Phần một
Bữa tối đã xong, và khu trại chìm vào cái im lặng đi kèm với việc vấn thuốc lá bằng lá bẹ ngô. Vũng nước sáng lên giữa nền đất tối như một mảnh trời rơi xuống. Chó sói đồng cỏ tru lên. Những tiếng thình thịch trầm đục cho biết lũ ngựa bị buộc chân đang nhún nhảy như ngựa gỗ bập bênh để tới những đám cỏ mới. Nửa đại đội của Tiểu đoàn Biên phòng Kị binh Tếch-dát nằm ngồi rải rác quanh đống lửa.
Một âm thanh quen thuộc, tiếng bụi gai sột soạt cọ vào bàn đạp ngựa bằng gỗ, vọng ra từ lùm cây rậm phía trên khu trại. Những người kị binh thận trọng lắng nghe. Họ nghe một giọng to và vui vẻ cất lên, như để trấn an:
— Gắng lên, Miu-ri-en, cô bạn già, sắp tới rồi! Đi đường dài với cô quá nhỉ, hả cái nắm đinh bấm biết cử động có từ trước thời đại hồng thuỷ kia? Này, thôi đừng có cố hôn tôi nữa! Đừng có bám cổ tôi chặt thế. Tôi nói cho mà biết, con ngựa vá này bước đi chẳng vững vàng gì đâu. Không coi chừng là nó hất cả hai ta xuống đấy.
Đợi chừng hai phút thì một con ngựa vá mệt mỏi bước những bước đều đều vào trại. Một chàng trai hai mươi tuổi cao lêu nghêu ngồi uể oải trên yên. Còn "Miu-ri-en" mà anh ta vừa trò chuyện thì chẳng thấy đâu.
— Chào các bạn! Người kị sĩ vui vẻ hét lên. Đây là thư gửi trung uý Man-ninh.
Anh ta xuống ngựa, tháo yên, thả cuộn dây buộc ngựa xuống, rồi lấy bộ dây trói chân ngựa từ núm yên ra. Trong khi trung uý Man-ninh, người chỉ huy, đang đọc thư, người mới tới chăm chút cạo những vệt bùn khô trên các vòng dây trói chân, tỏ ra biết thương hai chân trước của con ngựa mình.
— Anh em ơi, viên trung uý nói, vẫy tay về phía những người kị binh, đây là anh Gim-mi Hây-dơ. Anh ấy là thành viên mới của đại đội. Đại uý Mác-lin gửi anh ấy xuống từ En Pa-xô. Buộc chân ngựa xong thì anh em sẽ lo cho anh có bữa tối, Hây-dơ ạ.
Những người kị binh đón người lính mới niềm nở. Dẫu vậy, họ vẫn quan sát anh một cách tinh tường, và tạm gác lại sự phán xét. Ở vùng biên giới, người ta chọn bạn đồng đội cẩn trọng và kĩ càng gấp mười lần một cô gái chọn người yêu. Bởi lòng can đảm, lòng trung thành, tài thiện xạ và sự bình tĩnh của người đồng đội sát cánh có thể quyết định mạng sống của chính anh, không chỉ một lần.
Sau một bữa tối no nê, Hây-dơ tới ngồi cùng những người đang hút thuốc quanh đống lửa. Dáng vẻ của anh không trả lời được hết những câu hỏi trong đầu các bạn kị binh. Họ chỉ thấy một chàng trai lỏng khỏng, gầy gò, tóc màu xơ gai cháy nắng, gương mặt nâu như quả mọng, ngây thơ, mang một nụ cười tinh nghịch và hiền lành.
— Các bạn, người kị binh mới nói, tôi sẽ giới thiệu với các bạn một cô bạn gái của tôi. Chưa nghe ai bảo cô ấy là người đẹp bao giờ, nhưng các bạn sẽ phải công nhận cô ấy có vài điểm hay ho đấy. Ra đây nào, Miu-ri-en!
Anh phanh vạt trước chiếc áo sơ mi dạ xanh. Từ trong đó bò ra một con thằn lằn sừng. Một dải ruy băng đỏ tươi được thắt điệu đà quanh cái cổ đầy gai của nó. Nó bò tới đầu gối chủ và ngồi im ở đó.
— Cô Miu-ri-en đây, Hây-dơ nói, vung tay như một nhà hùng biện, có những phẩm chất đáng quý. Cô ấy không bao giờ cãi lại, lúc nào cũng ở nhà, và bằng lòng mặc mỗi một chiếc váy đỏ cả ngày thường lẫn Chủ nhật.
— Nhìn con vật quỷ quái kia kìa! Một người kị binh nói, cười toe toét. Tôi thấy khối thằn lằn sừng rồi, nhưng chưa thấy ai nuôi một con làm bạn đồng hành bao giờ. Cái của quỷ ấy có phân biệt được anh với người khác không?
— Anh cứ mang nó ra đằng kia mà thử, Hây-dơ nói.
Con thằn lằn nhỏ mập mạp mà người ta gọi là thằn lằn sừng ấy hoàn toàn vô hại. Nó mang vẻ xấu xí của những con quái vật thời tiền sử mà nó là hậu duệ thu nhỏ, nhưng nó hiền hơn cả chim bồ câu.
Người kị binh nhấc Miu-ri-en khỏi đầu gối Hây-dơ, rồi quay về chỗ ngồi của mình trên một cuộn chăn. Con vật bị bắt vặn vẹo, cào cấu, giãy giụa dữ dội trong tay anh ta. Giữ nó một lát, người kị binh đặt nó xuống đất. Vụng về nhưng nhanh nhẹn, con thằn lằn đưa bốn cái chân cử động kì cục của nó bò đi, cho tới khi dừng lại sát bên chân Hây-dơ.
— Ôi, lột da tôi đi! Người kị binh kia nói. Cái con ranh ấy biết anh thật. Chẳng bao giờ nghĩ mấy con vật ấy lại khôn đến thế!
Phần hai
Gim-mi Hây-dơ trở thành người được yêu mến trong trại kị binh. Anh có một kho tính tình vui vẻ vô tận, và một thứ khôi hài nhẹ nhàng, dai dẳng, rất hợp với đời sống trong trại. Anh không bao giờ rời con thằn lằn sừng. Trong ngực áo những lúc cưỡi ngựa, trên đầu gối hay trên vai những lúc ở trại, dưới tấm chăn ban đêm, con vật nhỏ xấu xí không bao giờ rời anh.
Gim-mi là một người hài hước thuộc cái kiểu thường gặp ở vùng thôn quê miền Nam và miền Tây. Không giỏi nghĩ ra những cách làm trò vui hay những ý tưởng dí dỏm, anh đã vớ được một ý khôi hài và bám lấy nó một cách thành kính. Gim-mi thấy thật là buồn cười khi mang theo bên mình, để làm trò cho bạn bè, một con thằn lằn sừng thuần hoá có thắt ruy băng đỏ quanh cổ. Đã là một ý tưởng hay, thì sao không giữ nó mãi?
Tình cảm giữa Gim-mi và con thằn lằn thì không thể xác định chính xác được. Khả năng gắn bó lâu dài của loài thằn lằn sừng là một đề tài chưa có cuộc hội thảo nào bàn tới. Đoán tình cảm của Gim-mi thì dễ hơn. Miu-ri-en là kiệt tác khôi hài của anh, và anh nâng niu nó như một kiệt tác. Anh bắt ruồi cho nó ăn, và che chở nó khỏi những trận gió bấc bất chợt. Tuy vậy sự chăm sóc của anh có một nửa là vì mình. Và khi thời khắc tới, nó đã đền đáp anh gấp nghìn lần. Những cô Miu-ri-en khác cũng từng đền đáp những chàng Gim-mi khác vượt quá những săn sóc hời hợt mà họ nhận được như thế.
Gim-mi Hây-dơ không lập tức trở thành anh em ruột thịt với đồng đội. Họ yêu anh vì sự chất phác và ngộ nghĩnh, nhưng phía trên đầu anh vẫn treo lơ lửng một lưỡi gươm lớn của sự phán xét còn tạm hoãn. Vui đùa trong trại chưa phải là tất cả đời sống của người kị binh biên phòng. Còn có những tên trộm ngựa phải lần dấu, những tên tội phạm liều mạng phải truy đuổi, những gã côn đồ phải giao chiến, những toán cướp phải lùa ra khỏi bụi rậm, và hoà bình trật tự phải được giữ bằng họng súng sáu. Gim-mi kể anh "hầu như toàn đi chăn bò". Anh chưa có kinh nghiệm gì về lối đánh của kị binh biên phòng. Vì thế những người kị binh bàn riêng với nhau, rất nghiêm trang, xem anh sẽ đứng vững thế nào dưới làn đạn. Bởi xin biết cho rằng danh dự và niềm kiêu hãnh của mỗi đại đội kị binh là lòng dũng cảm của từng người trong đó.
Suốt hai tháng, vùng biên giới yên ắng. Những người kị binh nằm dài uể oải trong trại. Rồi, mang niềm vui tới cho những người canh giữ biên cương đang rỉ sét, Xê-bát-xti-a-nô Xan-đa, một tên cướp liều mạng và trộm gia súc lừng danh người Mê-hi-cô, cùng băng đảng vượt sông Ri-ô Gran-đê, bắt đầu cướp phá bên phía Tếch-dát. Có dấu hiệu cho thấy Gim-mi Hây-dơ sắp có dịp chứng tỏ khí phách của mình. Những người kị binh hăng hái đi tuần, nhưng người của Xan-đa cưỡi những con ngựa phi như bay, rất khó đuổi kịp.
Một buổi chiều, khoảng lúc mặt trời lặn, sau một chặng đường dài, những người kị binh dừng lại ăn tối. Ngựa của họ đứng thở hồng hộc, yên vẫn còn trên lưng. Người thì rán thịt muối, người thì đun cà phê. Bất thình lình, từ trong bụi rậm, Xê-bát-xti-a-nô Xan-đa và băng đảng lao xổ ra, súng sáu nhả đạn, miệng hò hét lanh lảnh. Một cú đánh úp gọn gàng. Những người kị binh chửi thề bực bội, rồi cho những khẩu súng trường lên tiếng. Nhưng cuộc tấn công chỉ là một cú lao vào phô trương đúng kiểu Mê-hi-cô thuần tuý nhất. Biểu diễn hoa mĩ xong, bọn cướp phi ngựa đi, hò hét, xuôi theo dòng sông. Những người kị binh lên ngựa đuổi theo. Nhưng chưa được hai dặm thì lũ ngựa kiệt sức thở dốc tới mức trung uý Man-ninh ra lệnh thôi đuổi, quay về trại.
Lúc ấy người ta mới phát hiện ra Gim-mi Hây-dơ mất tích. Có người nhớ đã thấy anh chạy về phía con ngựa của mình khi cuộc tấn công bắt đầu, nhưng từ đó không ai nhìn thấy anh nữa. Trời sáng, vẫn không thấy Gim-mi. Họ lùng khắp vùng quanh đó, vì nghĩ rằng anh đã bị giết hoặc bị thương, nhưng vô ích. Rồi họ lần theo dấu băng của Xan-đa, nhưng băng ấy dường như đã biến mất. Man-ninh kết luận rằng tên Mê-hi-cô ranh mãnh đã vượt sông về bên kia sau màn chào tạm biệt kiểu sân khấu của hắn. Mà quả thật, từ đó không có tin báo nào về những vụ cướp phá của hắn nữa.
Điều này cho những người kị binh thời gian để gặm nhấm một nỗi đau âm ỉ. Như đã nói, danh dự và niềm kiêu hãnh của đại đội là lòng dũng cảm của từng người. Và giờ đây họ tin rằng Gim-mi Hây-dơ đã hoá hèn nhát khi nghe đạn Mê-hi-cô rít qua tai. Không thể suy ra điều gì khác. Bắc Đê-vít chỉ ra rằng từ lúc người ta thấy Gim-mi chạy về phía con ngựa, băng của Xan-đa không bắn thêm một phát nào. Anh không thể nào bị bắn được. Không, anh đã bỏ chạy khỏi trận đánh đầu tiên của đời mình, và sau đó anh không quay lại, vì biết rằng phải đối mặt với sự khinh bỉ của đồng đội còn khủng khiếp hơn đối mặt với họng của bao nhiêu khẩu súng trường.
Vậy là phân đội của Man-ninh, thuộc đại đội của Mác-lin, Tiểu đoàn Biên phòng, chìm trong u ám. Đó là vết nhơ đầu tiên trên huy hiệu của họ. Trong lịch sử của ngành, chưa từng có người kị binh nào tỏ ra hèn nhát. Tất cả bọn họ đều quý Gim-mi Hây-dơ, và điều ấy càng làm mọi chuyện tồi tệ hơn.
Ngày, tuần, rồi tháng trôi qua, đám mây nhỏ của nỗi hèn nhát không ai quên được ấy vẫn lơ lửng trên khu trại.
Phần ba
Gần một năm sau, sau biết bao nơi đóng trại, biết bao trăm dặm đường canh giữ và bảo vệ, trung uý Man-ninh cùng gần như đúng những người lính cũ được phái tới một địa điểm cách nơi đóng trại cũ bên sông chỉ vài dặm về phía hạ lưu, để trông chừng một vụ buôn lậu ở đó. Một buổi chiều, khi đang cưỡi ngựa qua một vùng cây gai rậm rạp, họ bắt gặp một khoảng đồng cỏ trống lồi lõm những vũng trũng. Ở đó họ cưỡi ngựa tới đúng nơi đã diễn ra một tấn bi kịch chưa ai chép lại.
Trong một vũng trũng lớn có ba bộ xương người Mê-hi-cô. Chỉ có quần áo của họ mới giúp nhận ra họ là ai. Bộ xương lớn nhất từng là Xê-bát-xti-a-nô Xan-đa. Chiếc mũ rộng vành to và đắt tiền của hắn, nặng trĩu đồ trang sức bằng vàng, một chiếc mũ nổi tiếng khắp dọc sông Ri-ô Gran-đê, nằm đó, thủng ba lỗ đạn. Dọc theo bờ vũng trũng là những khẩu súng trường đã hoen gỉ của bọn Mê-hi-cô, khẩu nào cũng chĩa về cùng một hướng.
Những người kị binh cưỡi ngựa theo hướng ấy chừng năm chục mét. Ở đó, trong một chỗ trũng nhỏ của mặt đất, khẩu súng trường vẫn còn chĩa về phía ba kẻ kia, là một bộ xương khác. Đó đã là một trận đánh tận diệt. Chẳng có gì để nhận ra người chiến đấu đơn độc ấy là ai. Quần áo của anh, những gì mưa nắng còn để lại cho người ta phân biệt được, có vẻ là loại mà bất cứ chủ trại hay cao bồi nào cũng có thể mặc.
— Một anh chăn bò nào đó, Man-ninh nói, bị chúng bắt gặp đi một mình. Giỏi lắm, chàng trai! Cậu ta đã đánh một trận ra trò trước khi bị chúng hạ. Thì ra vì thế mà chúng ta không nghe tin gì về ngài Xê-bát-xti-a-nô nữa!
Và rồi, từ dưới những mảnh vải rách tả tơi dãi dầu mưa nắng của người chết, một con thằn lằn sừng ngọ nguậy bò ra, quanh cổ còn một dải ruy băng đỏ đã bạc màu, và đến ngồi trên vai người chủ đã nằm im lặng từ lâu. Không một lời, nó kể lại câu chuyện về chàng trai chưa từng qua thử thách và con ngựa vá nhanh nhẹn. Kể rằng hôm ấy họ đã vượt lên trước tất cả đồng đội trong cuộc truy đuổi bọn cướp Mê-hi-cô. Kể rằng chàng trai đã ngã xuống khi giữ gìn danh dự của đại đội.
Toán kị binh xúm sát lại, và từ môi họ cùng lúc bật lên một tiếng thét hoang dại. Tiếng thét ấy vừa là khúc ai ca, vừa là lời tạ lỗi, vừa là văn bia, vừa là bài ca khải hoàn. Bạn có thể bảo đó là một khúc cầu hồn kì lạ trên thi thể một đồng đội đã ngã xuống. Nhưng nếu Gim-mi Hây-dơ nghe được, hẳn anh đã hiểu.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn