Phần 2
Sáng hôm sau, ở Hà-tĩnh vào Huế. Chỗ Huế đã đi chơi lần trước, cho nên lần này qua, cũng không có gì hứng vị lắm; chỉ có thăm Bắc-kỳ-châu-phả, Nữ-công-học-hội, nghe ca lý trên sông Hương, đi xe giờ xem phong-cảnh, rồi nhân ở Huế chơi Thuận-an.
Cách Huế 15 ki-lo-mét, có phong-cảnh Thuận-an, tức gọi là cửa bể Thuận. Chỗ đó nếu bà già con trẻ đến chơi, có lẽ không lấy gì làm thú-hứng, mà cái giá-trị đối với người du-lãm, còn kém xa ở xứ Bắc chùa Hương. Tuy vậy mà những người con giai hơi có chút học vấn thời cũng nên biết qua, vì là một nơi thắng-cảnh có ở lịch-sử vậy. Nguyên từ ở Hà-tĩnh vào Huế, nghỉ hơi nhà một ông bạn độc-giả của An-nam tạp-chí, người làng Đa-ngưu ở Bắc mà làm việc sở lục-lộ ở Kinh. Hôm đi chơi Thuận-an, ông bạn bận ra sở làm việc, cho nên cử một người anh em bạn hành với mình, thuê một cái xe cùng đi. Rượu và các thức ăn, bà chủ-nhân chu-trí một cách rất hậu khách. Hơn bẩy giờ sáng ở Huế đi, khoảng mười một giờ đến cửa Thuận, ấy là ngày 18 tháng ba (19 avril 1927). Đến đó, xuống đò con đi ra, vì Thuận-an cũng là một nơi cù-lao, có xóm mạc. Lên hỏi thăm trong xóm, đi tới một chỗ có tường bao đã tàn hủy, quanh mãi về mặt trước là mặt trông ra bể, thấy cổng xây lối cổ, dữa đề to hai chữ Nam môn. Hai bên dưới có câu đối rằng:
Lâm cự tẩm dĩ hoằng lượng;
Nhu viễn phương nhi dưỡng dân.
Bên hữu câu trên về phía trên, có hai chữ ngự chế Bên tả câu dưới về phía dưới, có một giòng chữ
Tự-đức tam thập nhất niên, tứ nguyệt thập tứ nhật. Đó là những chữ đề về phần chữ nho. Lại trông lên ở trên hai chữ Nam-môn, cũng ở khoảng chính dữa, thời có một cái biển gỗ sắc. đen, trông cũng đã hơi cũ, có chữ tây đề rằng: Service forêtier Bồi-hồi chút lâu, rồi nghé vào trong cổng, thấy có người, nhân vào xin nước uống. Có một người ăn mặc lính ra tiếp, thời là lính kiểm-lâm, mà tức là người trông giữ cái khu đó. Trong lúc cùng ngồi chơi uống nước, trông lên có một tòa nhà to, nghe người lính nói truyện, thời chỗ đó nguyên xưa là hành-cung của đức Tự-đức, đến sau là sở quan binh của nhà nước Bảo-hộ, đến sau nữa là tòa điện-báo, sau nữa là nơi thừa-lương của quan công-sứ Thừa-thiên, hiện nay thời là nhà kiểm-lâm của mấy ông tây kiểm-lâm hằng khi có đi lại. Uống nước song, ra xem nhà bia, phải khuân bỏ các nong nia của nhà người lính để trong đó, rồi xem thấy bia của đức Giực-tôn, thơ Ngự-chế vịnh Thuận-an tám mươi vần. Đức Giực-tôn là ông vua hiếu văn, cho nên hay làm thơ, đến nay tuy thời-đại biến thiên, nơi hành-cung là sở kiểm-lâm, nhưng bia thơ ngự-chế vẫn còn vậy.
Xem bia song, từ tạ người lính kiểm-lâm rồi cùng nhau đi ra nhân hỏi thăm phong-cảnh, người lính trỏ đuờng đi lên đài. Đà là chỗ của Nam-triều đóng quân để giữ cữa Thuận-an khi trước. Đi một lát, gặp mấy ông cụ già trong xóm, lại hỏi thăm nữa, nhân cùng đứng cả lại nói truyện. Gần chỗ đứng nói truyện, có một cái mô con xây bằng gạch, trông đã hủy hoại, mấy ông cụ trỏ và nói rằng: đó là cái lò của các quan tây khi mới đến Thuận-an đắp để hầm bánh. Câu chuyện cũng còn muốn nghe nữa, song giời đã trưa quá, vội sự đi ra đài.
Cổng đài thật cao nhớn, đề ba chữ Chấn-hải-quan. Nếu ai đi du lãm hồi xưa, thời trông lên rất uy vũ, mà có lẽ không dung-dị được vào. Khi đó chúng mình hai người vào, không thấy có ai hỏi, cũng không thấy có ai mà hỏi. Trong cổng, đất rộng có thể làm vườn ruộng, mà chỉ là bỏ hoang cho cỏ mọc. Ở dữa, một tòa nhà xây vuông rất cao nhớn, đó là đài. Chung quanh ở chân thành có những hình xây mui-luyện như cái chiếu tùm-hum, thời người bạn đồng hành bảo mình đó là những chỗ để thuốc đạn khi trước. Vào mãi đến sau đài, có một cái nhà danh nhỏ con, mà cũng không thấy có ai cả; chỉ ở dưới cái dàn bí xiêu vẹo, có một con chó con chạy ra cắn lắc-rắc. Cứ người lính kiểm-lâm và mấy ông cụ gặp ở đường đã nói truyện, thời ở đài có người gác, có nhẽ là đi vắng chăng? Trông vào cái nhà danh thời thấy cửa đóng mà không thấy có khóa, bất-đắc-dĩ phải đập cửa để hỏi. Đập gọi một lúc lâu, quả-nhiên ở trong có người dạy, thời chính là tên lính giữ đài mà ngủ trưa.
Chép đến đây, mừng có một sự rất may-mắn tự nhiên, là sao? Nguyên người lính giữ đài đó trước có đóng ở Huế, cho nên cùng với ông bạn cùng đi với mình có quen biết. Có một chút quen biết, mà trong sự đi chơi cũng có hơn.
Khi ấy người lính mời vào chơi uống nước, rồi dẫn khách lên xem đài. Mở cửa đài trông ra mặt bể, thật là mênh-mông bát-ngát, lại đương trưa giời nắng gió, khiến cho người du lãm dễ phát sinh cái cảm-tưởng sâu xa. Nền đài xây bằng đá, dưới có hầm, là của Nam-triều ta vật cũ. Phần trên, dui sắt, dầm sắt. thời chắc là của nhà nước Bảo-hộ mới làm sau, nhưng cũng đã dỉ đen, trông thành vật cũ vậy. Có một cái tủ to, trong chứa bát đĩa dao dĩa, những đồ dùng ăn cơm tây, hỏi người lính thời là đồ cần dùng của những học-sinh nam nữ của quý Đại-Pháp bảo-hộ ở Huế trong mấy tháng hè ra nghỉ đài. Mình hai người đi chơi hôm ấy, may không phải là ngày nghỉ hè, cho nên mới được hưởng cái hạnh-phúc tàn dư của Cô-Tô vậy. Lúc ấy, xem đồng-hồ đã tới một giờ chiều, đói và mệt, dở rượu và các thức đồ ăn, bầy bàn ghế, mượn bát đĩa, lại tần-phiền chủ-nhân cho một đĩa rau bí luộc, ăn một miếng, uống một chén, thật ngon; trông ra ngoài chỉ có bể cùng giời, rồi say tít lúc nào không biết. Khoảng ba giờ chiều, đương nằm ngủ say ở ngoài hiên bao-lơn. bị ông bạn đồng hành cưỡng bách đập dạy để đi về. Mặt giời đã sế dậm về còn xa, cho nên say đến đâu cũng phải tỉnh. Xuống đài, từ giã người lính gác rồi ra về, lại ngồi đợi đò một hồi lâu, hỏi nghe những người ở bến đò nói truyện, hợp với những câu truyện nghe mấy ông già gặp ở đường cùng là người lính gác đã nói, thời: chỗ Thuận-an đó, có hai xả. Thai-dương thượng và Thai-dương hạ thuộc huyện Hương-trà phủ Thừa-thiên. Dân cư có chừng trăm nóc nhà, lấy việc chài lưới làm sinh-nghiệp. Cũng có nhà làm việc buôn bán, thời cũng chỉ những thức cần dùng cho các nhà trong xóm, như dầu tây, mắm muối, diêm thuốc mà thôi. Quanh cù-lao, nghe người tây có định đánh một con đường ô-tô, có nhẽ cũng chỉ là sự chơi mát. Chính chỗ cửa bể trước thời đến nay cát lấp, chỗ cửa bể nay đó là luồng nước lại mới thông; nhưng bây giờ đi lại vắng tầu bè, chỉ là cái khu-vực của các ngư-ông ra vào hôm sớm. Trước kia hai nghìn quân đóng giữ Thuận-an, bây giờ một tên lính chấn hải. Thời đại xuy đi, giang sơn biến cải, thiên-công đa sự, nhân-sự vô thường. Người du quan mà khách văn-chương, khỏi sao tình-tự vấn-vương vậy. Về đến Huế, giời vừa tối. Tối lại đi chơi vào xem nhà hát tuồng. Cái quang-cảnh đông vui đầm ấm, thật là «thái-hòa võ trụ, ngọc-luật hồi xuân, trên chín lần mũ áo đai cân, dưới trăm họ âu ca cổ vũ.»
Ở Huế đã hơi lâu, sắp đi vào Đà-Nãng. Trước khi vào Đà-Nãng, có thăm hầu cụ Phan. Chỗ Cụ ở cách Huế nhiều ít, theo con đường Nam-giao lên tới, ở đó đã tiệm là phong-cảnh quê. Khi mình vào, thấy cụ đương nói chuyện với mấy người đàn bà con gái, ý là gia-quyến của cụ, dừng chân đứng ở dưới sân, rồi nhờ người đưa danh-thiếp lên. Cụ đứng dạy ra thềm để tiếp khách. Mình vái chào cụ rồi theo vào. Cụ bảo ngồi chơi ở ghế cạnh uống nước. Nghe Cụ đương dở nói chuyện với mấy người đàn bà con gái đó thời không phải gia-quyến, sau hỏi mấy thầy đồ ở đấy thời những người phụ-nữ đó là nữ học-sinh Quảng-ngãi và người mẹ ra đón mà vào thăm hầu Cụ khi trước mình. Đợi Cụ nói truyện với các người dứt nhời, rồi mình đứng dạy thưa rằng: «Chúng con ở ngoài Bắc, nhân muốn đi chơi vào trong Nam, tiện đường vào thăm hầu cụ, chúc cụ mạnh khỏe.» Cụ cũng bảo lại rằng: «Ừ, giang-sơn nước nhà, cũng nên đi cho biết.» Ngoài câu đó, cụ có hỏi qua về việc An-nam tạp-chí mấy câu. Rồi thấy có một ông cụ đến chơi, lúc mới, mình tưởng là khách quen của cụ, sau nghe nói thời cũng là một người ở Quảng-bình vào chơi với con học ở Huế mà đến thăm hầu cụ, cũng như mình và các người đàn bà con gái kia. Khi ấy mình đứng dạy đi xem các chỗ cụ ăn ngủ, thời trong nhà không có gia-quyến gì cả, chỉ có mấy người học-sinh còn trẻ tuổi ở biên chép những bài vở quốc-văn của cụ làm. Lại có sáu đứa học-trò coi chừng độ lên sáu lên bẩy tuổi, học song, sắp hàng để đi về. Hỏi những người học-sinh thời là các trẻ con nhà nghèo ở gần mà cụ bảo đến học cho vui, sự dạy thời do mấy ông học-sinh đó. Chỗ cụ ngồi chơi tiếp khách có cheo mấy bức ảnh vĩ-nhân hiện thời, lại cũng có những bức địa-đồ và các tranh cách-trí thời là thuộc về sự dạy học. Ngoài sân có cây đu thể-thao. Vườn dược lơ thơ, cây cối trông không có vun tưới. Xem qua khắp một lượt, vào chào cụ rồi ra về. Khi đó chừng đã hơn năm giờ chiều, ngồi trên xe trông lại, chỉ thấy trên nóc nhà gianh, ngang mấy chòm cây, bóng tà-dương nhạt lạnh lửng-lơ, có nhẽ là một bạn chí-thân thường năng đi lại với cụ Phan ta vậy.
Đến thăm hầu cụ Phan là 19 tháng ba ta (20-4-27), sáng hôm sau thời vào Tourane. Đi Tourane, cũng có một sự may, là nhân gặp một nhà tư-bản đã từng đưa mình đi chơi Huế khi trước; lần này gặp ở Huế, lại cùng đi Tourane. Dừng xe lên đính Hải-vân-quan, chơi xem cảnh thắng. Chỗ Hải-vân, kể như xưa cũng thật là hình thế. Quảng-nam với Huế, đường độc-đạo tương thông; cửa quan làm trên cao trông xuống đường, tức là ở ngoài Huế giữ trong nam kéo quân ra bắc. Tưởng như xưa đương hồi Nguyễn, Trịnh, Tây-sơn, đã bao nhiêu giọt máu đồng-bào, tưới cây thấm đất; đến nay thời cửa không tường đổ, họa chỉ là một nơi thắng-cảnh cho những khách du-quan. Trên cửa trước ba chữ Hải-Vân-quan; mặt cửa nữa sáu chữ Thiên-hạ đệ nhất hùng quan, sự tu-tạo đều về đời Minh-mạnh. Từ ấy đến nay thời nam bắc nhất gia, quan san vô sự, mây ngàn giăng bể, thơ thẩn cùng ai. Tiếc không được phong-lưu thanh nhàn, thường được cùng đôi ba bạn hữu hữu tình, cùng nhau đi chơi thăm những lũy cổ bia tàn, để quan san không tịch-mịch.
Vào Tourane, nghỉ ở nhà một ông phán làm việc ở sở Đoan mà cũng là người Bắc. Ở Tourane truyến này hơi lâu trước sau sáu bẩy hôm. vui cùng các sĩ phu, đi Faifo, vào Đồng-Dương, chơi Ngũ-hành sơn, thăm Quảng-nam thủy-cơ cục. Nay chép qua sự đi chơi Đồng-dương và Ngũ-hành-sơn.
Ngày 23 tháng ba ta (24-4-27), ở Faifo vào chơi Đồng-Dương là một nơi có di-tích của Chiêm-thành, nay thuộc phủ Thăng-bình tỉnh Quảng-nam, cách Faifo 40 cây số. Hôm đi chơi cũng nhờ có ông chủ rượu ở Faifo có xe nhà đưa đi. Tới Đồng-dương, viếng thăm phong-cảnh, xem chỗ đi-tích ấy, thời cung điện trùng-trùng, tượng lăn tường đổ, những cái tượng-hình đẹp khéo đã đem chứa ở nhà tích-cổ ở Tourane (Musé chiêm), đây chỉ còn mấy con voi đá vẫn đứng chơ ở dữa chốn tàn-cung, như vẫn tận trung cùng cố-chủ. Hỏi truyện những thôn-dân ở đấy thời trong làng hiện có hai họ, họ Trà và họ Phạm, vậy tức là những họ vua Chiêm khi trước còn có chép ở sử Nam ta, mà nghĩ cho đồng-hóa đã lâu, có nhẽ tự người nói truyện kia cũng không tự biết vậy. Hơn được kém thua, đào-thải lệ chung của tạo-hóa. Sợ thay!
Chơi Ngũ-hành-sơn là ngày 24 tháng ba (25-4-27), cùng với ông phán sở Đoan cùng Phu-nhân và một người bạn hành nữa cùng đi. Hôm ấy, chiều giời phong-quang, giòng sông êm-ái, thuyền nan nhẹ mái, thật có vẻ thanh nhàn. Bầu rượu túi thơ, khách chơi lối cổ; non xanh đá đỏ, cảnh những chờ ai. Trải xem các chỗ động Tàng-xuân, chùa Linh-ứng, chùa Vân-ứng, động Vân-không, chùa Tam-thai. đài Vọng-hải, rồi ăn cơm ở động Huyền-không. Khi đó uống rượu ngon, cao hứng thơ, mới được hai câu rằng:
Rủ nhau lên động Huyền-không,
Bụi trần chút sạch như không có gì.
Chợt nhớ mới rồi chơi trên chùa, xem biển yết-thị cấm những du-khách không được đề thơ trong các động, nghe ông sư nói truyện, vì các quan nhà nước thấy thơ đề nhiều quá, cho là làm bẩn cả động, cho nên có yết-thị nghiêm cấm. Vì thế bại hứng, chỉ được có hai câu.
Ngày 28 tháng ba (29 avril 1927), ở Tourane vào Qui-nhơn; 30 (1 mai 1927), ở Qui-nhơn vào Nha-trang, đều được các bạn sĩ phu có lòng thân ái. Phong-cảnh dọc đường, thời trong hai ngày đi xe hơi, cũng không thấy có gì lạ lắm; chỉ trên những quả đồi cao, đính rừng rậm, những cái tháp của người Hời cùng những cái bia kỷ-công của vua Gia-Long xa xa đối nhau. Gần tới Nha-trang, có một cảnh rất đẹp: nước bể xanh biếc, những buồm thuyền đánh cá trắng phau, mỗi thuyền hai buồm, xa xa kết đội, thật là nhất hàng bạch lộ thượng thanh-thiên vậy. Ở Nha-trang ít lâu rồi đi xe lửa vào Saigon, đã là ngày mồng 4 tháng 4 ta, mồng 4 tháng 5 năm 1927.
Tới Saigon, nghỉ ở nhà ông hội-trưởng hội Bắc-kỳ ái hữu, có người anh em bạn cũ ở đó, thư nhàn đưa đi chơi các nơi. Duyên ngộ bất kỳ, được một ông chủ nhà in giúp cho một nghìn đồng bạc, để về chang-trải qua các công nợ ngoài Bắc, để thu-xếp cơ-cuộc vào Nam. Tính cuộc vào Nam có ba việc: một là đem An-nam tạp-chí vào Saigon, dựa sức nhà in đó để xuất bản; hai là đem Tản-đà tu-thư-cục vào Saigon, tổ-chức lại, để lập thành Tân-Việt tu-thư-xã; ba là ông chủ-nhân sẽ nhận đứng làm một tờ báo thời mình sẽ dự là một tay báo-bút coi về mục văn-chương. Việc thứ nhất là việc mình, việc thứ hai là làm chung, việc thứ ba tức là sự thù ân báo đức vậy. Chù tính xong, đáp tầu thủy về Bắc.
Bẩy đồng bạc vào Nam, một nghìn bạc ra Bắc, bảo là hạnh-ngộ thật hạnh-ngộ, mà sự-cơ trùng phức, thật cũng sinh có nhiều mối nghĩ về sau. Nay hãy chép qua những sự kiến văn giao-tiếp trên tầu bể.
Đi tầu bể bận này là thứ nhất. Cái tầu đó vẫn chỉ chạy Saigon với Haiphong, đến Tourane có đáp các hành-khách hàng-hóa lên xuống. Tâu bể mà đi hạng tư, cái giá-trị các quí-khách lại không được bằng như quí-khách hạng tư ở xe lửa. Một sự đi cầu tiêu và những khi giời mưa ướt, lúc khuân hàng ai có đã trải qua thời biết, bút mực đâu tả được cho cùng, Nhất là như những bữa ăn chiều hôm, trong các hạng trên. khách nhiều tiền, thời đèn sáng bồi hầu, tiếng đàn dịp nhẩy; ngoài chỗ hạng tư, những khách ít tiền đó, có nhiều bác ốm đau đói rách, cãi nhau, đánh nhau, đấm nhau đến chầy tai xưng mắt vì tranh nhau miếng thịt hòn cơm. Một nhà triết-học tây có nói rằng: «Người là giống động-vật bất tề». Ừ mà sao bất tề đến quá thế! Trong các bác ốm đau đói rách, có một người như thể điên, miệng hát tay múa, làm ra bộ hành khất. Khi ấy mình đương nằm ở cái ghế vải xem sách, thấy như vậy, gọi lại, đãi một hào ăn quà. Rồi thấy người khốn-nạn ấy xụp xuống lạy một cách rất cảm tạ, mình lấy làm kinh quá, vội-vàng ngồi dạy, đỡ người ấy đứng dạy, không dám nhận một sự cảm-tạ quá tình. Than ôi, một hào chỉ bạc có là bao, mà ai hỡi nặng tình đến như thế! Nhân thế hỏi truyện ra thời bọn lũ cùng đi với người ấy, tất cả có hơn hai mươi người, ốm đau đói rách như nhau cả, mình ngỏ ý muốn cho khắp mỗi người một hào để ăn quà. Khi ấy, trong bạn đồng-chu có một người con gái ngồi cạnh mình, xướng lên câu truyện rằng: «Bây giờ nếu được hai người nữa, mỗi người cũng cho những người ấy mỗi người một hào, thời hay cho họ quá». Mình hỏi lại ý nói là thế nào. Người con gái ấy lại nói rằng: «Trong những người này, có nhiều người quê ở về Thái-bình, Hưng-yên, mà về đến Hải-phòng thời không có đồng tiền nào mà đi tầu cho được về đến nhà. Nếu được có mỗi người ba hào thời họ có thể đi về đến nhà được». Mình nói như thế cũng không khó, nhân tự nguyện cho mỗi người ba hào, mà nhờ ai đổi hộ lấy bạc hào để chia phát cho họ. Người con gái lại nói rằng: «Bây giờ mà cho ngay thời họ cũng lại ăn quà hết. Không bằng để đến khi gần ở tầu lên rồi hãy cho». Mình nói sợ đến lúc ấy rối bộn rồi quên đi. Người con gái tự xin đến khi ấy sẽ nhớ để nhắc. Câu truyện mới có đến đấy, mà rồi từ đấy cho đến lúc lên tầu, trong khoảng hai ngày đêm. xã-hội đồng chu đốt với ai, ý hậu tình thâm, đáng cảm-hoài vô hạn. Muốn ăn soài, có người cho; muốn ăn rứa, có người ọt; muốn ăn hào, có người mở; muốn uống nước, có người đi đun. Không phải vua, không phải chúa, không phải là chủ nợ cho vay, mà sự tôn sùng xã-hội được như ai, trần-ai chưa may ai ai vậy! Tầu gần đã tới bến, lấy mười đồng bạc nhờ người đi đổi ở trong tầu, không thể nào có được mười đồng bạc hào. Mình muốn ủy giao cả số tiền ấy cho một người đầu bọn, hoặc là cứ ba người chia chung một đồng bạc, rồi lên bờ họ sẽ chia với nhau. Người con gái lại bảo cũng không được. xem như một vốc cơm miếng thịt, mà họ còn đánh nhau đến xưng mắt, thời nếu đưa như thế, chỉ người nào khỏe thời cướp được mà thôi. Câu truyện rất minh, mà tình-thái lúc ấy lại rất là nguy cấp. Bất-đắc-dĩ mình lại xướng thuyết rằng: nay sau lúc lên tầu, các người theo cả tôi về trong phố để chụp một bức ảnh chơi, song rồi sẽ đưa mỗi người ba hào làm tiền tầu về nhà. Công-chúng đều lấy làm phải. Không bao lâu, tầu tới bến, hành-khách cùng lên. Các người khốn khó ấy cùng xúm lại khuân hộ đồ của mình, như thể gia-đinh thủ-hạ vậy. Lên Haiphong, thuê hiệu Khang-ký chụp ảnh, cho tiển các người ấy rồi tương biệt. Bức ảnh ấy sau đem vào nam. Người con gái cùng nói truyện trên tầu, nghe quê ở về tỉnh Hưng-Yên, gọi là thị Hai, chừng khoảng mười bẩy tuổi. Một bọn người khốn khó thời đến nay vẫn không rõ quê nhà đâu ta, làm ăn chi đó, mà đi đâu về đâu?
Ở Saigon ra truyến ấy, trước hết là chang-trải các công nợ nhiều ít, sau rồi đi thăm những bà con anh em. Đến chơi một ông bạn ở Hanoi, cùng nói truyện về sự-thể tạp-chí. Nghe ông bạn ấy nói thời mới hiểu ra rằng: Nguyên An-nam tạp-chí, cứ nghị-định cho xuất bản ở Bắc-kỳ. Nay dẫu muốn in ở bên tây cũng không sao, nhưng phát hành tất phải ở Hanoi. Vậy thời ra mình vào nam mà tòa báo ở bắc, đã là một sự chẳng tiện thay! Lại mỗi kỳ tạp-chí in ra, đóng hòm gửi tầu thủy ra Bắc để phát hành, phiền phí thực không thể chịu nổi. Vậy, tất muốn cho Tạp-chí được như ý, trừ phi xin được phép Chánh-phủ cho rộng quyền xuất bản không cứ ở tại nam Bắc-kỳ, mà như đó há phải một sự dễ! Việc Tạp-chí tính không ra sao, mà số tiền nghìn bạc đã tiêu mất quá nửa. Cái nợ chung chung nợ cả xã-hội, nghĩ chưa bằng cái lụy riêng riêng lụy ai. Thôi tính sao cũng có thế mà thôi, xếp gồng gánh hãy vào nam truyến nữa.
— Hết chương 2 —
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển