Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Dạ hội của Thần Chết Đỏ

của Edgar Allan Poe

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 12.478 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Từ lâu, cái Chết Đỏ đã tàn phá khắp…
  2. 1:49Buổi dạ hội hoá trang ấy là một cảnh…
  3. 4:51Nhưng bất chấp những điều ấy, đó vẫn là…
  4. 6:46Còn những căn phòng kia thì đông nghịt người,…
  5. 8:57Kẻ nào dám? – Ông hỏi giọng khàn khàn,…
  6. 10:11Chính lúc ấy, hoàng thân Prô-xpê-rô, phát điên lên…

Từ lâu, cái Chết Đỏ đã tàn phá khắp xứ sở. Chưa có bệnh dịch nào chết chóc đến thế, ghê tởm đến thế. Máu là hiện thân và là dấu ấn của nó, cái màu đỏ và nỗi kinh hoàng của máu. Người bệnh đau nhói từng cơn, choáng váng đột ngột, rồi máu ứa ra đầm đìa qua các lỗ chân lông, và thế là chết. Những vết đỏ tươi trên thân thể, nhất là trên mặt nạn nhân, là lời tuyên án của bệnh dịch, khiến kẻ xấu số bị cắt đứt khỏi mọi sự giúp đỡ và cảm thông của đồng loại. Từ lúc phát bệnh, trở nặng, cho tới lúc tắt thở, tất cả chỉ diễn ra trong nửa giờ.

Nhưng hoàng thân Prô-xpê-rô thì vẫn vui vẻ, gan dạ và khôn ngoan. Khi lãnh địa của ông đã chết mất một nửa dân, ông cho gọi tới một nghìn người bạn khoẻ mạnh, vô tư trong số các hiệp sĩ và mệnh phụ của triều đình, rồi cùng họ lui về ẩn mình thật sâu trong một tu viện có thành luỹ của ông. Đó là một toà nhà rộng lớn và tráng lệ, do chính óc thẩm mỹ kỳ quặc mà uy nghi của hoàng thân tạo ra. Một bức tường cao và kiên cố bao quanh nó. Tường có những cánh cổng sắt. Vào trong rồi, đám cận thần đem lò rèn và búa tạ tới, hàn chết các then cửa. Họ quyết không để lại một lối vào hay lối ra nào, phòng khi ở bên trong có ai bỗng tuyệt vọng hay điên loạn mà muốn chạy trốn. Tu viện được tích trữ lương thực dồi dào. Phòng xa như thế, đám cận thần có thể thách thức bệnh dịch. Thế giới bên ngoài muốn ra sao thì ra. Trong lúc này, buồn rầu hay suy nghĩ đều là điên rồ. Hoàng thân đã lo sẵn đủ mọi thứ để vui chơi. Có anh hề, có người ứng khẩu làm thơ, có vũ nữ múa ba lê, có nhạc công, có nhan sắc, có rượu. Tất cả những thứ ấy, cùng với sự an toàn, đều ở bên trong. Bên ngoài là cái Chết Đỏ.

Vào khoảng cuối tháng thứ năm hay thứ sáu của cuộc ẩn náu, giữa lúc bệnh dịch ngoài kia hoành hành dữ dội nhất, hoàng thân Prô-xpê-rô mở một buổi dạ hội hoá trang lộng lẫy chưa từng thấy để đãi một nghìn người bạn của mình.

Buổi dạ hội hoá trang ấy là một cảnh tượng xa hoa. Nhưng trước hết, xin kể về những căn phòng nơi nó diễn ra. Có tất cả bảy phòng, một dãy phòng đáng bậc đế vương. Ở nhiều cung điện, những dãy phòng như thế nối thành một hàng dài thẳng tắp, các cánh cửa xếp đẩy sát vào tường hai bên, nên đứng một đầu có thể nhìn suốt tới đầu kia mà gần như chẳng vướng gì. Ở đây thì khác hẳn, đúng như người ta có thể đoán, vì vị công tước này vốn mê những gì kỳ dị. Các phòng được bố trí lộn xộn đến nỗi mỗi lúc mắt chỉ thấy được hơn một phòng chút ít. Cứ đi chừng hai ba chục bước lại gặp một khúc ngoặt gấp, và ở mỗi khúc ngoặt lại có một cảnh lạ. Ở chính giữa mỗi bức tường bên phải và bên trái có một ô cửa sổ kiểu Gô-tích cao và hẹp, nhìn ra một hành lang kín chạy dọc theo những khúc quanh của dãy phòng. Cửa sổ lắp kính màu, màu kính thay đổi theo màu trang trí chủ đạo của căn phòng nó mở vào. Chẳng hạn, căn phòng ở đầu phía đông treo toàn màu lam, và cửa sổ của nó cũng xanh lam rực rỡ. Phòng thứ hai trang trí và treo thảm màu tía, kính cửa cũng màu tía. Phòng thứ ba toàn một màu lục, khung cửa cũng thế. Phòng thứ tư bày biện và chiếu sáng bằng màu cam, phòng thứ năm màu trắng, phòng thứ sáu màu tím. Phòng thứ bảy thì phủ kín nhung đen, nhung treo khắp trần nhà, buông xuống các vách tường, rủ thành những nếp nặng trĩu trên một tấm thảm cùng chất liệu, cùng màu. Nhưng riêng ở phòng này, màu cửa sổ không hợp với màu trang trí. Kính ở đây màu đỏ thắm, một màu máu đậm đặc.

Trong cả bảy căn phòng, giữa bao nhiêu đồ trang trí bằng vàng bày rải rác khắp nơi hay treo lủng lẳng từ trần xuống, không có lấy một ngọn đèn hay một cây nến. Nhưng ngoài hành lang chạy dọc theo dãy phòng, đối diện mỗi cửa sổ có một chiếc giá ba chân nặng nề, đỡ một lò than hồng, ánh lửa xuyên qua lớp kính màu, rọi chói loà vào căn phòng. Nhờ vậy mà sinh ra vô số cảnh tượng sặc sỡ và kỳ ảo. Nhưng ở căn phòng phía tây, căn phòng đen, ánh lửa xuyên qua lớp kính màu máu đổ lên những tấm màn tối sẫm thì ghê rợn vô cùng, khiến mặt mũi những ai bước vào đều trông hoang dại đến nỗi trong đám khách rất ít người đủ can đảm đặt chân vào đó.

Cũng trong căn phòng ấy, sát bức tường phía tây, có một chiếc đồng hồ khổng lồ bằng gỗ mun. Quả lắc của nó đưa qua đưa lại, kêu những tiếng nặng nề, đục, đều đều. Và mỗi khi kim phút chạy hết một vòng mặt số, đến lúc phải điểm giờ, thì từ buồng phổi bằng đồng của chiếc đồng hồ lại vang ra một âm thanh trong trẻo, to, trầm và rất du dương, nhưng có một âm sắc và một nhịp nhấn kỳ lạ đến nỗi cứ hết mỗi giờ, các nhạc công trong dàn nhạc lại buộc phải ngừng chơi trong chốc lát để lắng nghe. Thế là những đôi đang nhảy van-xơ cũng đành dừng những vòng xoay của mình. Cả đám đông vui vẻ thoáng bối rối. Và trong lúc tiếng chuông còn ngân, người ta thấy những kẻ ham vui nhất cũng tái mặt đi, còn những người lớn tuổi và điềm đạm hơn thì đưa tay vuốt trán như đang mơ màng hay suy ngẫm điều gì mông lung. Nhưng khi tiếng vang đã tắt hẳn, một tràng cười khe khẽ lập tức lan khắp đám khách. Các nhạc công nhìn nhau mỉm cười, như cười cho sự hồi hộp và ngớ ngẩn của chính mình, và thì thầm thề với nhau rằng lần sau đồng hồ điểm, họ sẽ không xúc động như thế nữa. Rồi sau sáu mươi phút, tức là ba nghìn sáu trăm giây của Thời Gian đang trôi vùn vụt, đồng hồ lại điểm, và lại cũng sự bối rối, cũng nỗi run rẩy và cũng sự trầm ngâm như trước.

Nhưng bất chấp những điều ấy, đó vẫn là một buổi tiệc tưng bừng và lộng lẫy. Sở thích của vị công tước thật khác người. Ông có con mắt tinh tường về màu sắc và hiệu quả. Ông coi thường những phép tắc của thời trang thông thường. Những dự định của ông táo bạo và nồng nhiệt, ý tưởng của ông rực lên một vẻ huy hoàng man dã. Có người hẳn cho rằng ông điên. Những kẻ theo ông thì thấy ông không điên. Phải nghe ông, nhìn ông, chạm vào ông mới chắc được rằng ông không điên.

Phần lớn những đồ trang trí di động trong bảy căn phòng nhân dịp đại tiệc này là do ông chỉ bảo, và chính óc thẩm mỹ của ông đã định ra dáng vẻ của những người hoá trang. Hẳn nhiên họ đều quái dị. Khắp nơi chói loá, lấp lánh, tinh quái và ảo hoặc. Có những hình người kỳ dị với chân tay và trang phục chẳng ăn nhập gì với nhau. Có những ý tưởng mê sảng như do kẻ điên nặn ra. Có nhiều cái đẹp, nhiều cái phóng đãng, nhiều cái kỳ quặc, đôi chút đáng sợ, và không ít thứ có thể khiến người ta ghê tởm. Thật ra, đi qua đi lại trong bảy căn phòng là cả một đám đông những giấc mơ. Và những giấc mơ ấy uốn éo khắp nơi, nhuộm màu của từng căn phòng, khiến tiếng nhạc cuồng loạn của dàn nhạc nghe như tiếng vọng của chính bước chân họ.

Rồi chiếc đồng hồ gỗ mun đứng trong phòng nhung lại điểm. Trong khoảnh khắc ấy, mọi thứ lặng đi, tất cả im phăng phắc, chỉ còn tiếng đồng hồ. Những giấc mơ đứng sững, đông cứng tại chỗ. Nhưng tiếng chuông ngân rồi tắt, nó chỉ kéo dài trong một thoáng, và một tràng cười nhẹ, nửa kìm nén, bay theo tiếng chuông khi nó tan đi. Rồi nhạc lại trỗi lên, những giấc mơ lại sống dậy, uốn éo qua lại còn vui hơn bao giờ hết, nhuộm màu của những ô cửa nhiều sắc mà ánh lửa từ các giá đèn rọi qua. Nhưng tới căn phòng ở tận cùng phía tây trong bảy căn phòng thì giờ đây không người hoá trang nào dám bén mảng nữa. Vì đêm đã về khuya, ánh sáng đỏ hơn đổ qua những tấm kính màu máu, màn trướng đen tuyền trông càng đáng sợ, và kẻ nào đặt chân lên tấm thảm đen sẽ nghe từ chiếc đồng hồ gỗ mun ở ngay cạnh một tiếng ngân nghèn nghẹn, trang nghiêm và nặng nề hơn hẳn những gì vọng tới tai những người đang mải vui ở các phòng xa.

Còn những căn phòng kia thì đông nghịt người, và trong đó trái tim của sự sống đập rộn ràng như lên cơn sốt. Cuộc vui cứ cuốn đi cuồng nhiệt mãi, cho tới khi đồng hồ bắt đầu điểm nửa đêm. Lúc ấy, như tôi đã kể, nhạc ngừng, những đôi nhảy van-xơ dừng lại, và mọi thứ lại ngưng bặt một cách bứt rứt như trước. Nhưng lần này chuông đồng hồ phải điểm đủ mười hai tiếng. Và có lẽ vì thế mà thời gian dài hơn đã để cho nhiều suy nghĩ hơn len vào đầu những người hay suy nghĩ trong đám khách đang vui chơi. Cũng có lẽ vì thế mà trước khi tiếng vọng cuối cùng của tiếng chuông cuối cùng chìm hẳn vào im lặng, nhiều người trong đám đông đã kịp nhận ra sự có mặt của một người đeo mặt nạ mà trước đó chưa ai để ý tới. Tin về kẻ mới đến ấy được thì thầm truyền đi khắp nơi, và cuối cùng cả đám đông rộ lên tiếng xì xào, tiếng lao xao, mới đầu là phản đối và ngạc nhiên, rồi sau cùng là khiếp sợ, kinh hoàng và ghê tởm.

Trong một đám đông ma quái như tôi vừa tả, hẳn ai cũng hiểu rằng không một hình dạng tầm thường nào lại có thể gây xôn xao đến thế. Quả thật, đêm ấy người ta được phép hoá trang gần như không giới hạn. Nhưng kẻ này còn quá quắt hơn cả kẻ quá quắt nhất, vượt quá cả những giới hạn mơ hồ mà hoàng thân cho là còn chấp nhận được. Trong trái tim những kẻ liều lĩnh nhất vẫn có những sợi dây không thể chạm vào mà không rung động. Ngay cả với những kẻ đã hoàn toàn buông thả, coi sống và chết đều là trò đùa, vẫn có những chuyện không thể đem ra đùa. Thật vậy, giờ đây cả đám khách dường như đều thấm thía rằng trong cách ăn mặc và điệu bộ của kẻ lạ mặt kia chẳng có chút tinh tế hay đứng đắn nào. Hắn cao và gầy đét, từ đầu tới chân quấn trong vải liệm của người chết. Chiếc mặt nạ che mặt hắn được làm giống hệt khuôn mặt một xác chết đã cứng đờ, đến nỗi nhìn thật kỹ cũng khó lòng nhận ra là giả. Dẫu vậy, những kẻ ăn chơi điên rồ quanh đó có lẽ vẫn còn chịu đựng được tất cả những thứ ấy, dù không tán thưởng. Nhưng kẻ hoá trang kia đã đi xa tới mức đội lốt chính cái Chết Đỏ. Áo hắn vấy máu, và vầng trán rộng cùng khắp các nét mặt hắn lấm tấm thứ màu đỏ kinh hoàng ấy.

Khi mắt hoàng thân Prô-xpê-rô bắt gặp hình bóng ma quái ấy, đang chậm rãi, trang nghiêm bước qua bước lại giữa những đôi nhảy như để đóng vai cho trọn, người ta thấy ông giật nảy người. Thoạt tiên là một cơn rùng mình dữ dội, không rõ vì sợ hay vì ghê tởm. Nhưng ngay sau đó, trán ông đỏ bừng lên vì giận dữ.

– Kẻ nào dám? – Ông hỏi giọng khàn khàn, quay sang đám cận thần đứng gần. – Kẻ nào dám lăng mạ chúng ta bằng trò chế nhạo báng bổ này? Bắt lấy hắn, lột mặt nạ hắn ra, để chúng ta biết sáng mai phải treo cổ ai trên tường thành!

Lúc thốt ra những lời ấy, hoàng thân Prô-xpê-rô đang đứng trong căn phòng phía đông, căn phòng màu lam. Lời ông vang to và rõ khắp bảy căn phòng, vì hoàng thân là người dạn dĩ, cường tráng, và tiếng nhạc đã im bặt khi ông phẩy tay.

Hoàng thân đứng trong căn phòng màu lam, cạnh một nhóm cận thần mặt cắt không còn hột máu. Lúc ông vừa lên tiếng, nhóm này hơi nhao về phía kẻ đột nhập, khi ấy cũng đang ở gần đó, và giờ đây đang bước những bước thong thả, đường bệ lại gần người vừa nói. Nhưng vì một nỗi khiếp sợ khó gọi thành tên mà sự đội lốt điên rồ của kẻ hoá trang đã gieo vào lòng mọi người, không ai dám giơ tay ra bắt hắn. Thế là không gì cản trở, hắn đi ngang qua cách hoàng thân chưa đầy một sải tay. Và trong khi cả đám đông như cùng một ý, giạt từ giữa các phòng ra sát tường, hắn cứ thế đi thẳng không vướng víu, vẫn với những bước chân trang nghiêm và chừng mực đã làm hắn khác hẳn mọi người ngay từ đầu. Hắn đi từ phòng lam sang phòng tía, từ phòng tía sang phòng lục, từ phòng lục sang phòng cam, từ đó sang phòng trắng, và cả từ đó sang phòng tím, mà vẫn chưa có ai thật sự ra tay chặn hắn lại.

Chính lúc ấy, hoàng thân Prô-xpê-rô, phát điên lên vì giận dữ và vì xấu hổ trước giây phút hèn nhát của chính mình, lao vội qua sáu căn phòng. Không một ai đi theo ông, vì tất cả đã bị một nỗi kinh hoàng chết người xâm chiếm. Ông giơ cao một con dao găm đã rút khỏi vỏ, lao tới hung hãn, tới chỉ còn cách cái hình bóng đang rút lui kia chừng một mét. Đúng lúc ấy, kẻ kia đã tới tận cùng căn phòng nhung, bỗng quay phắt lại đối mặt với người đuổi theo mình. Có một tiếng kêu thất thanh, và con dao găm rơi xuống, loé sáng trên tấm thảm đen. Ngay sau đó, hoàng thân Prô-xpê-rô cũng ngã sấp xuống tấm thảm ấy, chết.

Thế rồi, gom hết lòng can đảm điên cuồng của kẻ tuyệt vọng, một đám khách lập tức ùa vào căn phòng đen, túm lấy kẻ hoá trang đang đứng thẳng, bất động trong bóng chiếc đồng hồ gỗ mun. Và họ nghẹn thở trong nỗi kinh hoàng không lời nào tả xiết, khi thấy bên trong bộ vải liệm và chiếc mặt nạ xác chết mà họ đang thô bạo vò nắm kia chẳng có một hình hài nào sờ thấy được.

Đến lúc ấy người ta mới biết cái Chết Đỏ đã có mặt. Nó đã tới như một tên trộm trong đêm. Và từng người, từng người một, những kẻ vui chơi ngã gục trong những gian phòng tiệc đẫm máu, và mỗi người chết trong cái tư thế tuyệt vọng khi mình ngã xuống. Sự sống của chiếc đồng hồ gỗ mun cũng tắt theo sự sống của kẻ vui chơi cuối cùng. Những ngọn lửa trên giá ba chân lụi tắt. Và Bóng Tối, Mục Nát cùng cái Chết Đỏ ngự trị vô biên trên tất cả.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảEdgar Allan Poe (1809 – 1849)
Năm mất1849
Xuất bản lần đầu1842
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Masque of the Red Death, Edgar Allan Poe, 1842; bản in trong The Works of Edgar Allan Poe, tập 2 (Project Gutenberg số 2148)
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →