Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cuộc vây hãm Béc-lin

của Alphonse Daudet

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 13.149 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Chúng tôi, bác sĩ V. và tôi, đang đi…
  2. 3:13Và tôi càng kể cho cụ nghe chi tiết…
  3. 4:07Thế thì cháu sẽ nói dối!
  4. 5:40Và qua cánh cửa, tôi nghe một giọng vui…
  5. 6:38Tôi sửng sốt nhìn cụ:
  6. 10:00Bồi thường chiến tranh, ngoài ra không gì cả……
  7. 12:28Ông cụ hỏi:
  8. 12:51Mai thì chúng vào thành rồi.

Chúng tôi, bác sĩ V. và tôi, đang đi ngược đại lộ Săng-dê-li-dê, hỏi những bức tường thủng lỗ chỗ vì đạn pháo, những vỉa hè bị đạn ghém cày nát, về câu chuyện Pa-ri bị vây hãm. Gần tới quảng trường Ê-toan, bác sĩ dừng lại, chỉ cho tôi một trong những toà nhà lớn ở góc phố, quây quần rất bề thế quanh Khải Hoàn Môn, và bảo:

– Anh có thấy bốn cái cửa sổ đóng kín trên ban công trên cao kia không? Những ngày đầu tháng tám, cái tháng tám khủng khiếp năm ngoái nặng trĩu giông bão và tai hoạ ấy, tôi được mời đến đó chữa một ca trúng phong nặng. Đó là nhà đại tá Giu-vơ, một kỵ binh thiết giáp thời Đệ nhất Đế chế, một ông già cố chấp say mê vinh quang và lòng yêu nước. Ngay từ đầu cuộc chiến, cụ đã dọn đến ở đại lộ Săng-dê-li-dê, trong một căn hộ có ban công… Anh đoán xem để làm gì? Để được xem quân ta khải hoàn trở về… Ông già tội nghiệp! Tin trận Uýt-xăm-bua đến với cụ khi cụ vừa ăn xong. Đọc thấy tên Na-pô-lê-ông ký dưới bản tin thất trận ấy, cụ ngã vật ra như bị sét đánh.

Tôi thấy người kỵ binh già nằm sóng soài trên tấm thảm trong phòng, mặt đỏ tía và bất động như vừa bị một nhát chuỳ giáng vào đầu. Đứng lên chắc cụ cao lắm. Nằm xuống trông cụ thật đồ sộ. Nét mặt đẹp, hàm răng tuyệt đẹp, một mái tóc trắng quăn tít, tám mươi tuổi mà trông như sáu mươi… Bên cạnh cụ, cô cháu gái quỳ, nước mắt đầm đìa. Cô giống ông. Nhìn hai ông cháu bên nhau, người ta tưởng như hai tấm huy chương Hy Lạp đẹp đẽ đúc từ cùng một khuôn. Có điều một tấm thì cổ, màu đất, các đường viền hơi mờ đi. Tấm kia thì rực rỡ và sắc nét, với tất cả vẻ tươi sáng và mượt mà của khuôn mới.

Nỗi đau của cô gái làm tôi xúc động. Là con gái, cháu gái nhà binh, cô có bố đang ở bộ tham mưu của thống chế Mác-Ma-hông, và hình ảnh ông già to lớn nằm dài trước mặt gợi lên trong trí cô một hình ảnh khác không kém phần khủng khiếp. Tôi cố hết sức trấn an cô. Nhưng trong thâm tâm, tôi chẳng mấy hy vọng. Đây là một cơn liệt nửa người rõ ràng, mà ở tuổi tám mươi thì ít ai qua khỏi. Quả nhiên suốt ba ngày, người bệnh vẫn nằm bất động và mê man như thế… Giữa lúc ấy, tin trận Ra-sô-phen về tới Pa-ri. Anh còn nhớ nó đến theo cái cách kỳ lạ thế nào. Cho tới tận chiều, tất cả chúng ta đều tin là một chiến thắng lớn, hai vạn quân Phổ bị giết, thái tử Phổ bị bắt sống… Tôi không biết do phép lạ nào, do luồng từ khí nào, mà một tiếng vọng của niềm vui cả nước ấy đã đến được với người bệnh câm điếc tội nghiệp của chúng tôi, tận chốn mịt mù của cơn bại liệt. Chỉ biết rằng tối hôm ấy, khi tôi lại gần giường, tôi không còn thấy cùng một con người nữa. Mắt gần như tinh anh, lưỡi bớt nặng. Cụ đủ sức mỉm cười với tôi, và lắp bắp hai lần:

– Chiến… thắng!

– Vâng, thưa đại tá, chiến thắng lớn!…

Và tôi càng kể cho cụ nghe chi tiết về thắng lợi đẹp đẽ của thống chế Mác-Ma-hông, tôi càng thấy nét mặt cụ giãn ra, gương mặt cụ sáng lên…

Khi tôi bước ra, cô gái đang đứng đợi tôi trước cửa, mặt tái nhợt. Cô khóc nức nở.

Tôi nắm lấy tay cô, bảo:

– Nhưng cụ qua khỏi rồi mà!

Cô gái khốn khổ gần như không đủ can đảm trả lời tôi. Người ta vừa niêm yết tin thật về trận Ra-sô-phen. Mác-Ma-hông tháo chạy, toàn quân tan tác… Chúng tôi nhìn nhau, sững sờ. Cô thì đau khổ nghĩ đến bố mình. Còn tôi, tôi run sợ nghĩ đến ông cụ. Chắc chắn cụ sẽ không chịu nổi cú sốc mới này… Thế nhưng làm thế nào bây giờ?… Cứ để cho cụ niềm vui, những ảo tưởng đã làm cụ sống lại!… Nhưng như vậy thì phải nói dối…

Cô gái anh hùng vội lau nước mắt, nói với tôi:

– Thế thì cháu sẽ nói dối!

Và, mặt mày rạng rỡ, cô trở vào phòng ông.

Đó là một nhiệm vụ nặng nề cô đã nhận lấy. Những ngày đầu còn xoay xở được. Đầu óc ông cụ còn yếu, để mặc người ta đánh lừa như một đứa trẻ. Nhưng sức khoẻ khá dần thì ý nghĩ của cụ cũng sáng sủa dần. Phải báo cho cụ biết tình hình các cánh quân, phải viết cho cụ những bản tin quân sự. Thật đáng thương khi nhìn cô gái xinh đẹp ấy ngày đêm cúi xuống tấm bản đồ nước Đức, cắm những lá cờ nhỏ, cố công sắp xếp cả một chiến dịch vẻ vang: Ba-de-nơ tiến về Béc-lin, Phờ-roa-xa tiến vào Ba-vi-e, Mác-Ma-hông tiến ra biển Ban-tích. Mọi việc ấy cô đều hỏi ý kiến tôi, và tôi giúp cô được chừng nào hay chừng ấy. Nhưng người giúp chúng tôi nhiều nhất trong cuộc xâm lăng tưởng tượng ấy lại chính là ông cụ. Thời Đệ nhất Đế chế, cụ đã chinh phục nước Đức biết bao lần! Cụ biết trước mọi nước đi: “Bây giờ thì họ sẽ đánh vào chỗ này… Người ta sẽ làm thế này…”. Và những điều cụ dự đoán bao giờ cũng thành sự thật, điều đó khiến cụ hãnh diện lắm.

Khốn nỗi, chúng tôi có chiếm bao nhiêu thành phố, thắng bao nhiêu trận cũng chẳng bao giờ đủ nhanh đối với cụ. Ông già ấy thật không biết thế nào là đủ! Ngày nào tôi đến cũng được biết thêm một chiến công mới.

Cô gái ra đón tôi với một nụ cười đau đớn, bảo:

– Thưa bác sĩ, ta đã chiếm được Mai-en-xơ.

Và qua cánh cửa, tôi nghe một giọng vui vẻ gọi tôi:

– Tiến tốt lắm! Tiến tốt lắm!… Tám ngày nữa ta sẽ vào Béc-lin.

Lúc ấy, quân Phổ chỉ còn cách Pa-ri tám ngày đường… Lúc đầu chúng tôi tự hỏi có nên đưa cụ về tỉnh không. Nhưng hễ ra khỏi nhà, tình cảnh nước Pháp sẽ cho cụ biết hết, mà tôi thấy cụ vẫn còn yếu quá, còn đờ đẫn vì cơn chấn động lớn, chưa thể để cụ biết sự thật được. Vậy là quyết định ở lại.

Ngày đầu tiên thành phố bị vây, tôi lên nhà họ, tôi còn nhớ, lòng rất xúc động, với cái nỗi lo âu thắt ruột mà tất cả chúng ta đều có khi các cửa ô Pa-ri đóng lại, khi trận đánh diễn ra ngay dưới chân thành, khi ngoại ô của chúng ta đã thành biên giới. Tôi thấy ông cụ ngồi trên giường, hớn hở và kiêu hãnh.

Cụ bảo tôi:

– Thế nào, cuộc vây hãm thế là bắt đầu rồi đấy nhé!

Tôi sửng sốt nhìn cụ:

– Sao, thưa đại tá, cụ biết rồi ạ?…

Cô cháu gái quay về phía tôi:

– Vâng, thưa bác sĩ… Đó là tin lớn đấy ạ… Cuộc vây hãm Béc-lin đã bắt đầu.

Cô vừa nói vừa kéo mũi kim khâu, với một vẻ điềm đạm, bình thản đến thế… Làm sao cụ có thể ngờ được điều gì? Tiếng đại bác ở các pháo đài, cụ không nghe thấy được. Cái thành Pa-ri khốn khổ, u ám và đảo lộn ấy, cụ không thể nhìn thấy. Những gì cụ thấy được từ giường mình chỉ là một góc Khải Hoàn Môn, và trong phòng, quanh cụ, cả một mớ đồ cổ thời Đệ nhất Đế chế, rất hợp để nuôi dưỡng ảo tưởng của cụ. Chân dung các thống chế, tranh khắc các trận đánh, vua thành La Mã mặc áo trẻ con. Rồi những chiếc bàn chân quỳ lớn cứng nhắc, trang trí đồng hình chiến lợi phẩm, bày đầy những di vật của Hoàng đế, huy chương, tượng đồng, một mỏm đá đảo Xanh Hê-lê-na đặt trong lồng kính, những bức tiểu hoạ vẽ cùng một người đàn bà tóc uốn quăn, trong bộ đồ dạ hội, áo dài màu vàng, tay áo phồng, mắt sáng. Và tất cả những thứ ấy, bàn chân quỳ, vua thành La Mã, các thống chế, các bà áo vàng, với kiểu eo cao, thắt lưng cao, cái vẻ cứng nhắc gò bó từng là duyên dáng của năm một nghìn tám trăm linh sáu… Đại tá đáng kính! Chính cái bầu không khí chiến thắng và chinh phục ấy, còn hơn mọi điều chúng tôi có thể nói với cụ, đã khiến cụ tin một cách ngây thơ đến thế vào cuộc vây hãm Béc-lin.

Kể từ hôm ấy, các chiến dịch quân sự của chúng tôi trở nên đơn giản hơn nhiều. Chiếm Béc-lin chỉ còn là chuyện kiên nhẫn. Thỉnh thoảng, khi ông cụ buồn chán quá, người ta đọc cho cụ nghe một lá thư của con trai cụ. Tất nhiên là thư tưởng tượng, vì chẳng còn gì lọt vào được Pa-ri nữa, mà từ sau trận Xơ-đăng, viên sĩ quan tuỳ tùng của thống chế Mác-Ma-hông đã bị giải đến một pháo đài bên Đức. Anh hình dung được nỗi tuyệt vọng của cô gái tội nghiệp ấy không, bặt tin bố, biết bố bị bắt làm tù binh, thiếu thốn đủ thứ, có khi đang ốm đau, thế mà phải để ông nói những lời vui vẻ trong thư, những lá thư hơi ngắn, như kiểu một người lính đang hành quân có thể viết, lúc nào cũng tiến lên trên đất chiếm được. Đôi khi cô không còn đủ sức. Có những tuần liền không có tin tức gì. Nhưng ông cụ sốt ruột, mất ngủ. Thế là vội vàng có ngay một lá thư từ bên Đức gửi về, cô đến bên giường vui vẻ đọc cho ông nghe, cố nén nước mắt. Đại tá nghe một cách thành kính, mỉm cười ra vẻ hiểu biết, khen, chê, giải thích cho chúng tôi những đoạn hơi khó hiểu. Nhưng cụ đẹp nhất là trong những lá thư trả lời cụ gửi cho con trai: “Đừng bao giờ quên con là người Pháp… Hãy độ lượng với những người dân khốn khổ ấy. Đừng để cuộc xâm lăng đè nặng lên họ quá…”. Và đó là những lời dặn dò không bao giờ hết, những bài giảng đạo lý đáng yêu về việc tôn trọng tài sản, về phép lịch sự đối với phụ nữ, cả một bộ luật danh dự nhà binh dành cho những kẻ chiến thắng. Cụ còn xen vào đó vài nhận định chung về chính trị, về những điều kiện hoà bình cần buộc kẻ thua trận chấp nhận. Về chuyện này, tôi phải nói là cụ chẳng đòi hỏi gì nhiều:

– Bồi thường chiến tranh, ngoài ra không gì cả… Lấy đất của họ làm gì?… Có ai biến được nước Đức thành nước Pháp đâu?…

Cụ đọc những lời ấy cho cô cháu viết bằng một giọng vững vàng, và người ta cảm thấy trong lời cụ bao nhiêu chân thành, một niềm tin yêu nước đẹp đẽ đến thế, khiến nghe cụ nói không thể không xúc động.

Trong thời gian ấy, cuộc vây hãm vẫn tiếp diễn, nhưng than ôi, không phải cuộc vây hãm Béc-lin!… Đó là lúc rét đậm, lúc bị pháo kích, lúc dịch bệnh, lúc đói kém. Nhưng nhờ sự chăm sóc, nhờ những cố gắng của chúng tôi, nhờ tình thương yêu không biết mệt mỏi nhân lên quanh cụ, sự thanh thản của ông già không hề bị xáo động lấy một lúc. Cho đến tận cùng, tôi vẫn kiếm được cho cụ bánh mì trắng, thịt tươi. Chỉ có cho riêng cụ thôi, dĩ nhiên rồi. Và anh không thể hình dung được cái gì cảm động hơn những bữa ăn của ông cụ, ích kỷ một cách hồn nhiên, ông già ngồi trên giường, tươi tỉnh và vui vẻ, khăn ăn quàng dưới cằm, bên cạnh là cô cháu gái hơi xanh xao vì thiếu thốn, cầm tay ông, cho ông uống, giúp ông ăn tất cả những món ngon bị cấm ấy. Rồi, phấn chấn vì bữa ăn, sung sướng trong căn phòng ấm áp, gió bấc mùa đông ở bên ngoài, tuyết bay lả tả bên cửa sổ, người kỵ binh già nhớ lại những chiến dịch của mình ở phương Bắc, và kể cho chúng tôi nghe lần thứ một trăm cuộc rút lui thảm khốc khỏi nước Nga, khi người ta chẳng có gì ăn ngoài bánh quy đông cứng và thịt ngựa:

– Cháu có hiểu không, cháu bé! Ông đã phải ăn thịt ngựa đấy!

Tôi tin là cô hiểu chứ. Từ hai tháng nay, cô chẳng ăn thứ gì khác…

Thế nhưng ngày qua ngày, khi người bệnh khoẻ dần lên, nhiệm vụ của chúng tôi quanh cụ ngày càng khó khăn hơn. Cái tình trạng tê liệt của mọi giác quan, mọi chân tay cụ, cho tới lúc ấy đã giúp chúng tôi rất nhiều, bắt đầu tan dần. Đã hai ba lần, những loạt pháo khủng khiếp ở cửa ô Mai-ô làm cụ giật nảy người, dỏng tai lên như một con chó săn. Người ta đành phải bịa ra một chiến thắng cuối cùng của Ba-de-nơ dưới chân thành Béc-lin, và những loạt súng chào mừng bắn ở điện Anh-va-lít. Một hôm khác, người ta kê giường cụ sát cửa sổ, hôm ấy tôi nhớ là ngày thứ năm của trận Buy-dăng-van, cụ trông thấy rất rõ những đội vệ binh quốc gia đang tập trung trên đại lộ Đại quân.

Ông cụ hỏi:

– Những toán quân kia là gì thế?

Rồi chúng tôi nghe cụ lẩm bẩm trong miệng:

– Ăn mặc lôi thôi! Ăn mặc lôi thôi!

Chuyện chỉ có thế. Nhưng chúng tôi hiểu rằng từ nay phải hết sức thận trọng. Khốn nỗi, người ta thận trọng chưa đủ.

Một buổi tối, khi tôi đến, cô gái bối rối chạy ra đón tôi:

– Mai thì chúng vào thành rồi.

Cửa phòng ông cụ có mở không? Sự thật là về sau, nghĩ lại, tôi nhớ ra tối hôm ấy cụ có một vẻ mặt khác thường. Có lẽ cụ đã nghe được chúng tôi nói. Có điều, chúng tôi thì nói về quân Phổ, còn ông cụ thì nghĩ đến quân Pháp, đến cuộc khải hoàn mà cụ chờ đợi đã lâu. Thống chế Mác-Ma-hông tiến xuống đại lộ giữa hoa và kèn, con trai cụ đi bên cạnh thống chế, còn cụ, ông già, đứng trên ban công, mặc lễ phục, như hồi trận Lút-xen, chào những lá cờ rách tả tơi và những con đại bàng đen khói súng…

Tội nghiệp ông cụ Giu-vơ! Hẳn cụ tưởng người ta muốn ngăn cụ xem cuộc diễu binh của quân ta, để cụ khỏi xúc động quá mạnh. Vì thế cụ giữ kín, không nói với ai. Nhưng hôm sau, đúng vào giờ những tiểu đoàn Phổ rụt rè tiến vào con đường từ cửa ô Mai-ô dẫn tới cung Tuy-lơ-ri, thì cánh cửa sổ trên cao kia khẽ mở ra, và đại tá xuất hiện trên ban công, đội mũ trụ, đeo thanh gươm dài, mặc nguyên bộ quân phục cũ huy hoàng của người kỵ binh thiết giáp dưới quyền tướng Mi-ô. Đến giờ tôi vẫn tự hỏi do một cố gắng ý chí nào, một cơn bừng sống dậy nào mà cụ đứng lên được và mặc đủ bộ binh phục như thế. Chỉ chắc chắn một điều là cụ đã đứng đó, sau hàng lan can, ngạc nhiên thấy các đại lộ rộng thênh thang, câm lặng đến thế, cửa chớp các nhà đóng kín, Pa-ri ảm đạm như một trại cách ly khổng lồ, đâu đâu cũng treo cờ, nhưng là những lá cờ thật kỳ lạ, trắng toát với hình chữ thập đỏ, và không một ai đi ra đón quân ta.

Có lúc cụ có thể tưởng mình nhầm…

Nhưng không! Đằng kia, sau Khải Hoàn Môn, có tiếng rì rào hỗn độn, một vệt đen đang tiến tới trong ánh ngày vừa lên… Rồi dần dần, những mũi nhọn trên mũ sắt loé sáng, những cái trống nhỏ thời I-ê-na bắt đầu nổi lên, và dưới vòm cửa Ê-toan, theo nhịp những bước chân nặng nề của các đơn vị, theo tiếng gươm va nhau, vang lên bản Hành khúc khải hoàn của Su-be!…

Thế là giữa sự im lặng ảm đạm của quảng trường, người ta nghe một tiếng kêu, một tiếng kêu khủng khiếp: “Cầm vũ khí lên!… Cầm vũ khí lên!… Quân Phổ!” Và bốn tên kỵ binh đi đầu đội tiền vệ có thể thấy trên kia, trên ban công, một ông già cao lớn chới với, khua tay, rồi ngã vật xuống, cứng đờ. Lần này thì đại tá Giu-vơ đã chết thật rồi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAlphonse Daudet (1840 – 1897)
Năm mất1897
Xuất bản lần đầu1871
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Siège de Berlin, trong tập Les Contes du lundi, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →