thấy công lủng lẳng ở đầu cây sào, nghĩ thầm: "Sáu người thợ săn không bắt nổi vua công này, chính ta cũng mất bảy năm không bắt được. Vậy mà hôm nay, vừa say đắm con công mái, nó quên đọc lời nguyện, sa vào bẫy, giờ treo lủng lẳng đầu chúc xuống đất kia. Một sinh linh đức hạnh như thế mà ta lại hại! Đem một sinh linh như thế giao cho người khác để lấy tiền thưởng là điều chẳng nên làm. Ân thưởng của nhà vua có nghĩa lý gì với ta? Ta sẽ thả nó ra."

Nhưng anh lại nghĩ: "Con chim này to lớn, khoẻ mạnh lắm. Nếu ta lại gần, có khi nó tưởng ta tới giết nó, nó sợ mất mạng, giãy giụa mà gãy chân gãy cánh. Ta không lại gần, mà đứng nấp một chỗ, bắn một mũi tên cho đứt dây bẫy. Rồi nó muốn đi đâu thì đi."

Thế là anh đứng nấp, lên dây cung, lắp tên, kéo căng.

Còn con công thì nghĩ: "Gã thợ săn này đã làm ta say đắm, giờ thấy ta mắc bẫy, hẳn gã sẽ không lơ là đâu. Gã ở đâu nhỉ?"

Công nhìn bên này, nhìn bên kia, thấy người kia đang đứng giương cung sẵn sàng bắn. Công nghĩ: "Chắc chắn gã muốn giết ta rồi bỏ đi."

Sợ chết, công cất tiếng xin tha mạng:

— Nếu bắt được tôi mà anh được giàu có, thì xin anh đừng bắn tôi, cứ bắt sống tôi đi. Anh bạn ơi, xin anh đưa tôi tới chỗ nhà vua. Tôi nghĩ nhà vua sẽ ban thưởng cho anh rất hậu.

Người thợ săn nghĩ: "Con công lớn tưởng ta sắp bắn nó. Ta phải làm cho nó yên lòng."

Anh nói:

— Hỡi vua công, hôm nay tôi lắp mũi tên này vào cung đâu phải để hại ngài. Tôi chỉ muốn bắn đứt dây bẫy mà thả ngài ra, để ngài tuỳ ý bay đi.

Công đáp:

— Hỡi người thợ săn, suốt bảy năm anh đuổi theo tôi, chịu đói chịu khát cả ngày lẫn đêm. Giờ tôi đã mắc bẫy, anh định làm gì? Sao anh lại muốn thả tôi ra, để tôi bay đi? Hẳn là anh đã thề không sát sinh nữa, hẳn từ hôm nay mọi sinh linh đều được an toàn với anh. Vì tôi mắc bẫy rồi, thế mà anh vẫn muốn thả, vẫn muốn gỡ tôi ra, để tôi bay đi.

Người thợ săn hỏi:

— Khi một người thề không làm hại bất cứ sinh linh nào, khi mọi loài có sự sống đều không còn phải sợ người ấy, thì kiếp sau người ấy sẽ được phúc gì? Hỡi vua công, xin trả lời cho tôi điều ấy.

— Khi mọi loài có sự sống đều không còn phải sợ người ấy, khi người ấy thề không làm hại bất cứ sinh linh nào, thì ngay trong đời này người ấy đã được ngợi khen, và chết đi, đức hạnh sẽ đưa người ấy lên cõi trời.

— Nhưng có nhiều người nói rằng chẳng có thần thánh nào cả. Hạnh phúc cao nhất chỉ có trong đời này thôi. Chính đời này trả quả cho việc lành việc dữ, còn bố thí là việc dại dột. Vì thế tôi mới bẫy chim, vì có những bậc tu hành đã nói vậy. Lời họ nói, tôi xin hỏi, chẳng đáng tin hay sao?

Bấy giờ bậc Đại Sĩ quyết giảng cho anh biết có thật một thế giới khác. Treo lủng lẳng đầu chúc xuống ở đầu cây sào, công hỏi:

— Mặt trời và mặt trăng sáng rõ, đi trên cao trên con đường lấp lánh của mình. Người dưới thế gian gọi chúng là gì? Chúng thuộc thế giới này hay thế giới khác, anh nói xem!

Người thợ săn đáp:

— Mặt trời và mặt trăng sáng rõ, đi trên cao trên con đường lấp lánh của mình. Chúng chẳng thuộc thế giới bên dưới của chúng ta, mà thuộc một thế giới khác. Người ta nói như thế.

Bậc Đại Sĩ bảo:

— Thế thì những kẻ nói chỉ có đời này mới trả quả cho việc lành việc dữ, những kẻ bảo bố thí là việc dại dột, là những kẻ nói sai, nói dối, chẳng có căn cứ gì.

Nghe bậc Đại Sĩ nói, người thợ săn ngẫm nghĩ, rồi nói:

— Quả thật điều ngài nói là đúng. Làm sao người ta có thể bảo bố thí chẳng đem lại quả gì? Làm sao bảo rằng chỉ đời này mới trả quả cho việc lành việc dữ, rằng bố thí là việc dại dột? Vậy tôi phải sống thế nào, làm gì, theo con đường thánh thiện nào? Hỡi vua công, xin hãy chỉ cho tôi. Phải tu hạnh gì để tôi khỏi sa xuống địa ngục?

Nghe vậy, đức Bồ Tát nghĩ: "Nếu lúc này ta giảng hết điều ấy cho anh ta, anh ta sẽ thấy cõi đời trống rỗng, vô nghĩa. Lần này ta chỉ nói cho anh ta biết thế nào là các bậc tu hành ngay thẳng, thánh thiện."

Công nói:

— Trên mặt đất này, có những người giữ giới nguyện của người tu, khoác áo vàng, không ở trong nhà, sáng sớm đi khất thực, quá trưa thì không ăn. Đó là những người tốt. Hãy tìm tới những người tốt ấy đúng lúc, rồi hỏi bất cứ điều gì anh muốn. Họ sẽ giảng cho anh hiểu, vì họ biết rõ cả thế giới bên kia lẫn thế giới bên dưới này.

Nói vậy, công khiến anh sợ hãi cảnh địa ngục. Người thợ săn này vốn đã sắp chín muồi trí tuệ để thành một vị Độc Giác Phật, như nụ sen đã chín chỉ chờ tia nắng mặt trời chạm tới là nở. Đứng nghe công giảng, ngay tại chỗ ấy, chỉ trong một khoảnh khắc, anh hiểu thấu mọi vật trên đời được hợp lại từ những gì, nắm được ba tướng của chúng là vô thường, khổ và vô ngã, và đạt tới trí tuệ của một vị Độc Giác Phật. Sự giác ngộ ấy của anh và việc bậc Đại Sĩ thoát khỏi bẫy xảy ra cùng một lúc.

Vị Độc Giác Phật đã diệt sạch mọi tham dục, đứng ở bờ cuối cùng của cõi sinh tử, nói lên lời ước nguyện:

— Như con rắn lột bỏ lớp da cũ đã khô, như cây rụng lá úa khi lộc biếc đâm chồi, hôm nay tôi từ bỏ nghề săn bắn, vứt bỏ nghề săn bắn mãi mãi.

Nói xong lời ước nguyện cao cả ấy, vị ấy nghĩ: "Ta vừa được giải thoát khỏi xiềng xích tội lỗi. Nhưng ở nhà ta còn bao nhiêu con chim đang bị nhốt. Làm sao ta giải thoát cho chúng?"

Vị ấy hỏi bậc Đại Sĩ:

— Thưa vua công, ở nhà tôi còn nhốt nhiều chim lắm. Làm sao tôi thả được chúng?

Các vị Bồ Tát vốn thấu suốt mọi lẽ, hiểu biết các phương cách hơn cả một vị Độc Giác Phật. Vì thế công đáp:

— Ngài đã phá tan sức mạnh của tham dục, đã đạt tới trí tuệ của một vị Độc Giác Phật. Hãy dựa vào điều ấy mà phát một lời thề chân thật, thì khắp cõi Ấn Độ sẽ không còn một sinh linh nào bị trói buộc.

Bước qua cánh cửa đức Bồ Tát vừa mở cho mình, vị ấy phát lời thề chân thật:

— Hết thảy những con chim tôi đã bắt, hàng trăm hàng trăm con, đang bị nhốt trong nhà tôi, hôm nay tôi trả lại cho chúng mạng sống và tự do. Hãy để chúng bay về tổ của mình!

Nhờ lời thề chân thật ấy, ngay tức khắc, dù ở tận đằng xa, tất cả lũ chim đều được thả ra khỏi lồng, ríu rít vui mừng bay về chốn cũ. Cũng ngay lúc ấy, khắp cõi Ấn Độ, mọi sinh linh bị trói buộc đều được thả ra, không còn một con nào bị giam giữ, đến một con mèo cũng không.

Vị Độc Giác Phật giơ tay xoa lên trán. Tức thì dấu hiệu của người thế tục biến mất, thay vào đó là dáng vẻ của người tu hành. Rồi như một vị trưởng lão sáu mươi tuổi đạo, áo mặc chỉnh tề, mang đủ tám món vật dụng của người tu, vị ấy cúi chào vua công, đi vòng quanh công theo chiều thuận, rồi bay vút lên không, về hang động trên đỉnh núi Nan-đa.

Còn con công thì rời khỏi bẫy, kiếm ăn, rồi trở về chốn cũ của mình.

Người thợ săn ấy đã đi khắp rừng sâu, tay cầm bẫy, mong bắt vua công. Thế mà chính vua công vinh quang ấy, ngay khi bị bắt, đã giải thoát cho anh khỏi khổ đau.

Đức Phật kể chuyện này cho một vị tỳ kheo đã xao lãng đời tu vì lòng ham muốn. Kể xong, Ngài cho biết: con công vàng thuở ấy chính là Ngài.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKinh Bổn Sinh (Jataka)
Xuất bản lần đầu1901
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Maha-Mora-Jataka, Jataka số 491, Kinh Bổn Sinh (tạng Pali); dịch từ bản tiếng Anh The Jataka, or Stories of the Buddha's Former Births, tập 4, W. H. D. Rouse dịch, E. B. Cowell chủ biên, 1901
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →