Phần 1
Giấc mộng lớn, từ năm lên bốn giở về trước không nhớ; nhớ từ năm lên năm, chép từ năm lên năm.
Năm mình lên năm tuổi, tức là năm Thành-Thái thứ năm, ở Nam-định vỡ lòng học chữ Hán. Khi ấy đi học, còn phải có người cõng, về nhà chỉ thích chơi chuồn chuồn. Trong năm ấy, học hết được một quyển Tam-tự-kinh, một quyển Ấu-học ngũ-ngôn-thi và một phần quyển Dương-tiết. Trong ba quyển sách ấy, thích nhất là quyển Ấu-học ngũ-ngôn-thi; trong quyển Ấu-học Ngũ-ngôn-thi thích nhất là hai câu hoa-cù hồng phấn nữ, tranh khán lục y lang. Cái bệnh đa tình từ đấy, cái lòng mê khoa-cử cũng từ đấy. Các nhà làm sách để dạy trẻ, cũng nên cẩn thận thay!
Hết năm lên năm, sang đến năm lên sáu, ở Nam-định lên Hà-nội, học Luận-ngữ chính-văn. Năm lên bẩy, lên tám, thời về quê nhà ở Sơn-tây, núi Tản sông Đà, từ đấy mới kết duyên non nước.
Trong thời-kỳ ấy, tư-tưởng hành vi, nhiều cái rất tự-nhiên. Lần thứ nhất mình thấy có đám ma, hỏi ra thời chúng nói là trong làng có ông cụ chết; trong bụng lấy làm rất lạ: người mà sao lại có người chết! Thấy chúng nói truyện làm nhà, cũng lấy làm rất lạ: nguyên tưởng những cái nhà người ta ở, là tự giời đất sinh nó ra như thế, sao lại có người phải làm nhà! Có một khi cùng những trẻ con trong họ, chơi làm sự hát chèo, mình đóng vai Từ-Thức, mặc một cái áo bằng cấp mà không có mặc quần; đến lúc cửi áo cẩm-bào để tha cho người tiên-nữ, cả chúng đều vỡ cười.
Khoảng năm mười một mười hai tuổi, học ông anh ở nhà, có câu đối ra rằng:
Nhiếp hồ đại-quốc chi dan;
Đối:
Ngật như cự nhân chi chí.
Năm mười bốn, ông anh bổ về làm giáo-thụ phủ Quảng-oai (thuộc Sơn-tây), mình theo về để học. Cuối năm mười tám tuổi đó là năm Bính-ngọ, theo ông anh về chấm trường thi Nam. Năm mười chín, lại theo ông anh về tu-thư ở Hanoi. Nhà chọ phố hàng Nón, mình đi học trường Qui-thức (Ecole modèle) ở phố Gia-ngư; bạn hữu mới bắt đầu giao du, con đường thân thế mới mở lối, thời có câu truyện ở hàng Bồ.
Ở hàng Bồ, số nhà hơn hai mươi về giẫy bên lẻ, có một người con gái ngồi bán hàng tạp-hóa, không biết có phải là tuyệt-sắc hay không, mà tự con mắt mình khi bấy giờ thời như ngoài người ấy không có ai là con gái. Mỗi buổi chiều tan học, ở Gia-Ngư về hàng Nón, trừ phi giời mưa gió, thường tất phải đi quanh qua hàng Bồ. Tấm lòng ao-ước, ngỏ cùng một người anh em bạn học đồng-canh. Người bạn đi nói giúp việc mối. Cứ bên nhà người con gái, thời việc có nhẽ song; bên nhà mình thời ông anh chỉ bảo một câu rằng: «nhà ta nghèo như thế, lấy đâu được song-mã mà cưới.»
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,
Trần-giới em nay chán nửa rồi!
Hai câu thơ in ở đầu quyển Khối-Tình-Con thứ nhất là mãi đến khi sau mới làm ra, mà cái cảm-tưởng thực phát đoan từ đấy. Tuy vậy, một sự thất-vọng đó cũng không dám lấy làm oán-vọng, vì một sự hy-vọng đó nguyên vẫn tự biết là xa-vọng; lại sự thất-vọng đó cũng chưa hẳn đã là tuyệt-vọng; lại cái lòng mê khoa-cử đương trọng, cho nên chữ tình duyên riêng để một bên.
Hết năm ấy, về ở quê, rồi sang học ở phủ Vĩnh-Tuờng (thuộc Vĩnh-Yên), là theo ông anh lại bổ về làm giáo-thụ ở phủ ấy. Ở Vĩnh-tường bốn năm năm, chuyên tâm về sự học. Mục-đích sự học ở khoa-cử, tiền-đồ khoa-cử có quan-hệ với tình duyên. Đến lúc thi hỏng luôn hai khoa mà ý-trung-nhân xuất giá, thời «đời đáng chán hay không đáng chán», cũng chẳng đợi cất chén quỳnh mà hỏi bạn tri-âm. Sau đó rồi mới có lúc ở chùa Non-tiên, tế nàng Chiêu-quân, sự thuộc năm Duy-tân thứ bẩy.
Chùa Non-tiên ở núi Non-tiên, về phận đất làng Tiên-Mai, thuộc phủ Mỹ-đức tỉnh Hà-đông, Chùa ở chân núi, núi trông xuống sông, sông có bãi. Trên núi có miếu riêng thờ chư vị tiên-nữ. Sông về khoảng mùa xuân thời có nhiều tầu thuyền đi lại đưa khách ở Hà-nam đi chùa Hương. Đứng trên núi trông về mặt trước thời ngư, tiều, canh, mục đủ hết. Chèo lên những cành cây to ở mỏm núi mà trông xuống khúc sông đó, thời chùa Hương phủ Lý, biết bao trần-khách vãng lai. Khi ở Non-tiên là nhân có một người bạn thân ở gần vùng đó, cũng lai là một ông bạn đồng-canh, thấy mình trong lúc vô-liêu-lại về chơi, cho nên vì nhau tìm cảnh thú giải phiền, mà chùa núi Non-tiên mới thành chỗ dung người yếm thế. Khi mới đến ở đó, đem vài bốn người học trò nhỏ theo học, để lấy kẻ sai khiến. Ngày cùng các thân-hữu đem rượu lên núi chơi, có khi đêm sáng giăng. cùng nhau ra rạo cảnh quanh chùa để đi tìm hồ quỉ. Trong khi đó. tự lấy làm phóng dật thanh cao, nhưng thực đã gần ra tâm-tật vậy. Đêm hôm rầm tháng ba, tế nàng Chiêu-Quân ở sân chùa, giết hai con gà làm cơm cúng, có đủ rượu, hoa, nhang, sáp, một người anh em bạn giúp việc, việc tế rất thành kính. Bài văn tế, nguyên văn bằng chữ nho rằng:
Bài văn đó, sau về đến Nam-định, quan huyện Nẻ-Xuyên dịch ra quốc văn rằng:
Cô ơi, cô đẹp rất đời,
Mà cô mạnh bạc, thợ giời cũng thua.
Một đi từ biệt cung vua,
Có về đâu nữa! đất Hồ ngàn năm.
Mả xanh còn dấu còn căm,
Suối vàng lạnh-lẽo cô nằm với ai.
Má hồng để tiếc cho ai,
Đời người như thế, có hoài mất không.
Khóc ai nước mắt giòng giòng,
Xương không còn vết, giận không có kỳ.
Mây mờ giăng bạc chi chi,
Hôi tanh thôi có mong gì khói nhang.
Ối hồng-nhan! hỡi hồng-nhan!
Khôn thiêng cũng chẳng ai van ai mời.
Giời nam thằng kiết là tôi,
Chùa tiên đất khách khóc người bên Ngô.
Tôi với cô, tôi với cô,
Trước sân lễ bạc, có mồ nào đây.
Hồn cô giá có ở đây,
Đem tôi đi với, lên mây cũng là...
Quan huyện Nẻ Xuyên, họ Nguyễn, tên húy là Thiện-Kế, tên tự là Thuật-chi, người làng Nẻ-độ ở Hưng-yên, sau lên ở Sơn tây. Ngài có tri huyện Tùng-thiện và Phúc-thọ, cho nên gọi là quan huyện. Ráng mặt ngài trông như người móm, cho nên tục thường gọi là ông huyện Móm. Ngài là một tay đại thi-hào trong áng quốc-văn mới đây vậy. Các văn thơ của Ngài hùng-hồn lỗi lạc mà nhiều vẻ khôi-hai, truyền tụng trong xã-hội cũng nhiều, nhưng bởi sinh-thời Ngài chỉ thích khẩu đọc chơi, không có chép ra thành biên, cho nên sau này không có tập. Như bài văn trên đây cũng là trong khi Ngài cùng mình ở chơi Nam-định, nhân mình đem nguyên-văn ra đọc, rồi Ngài tùy khẩu dịch luôn. Những bài khác của ngài làm ra trong khi ấy cũng còn có ít nhiều, tiếc không nhớ được mấy, nhớ có bài vịnh một trứng trăm trai rằng:
Lạ lạ con tiên với cháu rồng,
Biết đâu có có với không không.
Nếu hai nhăm triệu cùng cha mẹ,
Sao cưới xin nhau dám vợ chồng.
Cai sinh-nhai quốc văn của mình có hơn mười năm nay, thực từ trong lúc thanh-niên, có quan Huyện phát đoan dẫn đạo. Đến nay thời kẻ pha đầu bạc, người đã suối vàng, lá đỏ cành thu, cỏ xanh mồ cổ. Thương nhớ thay!
Sau lúc tế nàng Chiêu-Quân, từ giã các bạn Non-tiên, lại xuôi về Nam với quan Huyện, ở tựa một nhà đại tư-bản. Trong khi ấy ngoài sự làm thơ văn, chỉ mê thiết xem các thứ nhật-trình tầu. Cảnh-ngộ vô tình, mà cái cơ duyên báo chí sau này cũng phá đoan từ đấy. Hết xuân sang hạ, ở Nam-định về Sơn-tây, rồi vào ở tại ấp Cổ-đằng. Trong giấc phù-sinh, lại sinh xuất có một đoạn rất ly-kỳ quái ảo.
Ấp Cổ-đằng, địa-phận về hạt huyện Tùng-thiện, mà kể quyền sở-hữu thời là đất của ông Điêu-văn-Trì. Quan huyện Nẻ-xuyên, sau khi đã thôi sự làm quan, dủ bạn hữu các quan bỏ tiền ra mỗi người ít nhiều, nói với ông Điêu cho nhận một khu đất để lập ấp, công việc do Ngài trông coi, ông anh mình cũng có một phần mọn góp ở đó. Từ tỉnh-lỵ Sơn-tây vào Ấp, chừng độ 14 cây số, đất sỏi đường đồi. Trong ấp, có một cái nhà lá to, dưới là nhà ngang, là bếp; chung quanh nữa là các nhà điền-hộ canh-phu. Khi ấy việc ấp cũng không được phát đạt, cho nên quan huyện ít đi lại, chỉ giao cho người nhà trông coi. Mình từ khi ở ấp, bốn bề phong-cảnh, phải đâu như hàng Nón hàng Bồ, gió hót giăng cheo, rừng reo suối chẩy. Cái bụng chán đời đến cực-điểm, quyết mong tịch cốc để từ trần. Tiếc không nhớ là bắt đầu từ ngày hôm nào, thôi sự ăn cơm, chỉ khát không chịu được thời còn phải uống nước. Ba hôm như thế, sầu khổ không thể chịu được nữa, thời lại phải uống rượu. Rượu uống cũng uống xuông, mà uống đến thật say. Nguyên đã ba hôm không ăn, trong bụng hư-không, lại một phen say rượu mê ly, thành ra từ đấy về sau, khác hẳn từ đấy về trước. Bụng không biết no, không biết đói; người không biết vui, không biết buồn; chỉ cứ mỗi ngày một bữa rượu, hoặc uống xuông, hoặc ăn bằng một đĩa rau rưa nhỏ con, song rồi đem chõng ra nằm ở dưới cây ngọc-lan, nghe những con chim kêu trên cành cây, hoặc là xem những đám mây đi trên giời, con chim bay trên không, xem kết-cục đến đâu là hết. Ngày thanh đêm vắng, mới sinh ra làm nhiều những thơ văn quốc-văn. Các thơ văn trong buổi ấy, đến sau in ở hai quyển Khối-tình và Khối-tình-con thứ nhất về phần nhiều, mà trong khi đương ở Cổ-đằng, thực chưa có bụng nào viết văn để in vậy. Ở Cổ-đằng ba tháng, rồi theo mệnh lệnh gia-đình, phải về trên quê ở. Từ khi về ở quê, đương ăn rau đổi ra ăn thịt. Mỗi ngày cũng chỉ có một bữa ăn; mỗi bữa ăn, hoặc là cái thủ heo, hoặc con gà, con vịt, hoặc con cá, tất toàn-thể đặt trong mâm với con dao đĩa muối; rượu thời uống hũ. không uống chai. Bữa ăn cũng rất là vô thường, nếu thuộc về phần đêm thời có khi thắp hai mươi tám ngọn nến, gọi là nhị thập bát tú; thắp bẩy ngọn nến, gọi là thất-tinh-đàn. Bữa ăn nếu về phần ngày, thời sau khi ăn song, tất phải có con dao thanh quắm, đi chém phạt ít nhiều cành cây, như không thế thời không thấy thú sướng. Lại như những con gà con vịt, nếu không được tự tay mình cắt tiết thời ăn không thấy ngon. Đương lúc ăn rau thời trong bụng sao mà thanh cao; đến khi ăn thịt thời sao mà sát-tâm đến như thế! Đương lúc ăn rau thời ở trong nhà đi ra sân, có khi phải vịn theo hàng ghế; đến khi ăn thịt thời sao mà khỏe mạnh lạ thường! Nhân nghĩ đến câu thực nhục giả dũng hãn, có khi là phải; ma sự ăn quan-hệ với người há nhỏ ru?
Ở nhà quê cũng vừa đúng ba tháng, rồi lại phải theo mệnh lệnh gia-đình, sang phủ Vĩnh-tường để ăn cơm. Trước khi ăn cơm, phải học tập ăn cháo. Một người đàn bà có quen biết là con gái quan tri ở phủ đó có nhắn lời hỏi thăm rằng: «ông ấm đã biết ăn cơm chưa?»
Trước sau trong sáu tháng giời không ăn cơm, nhất thiêt việc đời gác ra ngoài bụng. Từ lúc miếng cơm đã vào miệng, thời bao những trần-duyên tục-lụy, lại theo nhau cho đến kỳ-cùng. Năm Duy-tân thứ chín, vua Duy-Tân lập hậu ma mình cũng thành hôn. Đến nay đà ba bốn đứa con, cảnh ngộ ở đời cũng lại chẳng khác chi người khác; lo ăn lo mặc, kiếp phù sinh rút lại cũng như ai. Cho hay con người ta sinh ra đời, như đã bị ở dưới một cái qui-trình nhất định, dẫu có muốn ương với hóa-công mà thoát vòng đào-trú, khó thay!
Sang đầu năm sau là năm Duy-tân thứ mười, ông anh tạ thế; đến tháng năm năm ấy, một người cháu ruột lại từ trần. Cái tình cảnh bi thương trong gia đình, hợp với cái cảnh-ngộ bần hàn của thân thế, khiến cho kẻ chán đời chẳng được thời lại phải tùy thời tùy thế; mà sinh-nhai lối dọc đường ngang. Hai phen diễn kịch ở Hà-nội, Hải-phòng, cùng là các thứ sách truyện Khối-tình con, Giấc-mộng-con, Khối-tình chính, phụ, Đài-gương kinh, truyện, Lên-sáu Lên-tám, đều là những công việc làm ăn trong khoảng mấy năm vậy. Trong khoảng mấy năm ấy, ngoài công việc làm ăn, có hai sự đáng nhớ, một là sự học, hai là sự đi chơi.
Sự học, từ sau khi thi hỏng khoa nhâm-tử, thôi nghề khoa-cử, mới xem ra sách ngoài: nhưng cũng vẫn chỉ là những các sách cũ của Trung-quốc. Đến khoảng mấy năm ấy, thời mới xem rộng ra các thứ sách mới của người Trung-quốc dịch của người Thái-tây. Trong các thứ sách dịch ấy, có một quyển đáng nhớ hơn, là quyển Quyền-giới-luận. Quyển sách này, nguyên của người nước Anh là Mục-Lặc (Stuard Mill) làm ra, người tầu là Nghiêm-Phục đứng dịch. Mới xem hai bài tựa ở trên, trong bụng lấy làm lạ. Bài tựa của tác-giả, đại-ý chỉ nói rằng: «quyển sách này làm ra sau khi người vợ đã tạ thế, không có ai chữa lại cho nữa, cho nên kém hay.» Bài tựa của dịch-giả, thời câu cuối có nói rằng: «Quyển sách này sau khi dịch ra, đã đánh mất đi mấy năm, mà rồi lai tìm được, có lẽ là giời thương bốn vạn vạn đồng-bào Trung-quốc mà không nỡ bịt mất một cái tia sáng chăng?» Xem hai bai tựa như thế, rồi xem vào trong sách, thời tự thấy có ích cho mình về tinh thần tiến thủ. Sau khi đã xem quyển sách ấy, hơn trước khi chưa xem.
Sự đi chơi, từ năm Kỷ-dậu giở về trước, chỉ có loanh-quanh trong mấy tỉnh ở Bắc. Đến năm canh-thân là năm 32 tuổi, mới theo cùng một nhà tư-bản vào chơi đất Trung-Kỳ. Nguyên sự đi chơi, chủ ý là đi Huế, rồi nhân tiện vào Tourane. Tourane ở không đầy một ngày, Huế thời ở lâu mà cũng không có đi xem chơi được mấy chỗ; tóm lại cái lợi ích trong sự đi chơi ấy, được ở dọc đường về phần nhiều. Rộng mắt nhân dân sơn hải, mà nặng lòng chủng tộc giang sơn. Chèo lên đỉnh núi Hoành-sơn mà trông quanh ngoài bể trong non, có hơn như phục dưới đèn xanh, đọc một thiên luận thuyết tự tôn vậy.
Sau khi đi chơi Trung-kỳ về, vẫn ở nhà xem sách và theo làm các công việc sách vở như thường. Trong nhà có mẹ có vợ, sinh nhai đạm bạc, cũng tạm đủ yên vui qua ngày. Hằng khi dưới bóng tà-dương, một mình lơ-lửng trên con đường đê cao, bên nọ sông Đà, bên kia núi Tản. Một mối cảm-tình thanh thượng, lơ-thơ như tơ liễu chiều xuân. Cái tiểu-thuyết Thề-non-nước, «nước đi đi mãi không về cùng non», văn-ý thực phát sinh trong lúc ấy. Lại đôi lúc sông Đà mùa nước, nước rộng mênh mông, gió quốn mặt sông, sóng nhô giòng nước, cái cảm-tình phấn khích lại cũng theo với những sóng, sông, gió, nước, mà tưởng như phá lãng thừa phong. «Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán, cánh chim bằng chín vạn những chờ mong.» Hai câu trong bài hát miễu nói hỏi gió có lưu hành ở trong xóm bình-khang, cũng là những văn thơ lúc ấy vậy. Cái phúc thanh nhàn, giời bảo hãy hưởng qua như thế.
Sóng dợn sông Đà, con cá nhẩy;
Mây chùm non Tản, cái diều bay.
Năm 33 tuổi, tức là năm 1921, mới ra làm chủ-bút Hữu-thanh, diễn thuyết ở nhà hội Trí-tri, ấy là mới nồng đậm giao du với xã-hội. Làm chủ-bút Hữu-thanh sáu tháng, rất là vô công trạng; đến cuối năm ta năm ấy, có lời từ chức, lưu lại bốn câu thơ đăng báo rằng:
Mới nửa năm giời báo Hữu-thanh,
Biệt ly lai láng xiết bao tình!
Chút tình hữu ái không ly biệt,
Tiếng gọi đàn xa núi Tản xanh.
Ở Hữu-thanh thôi về, đến tháng ba năm sau là năm nhâm-tuất, Gia-từ khứ thế; việc tang song hết, từ biệt các ông già trong hương quán, lại ra đi tìm cách sinh-nhai. Từ ấy đến nay, tính ra đà bẩy tám năm giời, chưa từng về đến gia-hương; mây non Tản, sóng sông Đà, chỉ tưởng tượng xa trông mà nhận đó là nơi cố-hương vậy. Cùng năm ấy, khoảng tháng tám, Tản-Đà thư-điếm thành lập, là cùng với hai người anh em bạn, một ông Tú, một ông Kép, cùng nhau gây dựng lên. Tản-đà thư-điếm đến sau hợp với Nghiêm-Hàm ấn-quán, gọi là Tản-đà tu-thư-cục. Các thứ sách Đại-học, Kinh Thi, Quốc-sử huấn mông: xuất bản vào khoảng mấy năm ấy.
Năm 1925, ở xã-hội phong-trào kích thích, cái công việc làm sách, tự nghĩ quá là thanh nhàn. Nằm lâu muốn dạy, mới đầu đơn Chánh-phủ, xin tạp-chí An-nam. Năm 1926, tiếp nghị-định của Chánh-phủ cho phép, mà người bạn cũ của các bạn độc-giả Hữu-thanh năm xưa lại có một phen trận bút trường văn sẽ cùng nhau tương kiến.
An-nam tạp-chí đã được phép, sự hành-động còn chưa có đồng tiền nào, nhưng trong chỗ nhà ở thuê tại một nơi thôn quê ở gần tỉnh-lỵ Hà-đông, lại thuê thêm một chỗ nhà riêng, mời một ông trợ-bút và dùng một hai người chép văn, hãy cứ làm công việc tòa soạn. Sau đó rồi mấy lần lên Vĩnh-yên, Sơn-tây để đi vay, vay không được đồng nào, tiền hành-phí đeo nợ mấy chục bạc. Một hôm ở Sơn-tây về Hà-nội, là ngày mồng 4 tháng 5 ta, năm Bính-dần, trước đoan-dương một buổi. Bữa ăn tối hôm ấy, ở tại nhà người anh em đồng-tỉnh, là nghị-viên làm thầu khoán, thuê ở phố Hàng-Lọng, số nhà 50, — 52. Trong bữa ăn có ba người, chủ-nhân với mình và một người khách nữa, người khách ấy thời tự mình không biết là ai. Khi rượu uống vừa say, đàm đạo đến công việc tạp-chí, mình tự thán một câu rằng: «Cái việc đáng có vài ba nghìn bạc mới làm được, ở mình thời nếu chỉ có một trăm đủ làm, mà không thể nào có, ở đời thật nhiều lúc đáng buồn!» Câu chuyện nói song, ông khách cùng ăn cơm cảm-khái hứa giúp một trăm bạc, hẹn đến tám giờ tối hôm sau thời đưa. Đúng tám giờ tối hôm sau, có một trăm đồng bạc ấy của ai, mà tạp-chí An-nam được xuất bản.
Một trăm đồng bạc của ông khách đưa cho tối hôm ấy, ngày hôm sau đem giả nợ tiền hành-phí đi vay cùng là chi-tiêu về hai chỗ nhà thuê ở làng Xa-la tỉnh Hà-đông, tất cả hết đi năm mươi đồng; còn 50$00 để tổ-chức báo-quán. Lâm thời báo-quán chung với chỗ nhà thuê ở của người anh em là chủ-nhân bữa ăn ấy, tức là nhà số 50 — 52 Hàng-Lọng; bàn ghế, giây nói tiện-nghi cả. Việc in thời châm-trước với nhà in ở Hàng-Bồ, được giả sau sáu mươi ngày. Việc quảng-cáo cứ đưa các báo-quán, tiền sẽ giả sau. Vậy chỉ phải mua một cái biển An-nam tạp-chí và hai cái bàn viết là bàn giấy tòa soạn và bàn giấy trị-sự, tất cả lại hết đi hai mươi nhăm đồng; còn hai mươi nhăm đồng, giữ làm lương thực ở Ha-noi, bốn người, mình và một ông trợ-bút, một người thư-ký, một tên bếp. Các công việc tiến hành ngay từ ngày hôm mòng bẩy tháng ấy, sau đoan-dương hai hôm. Trước khi tạp-chí được ra đời, chừng khoảng cách ba ngày, tiền quĩ của nhà báo còn có hai đồng bạc, ngoài sự ăn, các sự phải tiêu dùng về việc báo cũng còn có nhiều sự cần khẩn. Bất-đắc-dĩ phải cậy ông trợ-bút sang Bắc-ninh vay lãi. Đưa ông cầm một nửa số tiền quĩ, tiễn xuống chân thang mà dặn theo ông rằng: «Dẫu đến bốn mươi phân cũng vay.» Vay được hai mươi đồng bạc, lãi mười lăm phân, giữ qua trong ba ngày mà An-nam tạp-chí xuất bản.
Tạp-chí đã xuất bản, tiền tiêu vặt trong hằng ngày không phải lo. Rồi mà người anh em cùng ở để lại cho thuê cả cái nhà, mỗi tháng ba mươi nhăm đồng. Tiền nhà in mỗi tháng gần tới bốn trăm đồng. Tiền xắm xửa các đồ cần dùng trong tòa báo, cùng là chỗ gia-quyến ăn ở, tân-bằng vãng lai, trước sau lục-tục có tới ba trăm đồng. Tiền ăn tiêu hằng tháng không có sổ chi tiêu, một là tạp chí về công việc tòa báo, hai là nuôi người nhà người làm, ba là cung tiếp tân khách, lại hằng khi phóng phiếm vô íchi, mỗi tháng không biết là bao nhiêu. Vì mỗi tháng không biết bao nhiêu tiền chi tiêu, cho nên không bao lâu mà tòa tạp-chí An-nam lại như thể cái thành bị vây vậy.
Làm An-nam tạp-chí mười tháng giời, đáng ra phải có hai mươi số, sự-thực chỉ có mười số; tiêu hại tiền của xã-hội cũng đã lắm, rút lại lại không công-trạng gì. Khoảng đầu xuân năm đinh-mão, mưa xuân dữ, gió xuân không hòa, một cuộc chiến tranh của người an-nam mới bố cục, An-nam tạp-ch tạm đình bản, cờ vàng đảo ngọn, phiêu-lưu tên lính đội tiền-phong.
Mỗi một phen ra đời, lại một phen thất bại; mỗi một phen thất bại, đầu tóc lại bạc thêm. Trong ngày hôm 11 tháng 3 ta (12 4-27), tính toán các công nợ nhớn bé, chỗ giả chỗ khất; song rồi họp các người làm trong tòa báo cùng người nhà, rượu trè đàn địch, ăn chơi xuốt đêm. Giời gần sáng, đem số tiền tối hậu còn mười bốn đồng bạc, chia làm hai, một nửa giao cho người cháu thân chu-trí vợ con để đợi có ngoại-gia ra đón, một nửa là số tiền hành-phí cầm đi; còn bao nhiêu đồ vật, cùng là những tạp-chí ế còn lại, các sách truyện thu-thập và mới in để định chấn-trỉnh Tản-đà tu-thư-cục, nhất thiết cho là vô-khả-nại-hà, mặc người nhà phân phó. Sáng hôm ấy là ngày 12 tháng 3 ta (13-4-27), ở Hanoi ra đi, tối đến Nghệ-an, sáng hôm sau đến Hà-tĩnh.
Phân vân xã-hội gia-đình,
Hơi men ướp dạ, giọt tình thấm khăn.
Hai câu đó là cái tình trạng trong lúc uống bữa rượu trưa ở trên hỏa-xa khi khỏi Ninh-bình gần Thanh-hóa; còn như từ Hà-tĩnh giở vào, thời bao nhiêu cái hoài-cảm ở Honoi đem đi, dần dần tiêu tán, chỉ một là bận về sự giao-tiếp, hai là mê thiết sự du-quan. Ở Hà-tĩnh, nghỉ chơi nhà ông chủ giây thép, trò truyện vui cùng các anh em sĩ phu đến thăm. Rồi hỏi thăm cảnh-thắng quanh miền, đi chơi núi Sót.
Cách tỉnh-lỵ Hà-tĩnh chừng 15 cây số, có cảnh núi Sót. Núi ở ra ngoài bể, tức là một cái cù-lao con, có đất có đá, có mạch nước hằng tuôn. Dân cư ở gần đấy bắc ống bương lấy nước ăn, cũng như các mỏ nước ở trên mạn ngược ngoài Bắc. Tỉnh thành Hà-tĩnh cũng ăn nước ở núi ấy, có đường sông vận tải về. Những thuyền đi tải nước, lệ được bán mỗi gánh một đồng su. Hôm đi chơi núi là ngày 14 tháng 3 ta (15-4-27), giời mưa dầm, đường khó đi, phải thuê một cái xe hai người cu-ly, vừa đẩy vừa kéo. Qua sở muốn Hộ-độ, vào thăm xem, nhưng hôm ấy vì giời mưa cho nên không có phu làm muối, rồi đi luôn ra bãi bể. Để xe ở trên bãi, thuê một chiếc thuyền con bơi ra. Gió to, bay cả phên thuyền đưa xuống nước. Nghĩ đến câu «cơn giông biển nhớn, mái chèo thuyền nan», mới hay thân thế con người ta vần truyển ra sao, quả-nhiên có tiền-định. Sang tới núi, chèo lên uống chơi mấy khẩu nước, rồi đứng xem phong-cảnh. Giời lại mưa to dữ, bất-đắc-dĩ phải xuống thuyền quay về. Khi đó ngồi trong thuyền uống rượu, trông lên trên dệ núi, thấy những đứa trẻ con giai gái chạc mười hai mười ba tuổi, lánh mưa gió núp ở dưới cạnh hòn đá to. Hỏi người bơi đò thời đấy là những trẻ con bên xóm sang hái củi. Thuyền đã về tới bến, vào nghỉ chơi nhà người lái đò là ở trong một cái thuyền nhớn, uống nước, ăn thuốc lào; nhân nói truyện với chủ-nhân (chồng người bơi đò): muốn cúng ba đồng bạc để nhờ nhà chủ làm một cái lều danh con, phòng cho những trẻ con sang hái củi có chỗ núp mưa nắng. Người chủ thuyền, chạc chưa tới bốn mươi tuổi, không dám nhận hay không thế nào, chỉ xin mời ông cụ trưởng hàng xóm sang nói truyện. Một lát, thấy một ông cụ đầu bạc phơ, trông đến tám mươi tuổi giở lên, lại một bà cụ đầu bạc, cũng vào bực tuổi ấy, thời là hai vợ chồng ông cụ trưởng trong xốm cùng sang để nghe truyện. Ông cụ bà cụ đã cùng ngồi vào trong khoang, lại thấy đàn ông, đàn bà, trẻ con, kéo đến thật đông, đứng chen chật kín ngoài cửa thuyền, thời cũng là đến để nghe truyện. Đợi chúng đã yên tĩnh, mình mới thưa truyện với ông cụ bà cụ, cũng như ý nói với người chủ thuyền. Ông cụ khi mới nghe nói, cũng đáp lại không dám nhận, cho là: một thời sợ rồi việc quan hỏi đến có lỗi, hai nữa là hoặc có những đứa xấu bụng dỡ trộm làm củi thời cũng không thể giữ được. Nghe ông cụ nói như thế, mình phải nói kỹ rõ lại để mọi người cùng nghe rằng: về việc quan thời không lo, mình là một ông chủ tòa báo ở ngoài Bắc, nhân đi qua chơi xem phong-cảnh mà cúng ba đồng bạc để làm việc phúc đức, như thế thời người nhận tiền có việc gì mà ngại. Nhân đưa ông cụ một cái danh-thiếp, để có ai hỏi đến thời đưa ra mà nói là của người này cúng. Còn như sợ đứa nào ăn trộm, thời dẫu có như thế, cũng thôi không làm gì; nhưng ông cụ cũng nên nói truyện qua cho người trong xóm biết là của một người khách đi qua cúng như thế, thời có lẽ cũng không ai nỡ lấy trộm nào. Câu truyện nói đến thế, rồi ông lão mới vui-vẻ mà nhận lời cầm tiền, rồi bà lão cùng mọi người cũng mới vui-vẻ, các trẻ con rất vui-vẻ. Khi ấy, trước chỗ mình ngồi chừng có một hào tiền su, là tiền giả tiền đò còn thừa. Các trẻ con nhà lái-đò đến xin, cho mỗi đứa một su. Rồi còn lại su nào, các trẻ tự do tranh đến lấy. Những ông già người lớn thấy vậy, ai nấy đều của mắng con trẻ. Mình bảo cứ mặc trẻ cho vui; nhân nói truyện vui rằng: tôi năm nay ba mươi chín tuổi, ở nhà tôi cũng được hai đứa cháu giai, tuổi nó xuýt-xoát như thế này. Nay tôi đi chơi xa mà trông thấy những đứa trẻ đây, cũng coi như những đứa con của tôi ở nhà. Nói đến đấy rồi mình ôm lấy một đứa trẻ vào trong lòng, những đứa khác lại cũng tranh nhau sán đến để ngồi vào lòng mình, có đứa quần áo mũi nhãi rất bẩn-thỉu, mà trong khi đó cũng không kể sạch hay bẩn, mà yêu thời cứ yêu. Cơn vui đồng chủng đồng bào, tưởng như Ngư-phủ Đào-nguyên chưa hẳn có thú vui như thế vậy! Tan một cuộc vui đó, rồi đứng dạy từ biệt. Đầy thuyền tống tiễn, con cháu tiên rồng, hả cho ai tấm lòng xã-hội đã bao lâu; buồn cho ai vô trạng với quốc-dân, chỉ đoán trông con cháu rồng tiên gió mưa trên mặt nước.
— Hết chương 1 —
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển