Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một cuộc đấu súng

của Guy de Maupassant

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 7.952 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Chiến tranh đã kết thúc. Quân Đức chiếm đóng…
  2. 2:41Hai người Anh hết sức chú ý, liền hỏi:
  3. 3:16Hai người Anh, vì lịch sự, chỉ đáp:
  4. 4:18Gã Đức nói tiếp:
  5. 5:08"Ông đã không chịu đi làm việc cho tôi."
  6. 6:09Rồi bỗng ông Đuy-buy, kiệt sức vì gắng sức…
  7. 6:46"Ồ, có chứ!"
  8. 7:28Một người Anh thốt lên một tiếng "Ồ" ngân…

Chiến tranh đã kết thúc. Quân Đức chiếm đóng nước Pháp. Đất nước thoi thóp như một đô vật bại trận nằm dưới đầu gối kẻ chiến thắng.

Từ Pa-ri hoảng loạn, đói khát, tuyệt vọng, những chuyến tàu đầu tiên ra đi, hướng về những biên giới mới, chậm chạp băng qua đồng quê và làng mạc. Những hành khách đầu tiên nhìn qua cửa toa những cánh đồng tan hoang và những xóm làng bị đốt cháy. Trước cửa những ngôi nhà còn đứng vững, những người lính Phổ đội mũ sắt đen chóp đồng ngồi cưỡi ngược trên ghế hút tẩu. Những người khác làm lụng hay trò chuyện như thể họ là người trong nhà. Khi đi qua các thành phố, người ta thấy cả những trung đoàn đang tập luyện trên quảng trường, và dù bánh xe kêu ầm ầm, thỉnh thoảng vẫn nghe vọng tới những tiếng hô khàn đặc.

Ông Đuy-buy, người đã ở trong đội vệ binh quốc gia Pa-ri suốt thời gian bị vây hãm, đang sang Thuỵ Sĩ đón vợ và con gái, những người đã được gửi ra nước ngoài cho an toàn, trước khi quân địch tràn sang.

Đói khát và mệt nhọc chẳng làm cái bụng phệ của nhà buôn giàu có và hiền lành ấy nhỏ đi chút nào. Ông đã chịu đựng những biến cố khủng khiếp với một sự cam chịu buồn bã và những câu nói chua chát về sự man rợ của loài người. Giờ đây, khi chiến tranh đã hết, đang trên đường tới biên giới, lần đầu tiên ông nhìn thấy quân Phổ, dù ông đã làm tròn bổn phận trên tường thành và đã đứng gác biết bao đêm giá lạnh.

Ông nhìn với nỗi sợ hãi bực bội những người đàn ông mang vũ khí, râu ria xồm xoàm, đang ở như ở nhà mình trên đất Pháp. Ông thấy trong lòng một thứ cơn sốt yêu nước bất lực, đồng thời với cái nhu cầu lớn lao, cái bản năng thận trọng mới mẻ chẳng bao giờ rời bỏ chúng ta nữa.

Trong khoang của ông có hai người Anh tới để xem cho biết, đang nhìn bằng con mắt điềm tĩnh và tò mò. Cả hai cũng béo, nói chuyện bằng tiếng của họ, thỉnh thoảng giở cuốn sách hướng dẫn ra, đọc to lên, cố nhận cho đúng những nơi được nhắc tới.

Bỗng tàu dừng lại ở ga một thị trấn nhỏ, một viên sĩ quan Phổ, thanh gươm kêu loảng xoảng, bước lên bậc lên xuống của toa. Hắn cao lớn, bó chặt trong bộ quân phục, râu mọc tới tận mắt. Râu tóc đỏ hung của hắn như đang bốc lửa, còn bộ ria dài, nhạt màu hơn, vểnh ra hai bên, cắt ngang khuôn mặt.

Hai người Anh lập tức ngắm hắn với những nụ cười của sự tò mò được thoả mãn, còn ông Đuy-buy thì giả vờ đọc báo. Ông ngồi thu lu trong góc, như một tên trộm trước mặt hiến binh.

Tàu lại chạy. Hai người Anh vẫn tiếp tục trò chuyện, tìm cho đúng những nơi đã diễn ra các trận đánh. Bỗng, khi một người giơ tay về phía chân trời chỉ một ngôi làng, viên sĩ quan Phổ duỗi đôi chân dài, ngả người ra sau, nói bằng thứ tiếng Pháp lơ lớ:

"Tôi đã giết mười hai thằng Pháp ở làng ấy. Tôi bắt hơn một trăm tù binh."

Hai người Anh hết sức chú ý, liền hỏi:

"Ồ! Làng ấy tên là gì?"

Gã Phổ đáp:

"Pha-xbua."

Hắn nói tiếp:

"Tôi tóm cổ lũ Pháp ranh con ấy bằng cái tai."

Rồi hắn nhìn ông Đuy-buy, cười một cách ngạo nghễ trong bộ râu.

Tàu cứ chạy, lần lượt qua những xóm làng bị chiếm đóng. Người ta thấy lính Đức dọc đường, bên bờ ruộng, đứng ở góc các hàng rào, hay trò chuyện trước các quán cà phê. Chúng phủ kín mặt đất như châu chấu châu Phi.

Viên sĩ quan chìa tay ra:

"Nếu tôi chỉ huy, tôi đã chiếm Pa-ri, đốt sạch, giết hết. Hết nước Pháp!"

Hai người Anh, vì lịch sự, chỉ đáp:

"Ồ, phải."

Hắn nói tiếp:

"Hai mươi năm nữa, cả châu Âu, cả châu Âu sẽ thuộc về chúng tôi. Nước Phổ mạnh hơn tất cả."

Hai người Anh lo lắng, không đáp nữa. Khuôn mặt họ trở nên lạnh lùng, như bằng sáp giữa hai hàng tóc mai dài. Lúc ấy viên sĩ quan Phổ bắt đầu cười. Và vẫn ngả người ra sau, hắn giễu cợt. Hắn giễu cợt nước Pháp bị nghiền nát, lăng mạ kẻ thù đã ngã gục. Hắn giễu cợt nước Áo mới bại trận gần đây. Hắn giễu cợt cuộc kháng cự quyết liệt mà bất lực của các tỉnh. Hắn giễu cợt quân cơ động, giễu cợt pháo binh vô dụng. Hắn tuyên bố Bít-mác sắp xây một thành phố bằng sắt từ những khẩu đại bác thu được. Rồi bỗng hắn gác đôi ủng lên đùi ông Đuy-buy. Ông quay mặt đi, đỏ tới tận mang tai.

Hai người Anh dường như đã trở nên dửng dưng với mọi sự, như thể họ bỗng bị nhốt kín trong hòn đảo của mình, xa cách những ồn ào của thế giới.

Viên sĩ quan rút tẩu ra, nhìn chằm chằm người Pháp:

"Ông không có thuốc lá à?"

Ông Đuy-buy đáp:

"Không, thưa ông."

Gã Đức nói tiếp:

"Tôi nhờ ông đi mua khi tàu dừng."

Rồi hắn lại cười:

"Tôi sẽ cho ông tiền công."

Tàu kéo còi, chạy chậm lại. Tàu đi qua những dãy nhà bị cháy của một nhà ga, rồi dừng hẳn.

Gã Đức mở cửa toa, nắm lấy cánh tay ông Đuy-buy:

"Đi làm việc cho tôi đi, nhanh lên, nhanh lên!"

Một toán lính Phổ chiếm đóng nhà ga. Những người lính khác đứng dọc những hàng rào gỗ nhìn. Đầu máy đã kéo còi để lăn bánh. Lúc ấy, đột ngột, ông Đuy-buy nhảy xuống sân ga, và mặc cho ông trưởng ga ra hiệu, ông lao vào khoang bên cạnh.

Ông chỉ có một mình! Ông cởi áo gi lê ra, vì tim đập dữ quá, rồi lau trán, thở hổn hển.

Tàu lại dừng ở một ga. Bỗng viên sĩ quan xuất hiện ở cửa toa và bước lên, chẳng mấy chốc hai người Anh cũng theo lên vì tò mò. Gã Đức ngồi đối diện người Pháp, vẫn cười:

"Ông đã không chịu đi làm việc cho tôi."

Ông Đuy-buy đáp:

"Không, thưa ông."

Tàu vừa lăn bánh lại.

Viên sĩ quan nói:

"Tôi sẽ cắt ria của ông để nhồi tẩu."

Rồi hắn đưa tay về phía mặt người ngồi bên.

Hai người Anh vẫn lạnh lùng, đưa mắt nhìn trân trân.

Gã Đức đã nhón được một nhúm ria và đang giật, thì ông Đuy-buy hất ngược tay hắn lên, túm lấy cổ áo hắn, đè hắn xuống ghế. Rồi điên lên vì giận, thái dương phồng lên, mắt đỏ ngầu, một tay vẫn bóp cổ hắn, tay kia nắm lại, ông bắt đầu đấm túi bụi vào mặt hắn. Gã Phổ giãy giụa, cố rút gươm, cố ôm lấy đối thủ đang đè lên mình. Nhưng ông Đuy-buy đè bẹp hắn bằng sức nặng khổng lồ của cái bụng, và đấm, đấm không nghỉ, không lấy hơi, không biết những cú đấm rơi vào đâu. Máu chảy. Gã Đức bị bóp cổ, khò khè, khạc ra cả răng, cố hất người đàn ông béo đang điên tiết nện mình ra, mà vô ích.

Hai người Anh đã đứng dậy, lại gần để xem cho rõ. Họ đứng đó, đầy thích thú và tò mò, sẵn sàng đánh cược bên này hay bên kia.

Rồi bỗng ông Đuy-buy, kiệt sức vì gắng sức như thế, đứng dậy và ngồi xuống chẳng nói một lời.

Gã Phổ không nhảy xổ vào ông, vì hắn vẫn còn hoảng hốt, sững sờ vì kinh ngạc và đau đớn. Khi đã lấy lại hơi, hắn nói:

"Nếu ông không chịu cho tôi đòi công bằng bằng súng lục, tôi sẽ giết ông."

Ông Đuy-buy đáp:

"Bao giờ ông muốn cũng được. Tôi sẵn lòng."

Gã Đức nói tiếp:

"Sắp tới thành phố Xtrát-xbua rồi. Tôi sẽ lấy hai sĩ quan làm chứng. Còn kịp trước khi tàu chạy."

Ông Đuy-buy, thở phì phò như cái đầu máy, hỏi hai người Anh:

"Các ông có muốn làm người chứng cho tôi không?"

Cả hai cùng đáp:

"Ồ, có chứ!"

Rồi tàu dừng lại.

Trong một phút, gã Phổ đã tìm được hai đồng đội mang súng lục tới, và mọi người kéo nhau ra tường thành.

Hai người Anh cứ chốc chốc lại rút đồng hồ ra xem, rảo bước, giục chuẩn bị cho nhanh, lo giờ giấc để khỏi lỡ tàu.

Ông Đuy-buy chưa bao giờ cầm một khẩu súng lục. Người ta đặt ông đứng cách kẻ thù hai mươi bước. Người ta hỏi ông:

"Ông sẵn sàng chưa?"

Lúc đáp "rồi, thưa ông", ông nhận ra một trong hai người Anh đã giương ô lên để che nắng.

Một giọng ra lệnh:

"Bắn!"

Ông Đuy-buy bắn, bừa, chẳng chờ đợi gì. Và ông sững sờ thấy gã Phổ đứng trước mặt mình lảo đảo, giơ hai tay lên, rồi ngã sấp mặt xuống, cứng đờ. Ông đã giết hắn.

Một người Anh thốt lên một tiếng "Ồ" ngân vang niềm vui, sự tò mò được thoả mãn và nỗi sốt ruột sung sướng. Người kia, tay vẫn cầm đồng hồ, nắm cánh tay ông Đuy-buy, lôi ông chạy bước thể dục về phía nhà ga.

Người Anh thứ nhất vừa chạy vừa hô nhịp, nắm tay lại, khuỷu tay ép sát người:

"Một, hai! Một, hai!"

Và cả ba người, dàn hàng ngang, chạy lúp xúp, mặc cho những cái bụng phệ, như ba nhân vật hài hước trên một tờ báo vui.

Tàu đang chạy. Họ nhảy lên toa của mình. Lúc ấy hai người Anh bỏ mũ du lịch ra, giơ lên vẫy vẫy, rồi ba lần liền họ hô to:

"Híp, híp, híp, hu-ra!"

Rồi họ trang trọng lần lượt chìa tay phải ra bắt tay ông Đuy-buy, và trở về ngồi cạnh nhau trong góc của mình.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1883
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Un duel, in trên báo Le Gaulois ngày 14 tháng 8 năm 1883, tập Le Colporteur
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →