Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, bậc Đại Sĩ sinh làm một chàng khẩn-na-la ở miền núi Tuyết. Khẩn-na-la là loài tiên nhỏ sống trên núi, hát hay múa giỏi. Vợ chàng tên là Chan-đa, nghĩa là Ánh Trăng. Hai vợ chồng sống cùng nhau trên một ngọn núi bạc tên là Chan-đa-páp-ba-ta, nghĩa là núi Trăng.
Thuở ấy, vua Ba-la-nại giao việc nước cho các quan, rồi một mình khoác hai tấm áo vàng, mang theo năm thứ khí giới là gươm, giáo, cung, rìu chiến và khiên, lên miền núi Tuyết.
Trong lúc ăn thịt thú săn được, vua nhớ ra gần đó có một con suối nhỏ, bèn trèo lên đồi.
Những khẩn-na-la sống trên núi Trăng, mùa mưa thì ở yên trên núi, chỉ tới mùa nắng mới xuống. Lúc ấy chàng khẩn-na-la cùng vợ xuống núi, đi lang thang khắp nơi. Hai vợ chồng xoa lên mình đủ thứ hương thơm, ăn phấn hoa, lấy những tấm lụa dệt bằng hoa làm áo trong áo ngoài, đánh đu trên những dây leo mà vui chơi, cất giọng hát ngọt như mật.
Chàng cũng tới con suối ấy. Tới một chỗ dừng chân, chàng cùng vợ xuống suối, tung hoa khắp nơi, đùa nghịch dưới nước. Rồi hai vợ chồng lại mặc những tấm áo hoa, trải một chiếc giường hoa trên một bãi cát trắng như đĩa bạc, nằm nghỉ ở đó. Chàng khẩn-na-la nhặt một khúc tre, thổi lên thành tiếng nhạc, cất giọng hát ngọt như mật. Còn người vợ thì đung đưa đôi bàn tay mềm mại, múa ngay bên cạnh, vừa múa vừa hát theo.
Nhà vua nghe tiếng, rón rén bước thật khẽ cho khỏi nghe tiếng chân, tới gần, nấp ở một chỗ kín mà ngắm đôi khẩn-na-la. Vua lập tức đem lòng say mê nàng khẩn-na-la. Vua nghĩ: "Ta sẽ bắn chết người chồng, rồi ở lại đây với người vợ."
Thế là vua giương cung bắn chàng khẩn-na-la. Chàng đau đớn, cất tiếng than:
— Chan-đa ơi, hình như ta sắp lìa đời rồi, máu ta đang chảy, chảy mãi. Ta không còn giữ nổi mạng sống nữa, Chan-đa ơi, hơi thở của ta đang tắt dần. Hơi thở ta chìm xuống, ta đau đớn quá, tim ta như bị thiêu đốt. Nhưng chính vì nỗi khổ của nàng, Chan-đa ơi, mà tim ta thổn thức. Ta héo đi như cỏ, như cây, ta cạn khô như dòng sông không còn nước. Nhưng chính vì nỗi khổ của nàng, Chan-đa ơi, mà tim ta thổn thức. Nước mắt ta rơi như mưa rơi trên mặt hồ dưới chân núi. Nhưng chính vì nỗi khổ của nàng, Chan-đa ơi, mà tim ta thổn thức.
Than thở như thế, bậc Đại Sĩ nằm trên chiếc giường hoa, ngất đi, quay mặt sang một bên. Nhà vua vẫn đứng yên chỗ cũ.
Nàng khẩn-na-la đang say sưa trong niềm vui của mình, nên ngay cả khi chàng cất tiếng than, nàng cũng không biết bậc Đại Sĩ đã bị thương. Thấy chàng nằm quay mặt đi, bất động, nàng mới tự hỏi không biết chồng mình làm sao. Xem kỹ, nàng thấy máu rỉ ra từ miệng vết thương. Không chịu nổi nỗi đau đớn vì thương người chồng yêu dấu, nàng kêu khóc thật to.
Vua nghĩ: "Chắc tên khẩn-na-la đã chết." Vua bèn bước ra, lộ mặt.
Trông thấy vua, nàng Chan-đa nghĩ: "Hẳn đây là tên cướp đã giết chồng yêu dấu của ta!" Nàng run rẩy bỏ chạy. Đứng trên đỉnh đồi, nàng nguyền rủa nhà vua:
— Hỡi ông hoàng độc ác, khổ thân tôi! Ông đã bắn chồng yêu dấu của tôi, giờ chàng đang nằm trên mặt đất, dưới gốc cây rừng kia. Hỡi ông hoàng, nỗi đau đang vò xé lòng tôi, mong rằng mẹ ông sẽ phải nếm trải, nỗi đau khi tôi thấy chàng khẩn-na-la của tôi chết đi hôm nay! Phải, hỡi ông hoàng, nỗi đau đang vò xé lòng tôi, mong rằng vợ ông sẽ phải nếm trải, nỗi đau khi tôi thấy chàng khẩn-na-la của tôi chết đi hôm nay! Mong cho mẹ ông phải khóc chồng, phải khóc con, vì ông đã làm điều này với chồng tôi, người vô tội, chỉ vì lòng ham muốn. Mong cho vợ ông phải chứng kiến cảnh mất chồng mất con, vì ông đã làm điều này với chồng tôi, người chẳng hại ai, chỉ vì lòng ham muốn.
Nàng đứng trên đỉnh núi than khóc như thế. Nhà vua an ủi nàng:
— Đừng khóc, đừng buồn nữa. Rừng sâu tăm tối đã làm nàng mù quáng mất rồi. Một hoàng cung sẽ tôn vinh nàng, và nàng sẽ là hoàng hậu của ta.
— Ông vừa nói gì thế?
Nghe vậy, nàng Chan-đa cất tiếng vang như sư tử rống:
— Không! Tôi thà tự giết mình! Tôi sẽ không bao giờ là của ông, kẻ đã giết chồng tôi, người vô tội, chỉ vì ham muốn tôi.
Nghe vậy, lòng ham muốn của vua tan biến. Vua nói:
— Nếu nàng muốn sống thì cứ sống, hỡi nàng nhút nhát! Hãy về núi Tuyết mà ở. Ta biết những sinh vật sống bằng cây cỏ, hoa lá như nàng chỉ yêu núi rừng mà thôi.
Nói rồi, vua dửng dưng bỏ đi.
Vừa biết vua đã đi xa, nàng Chan-đa chạy xuống, ôm lấy bậc Đại Sĩ, mang chàng lên đỉnh đồi, đặt nằm trên một bãi đất bằng. Nàng đặt đầu chàng lên đùi mình mà than khóc:
— Nơi đây giữa đồi núi và hang động, giữa bao khe sâu và hốc đá, em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Muông thú đi lại, lá cây trải khắp những chốn xinh đẹp. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Muông thú đi lại, hoa thơm trải khắp những chốn xinh đẹp. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Những dòng sông trong vắt chảy xuống từ núi, hoa mọc phủ kín đôi bờ. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi chàng bỏ em lại một mình?
— Những ngọn núi Tuyết xanh biếc, đẹp biết bao nhiêu. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Những ngọn núi Tuyết dát vàng trên đỉnh, đẹp biết bao nhiêu. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Những ngọn núi Tuyết rực đỏ, đẹp biết bao nhiêu. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Những đỉnh núi Tuyết nhọn hoắt, đẹp biết bao nhiêu. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Những đỉnh núi Tuyết trắng ngời, đẹp biết bao nhiêu. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Dãy núi Tuyết muôn sắc cầu vồng, đẹp biết bao nhiêu. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Núi Hương được các vị thần núi yêu mến, cây cỏ phủ kín khắp nơi. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
— Loài khẩn-na-la yêu núi Hương, cây cỏ phủ kín khắp nơi. Em biết làm sao đây, chàng khẩn-na-la của em ơi, khi em không còn thấy chàng nữa?
Nàng than khóc như thế. Rồi nàng đặt bàn tay của bậc Đại Sĩ lên ngực mình, thấy tay chàng vẫn còn ấm. Nàng nghĩ: "Chàng vẫn còn sống! Ta sẽ trách móc các vị thần cho tới khi chàng sống lại!" Rồi nàng kêu to, trách móc các vị thần:
— Chẳng lẽ không có ai cai quản thế gian này sao? Hay các vị đã đi xa cả rồi? Hay các vị đã chết hết rồi, nên mới không cứu chồng yêu dấu của tôi?
Nỗi đau của nàng mạnh tới mức chiếc ngai của Đế Thích nóng rực lên. Suy ngẫm, ông biết được nguyên do. Ông hoá thành một vị bà-la-môn, tới nơi, lấy nước trong một chiếc bình rưới lên mình bậc Đại Sĩ. Ngay lập tức, chất độc hết tác dụng, sắc mặt chàng hồng hào trở lại, ngay cả chỗ vết thương cũng không còn dấu vết. Bậc Đại Sĩ đứng dậy, khoẻ mạnh như thường.
Thấy chồng yêu dấu lành lặn, nàng Chan-đa mừng rỡ quỳ xuống dưới chân Đế Thích, cất lời ca ngợi:
— Xin kính chào vị bà-la-môn thánh thiện, người đã trả lại cho một người vợ bất hạnh người chồng yêu dấu của nàng, bằng cách rưới lên chàng nước cam lồ trường sinh!
Đế Thích khuyên hai vợ chồng:
— Từ nay về sau, đừng xuống núi Trăng tới những con đường của loài người nữa, mà hãy ở yên trên này.
Ông nhắc lại lời ấy hai lần, rồi trở về cõi của mình.
Nàng Chan-đa bảo chồng:
— Chàng ơi, ở lại đây làm gì cho nguy hiểm? Đi thôi, chúng ta về núi Trăng. Ta hãy về núi, nơi những dòng sông xinh đẹp chảy, những dòng sông hoa mọc phủ kín đôi bờ. Ở đó mãi mãi, trong khi làn gió thì thầm giữa nghìn cây xanh, ta sẽ trò chuyện cùng nhau cho những giờ phút hạnh phúc thêm say đắm.
Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: nhà vua thuở ấy là A-na-luật, nàng Chan-đa là mẹ của La-hầu-la, còn chàng khẩn-na-la chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích