Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Hai đoàn xe qua sa mạc

của Kinh Bổn Sinh (Jataka)

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 7.928 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xưa, ở thành Ba-la-nại xứ Ca-thi, có vị…
  2. 1:35Vậy thì anh cứ đi trước.
  3. 3:10Ông nói gì thế? Kìa, đằng kia đã thấy…
  4. 3:38Mang nước từ bên kia sang là phải lắm.…
  5. 5:05Dặn dò xong, chàng dẫn năm trăm cỗ xe…
  6. 6:22Vừa rồi có người bảo ta rằng phía trước,…
  7. 6:45Đứng xa bao nhiêu thì còn thấy được tia…
  8. 7:01Vậy thì bọn kia không phải là người, mà…

Ngày xưa, ở thành Ba-la-nại xứ Ca-thi, có vị vua tên là Phạm Dự. Thuở ấy, đức Bồ Tát sinh vào một nhà buôn. Lớn lên, chàng dẫn năm trăm cỗ xe đi buôn khắp nơi, khi thì từ đông sang tây, khi thì từ tây về đông. Cũng ở Ba-la-nại có một gã lái buôn trẻ khác, đầu óc đần độn, chẳng biết lo xa.

Lần ấy, đức Bồ Tát đã chất đầy năm trăm cỗ xe hàng quý của Ba-la-nại, sửa soạn lên đường. Gã lái buôn khờ cũng vừa chất hàng xong. Đức Bồ Tát nghĩ: "Nếu gã này cứ đi kè kè cùng mình, một nghìn cỗ xe kéo nhau trên một con đường thì đường sá nào chịu nổi. Củi, nước cho người, cỏ cho bò đều sẽ khan hiếm. Một trong hai đứa phải đi trước."

Chàng mời gã kia tới, nói rõ ý mình:

— Hai ta không thể đi chung được. Anh muốn đi trước hay đi sau?

Gã kia nghĩ bụng: "Đi trước thì được bao nhiêu cái lợi. Đường chưa ai cày nát. Bò của mình được ăn cỏ ngon nhất. Người của mình được hái rau ngon nhất. Nước còn trong. Lại được tự mình định giá hàng." Thế là gã đáp:

— Tôi xin đi trước.

Còn đức Bồ Tát thì thấy đi sau mới lợi. Chàng tính: "Đoàn đi trước sẽ san phẳng những chỗ đường gồ ghề, mình chỉ việc đi trên con đường người ta đã mở. Bò của họ gặm hết lớp cỏ già, cỏ non mọc lên thì bò mình được ăn. Rau già họ hái rồi, người mình sẽ có rau non. Chỗ nào không có nước, họ phải đào giếng, mình tới chỉ việc uống. Mặc cả giá cả là việc cực nhọc nhất, mình đi sau, cứ theo giá họ đã định mà đổi hàng."

Thấy được ngần ấy điều lợi, chàng bảo gã kia:

— Vậy thì anh cứ đi trước.

— Được, tôi đi trước.

Gã lái buôn khờ cho thắng bò rồi lên đường. Đi mãi, đoàn xe bỏ lại sau lưng những xóm làng của người, tới bìa một vùng sa mạc. Sa mạc ấy vừa không có nước, vừa có quỷ dữ ở. Gã cho chất lên xe những chum nước thật to, đổ đầy nước, rồi bắt đầu vượt qua sáu mươi dặm hoang mạc trước mặt.

Khi đoàn xe tới giữa sa mạc, con quỷ cai quản vùng ấy tự nhủ: "Ta sẽ khiến bọn người này đổ hết nước đi, chờ tới khi chúng mệt lả thì ăn thịt cả lũ."

Nó dùng phép hoá ra một cỗ xe lộng lẫy, kéo bởi những con bò non trắng muốt. Mười mấy con quỷ khác theo hầu, đeo cung, đeo ống tên, cầm gươm, cầm khiên. Con quỷ ngồi trên xe như một vị quan lớn, đầu quấn vòng hoa sen xanh và hoa súng trắng, tóc ướt, áo ướt, bánh xe lấm bùn. Đám tuỳ tùng đi trước đi sau cũng tóc ướt áo ướt, đầu đội vòng sen xanh, tay cầm những bó sen trắng, vừa đi vừa nhai cuống sen, nước và bùn nhỏ giọt ròng ròng.

Theo lệ của những người dẫn đoàn buôn, hễ gió thổi ngược mặt thì người chủ đoàn ngồi xe đi đầu cho khỏi bụi, gió thổi từ phía sau thì đi cuối. Hôm ấy gió ngược, nên gã lái buôn trẻ đi đầu đoàn. Thấy gã tới, con quỷ cho xe tránh sang bên đường, niềm nở chào hỏi gã đi đâu. Gã lái buôn cũng cho xe mình tránh sang bên để các xe khác đi qua, rồi đứng lại nói chuyện:

— Chúng tôi từ Ba-la-nại tới đây, thưa ông. Nhưng tôi thấy các ông đầu đội hoa sen, tay cầm hoa súng, người nhà ông thì đang nhai cuống sen, ai cũng ướt sũng lấm bùn. Chẳng hay dọc đường các ông gặp mưa, lại gặp những hồ đầy sen súng hay sao?

Con quỷ kêu lên:

— Ông nói gì thế? Kìa, đằng kia đã thấy một dải rừng xanh thẫm. Qua khỏi đó thì khắp rừng toàn là nước. Ở đó mưa quanh năm, ao nào cũng đầy, bốn phía toàn hồ sen hồ súng.

Rồi khi đoàn xe nối nhau đi qua, nó hỏi:

— Các ông đi đâu đấy?

— Đi tới chỗ này chỗ nọ.

— Xe này chở gì, xe kia chở gì?

— Thứ này thứ nọ.

— Còn cỗ xe cuối cùng, sao trông nặng nề thế, chở gì vậy?

— À, xe ấy chở nước.

— Mang nước từ bên kia sang là phải lắm. Nhưng bây giờ thì không cần nữa, phía trước nước nhiều vô kể. Đập chum đổ nước đi cho xe nhẹ mà đi cho nhanh.

Nó nói thêm:

— Thôi các ông đi tiếp đi, chúng tôi dừng lại lâu quá rồi.

Nó đi thêm một quãng, khuất khỏi tầm mắt mọi người thì quay về thành quỷ, nơi nó ở.

Gã lái buôn khờ đến nỗi làm đúng theo lời con quỷ. Gã sai đập vỡ hết chum, đổ sạch nước, chẳng chừa lại lấy một vốc tay. Rồi gã thúc xe đi tiếp. Đi mãi chẳng thấy một giọt nước nào, người trong đoàn khát rã rời. Họ cứ đi suốt ngày cho tới khi mặt trời lặn. Tối đến, họ tháo bò, xếp xe thành vòng, buộc bò vào bánh xe. Bò không có nước uống, người không có nước nấu cơm. Cả đoàn mệt lả, nằm vật ra đất mà ngủ.

Đêm vừa xuống, lũ quỷ từ trong thành kéo ra, giết sạch cả người lẫn bò, ăn thịt chỉ chừa lại xương trắng rồi bỏ đi. Chỉ vì một gã chủ đoàn khờ dại mà cả đoàn người chết hết, xương cốt rải khắp nơi. Năm trăm cỗ xe vẫn đứng nguyên đó, hàng hoá còn nguyên trên xe.

Còn đức Bồ Tát thì đợi gã lái buôn khờ đi được chừng sáu tuần mới lên đường. Chàng dẫn năm trăm cỗ xe ra khỏi thành, đi dần tới bìa sa mạc. Tới đó, chàng cho đổ đầy chum, trữ thật nhiều nước. Chàng cho đánh trống tập hợp người trong trại lại, dặn rằng:

— Không có lệnh của ta thì không ai được dùng dù chỉ một vốc nước. Sa mạc này có cây độc, nên lá nào, hoa nào, quả nào trước giờ chưa từng ăn thì không ai được ăn khi chưa hỏi ta.

Dặn dò xong, chàng dẫn năm trăm cỗ xe tiến vào sa mạc. Tới giữa sa mạc, con quỷ lại hiện ra trên đường đi như lần trước. Nhưng đức Bồ Tát vừa trông thấy nó đã biết ngay. Chàng nghĩ: "Ở đây làm gì có nước, cái nơi người ta vẫn gọi là Sa mạc Không Nước này. Kẻ này mắt đỏ, dáng hung hăng, lại không có bóng. Chắc hẳn hắn đã xúi gã lái buôn khờ đi trước mình đổ hết nước, chờ cả đoàn kiệt sức rồi ăn thịt cả chủ lẫn tớ. Nhưng hắn đâu biết mình khôn ngoan và lanh trí."

Rồi chàng quát lớn với con quỷ:

— Đi đi! Chúng tôi là người buôn bán, chưa thấy nước ở đâu thì chẳng đời nào đổ nước đang có đi. Khi nào thấy nước rồi, chúng tôi khắc biết đổ bớt cho xe nhẹ.

Con quỷ đi thêm một quãng, khuất khỏi tầm mắt rồi quay về thành quỷ. Nhưng nó đi rồi, người trong đoàn kéo tới nói với đức Bồ Tát:

— Thưa ông chủ, chúng tôi nghe mấy người kia bảo phía trước đã thấy dải rừng xanh thẫm, ở đó mưa quanh năm. Họ đội hoa sen trên đầu, cầm hoa súng trên tay, vừa đi vừa nhai cuống sen, áo quần đầu tóc ướt sũng, nước chảy ròng ròng. Hay ta đổ nước đi cho xe nhẹ, đi cho nhanh.

Nghe vậy, đức Bồ Tát cho dừng xe, gọi hết mọi người lại.

— Các anh nói cho ta nghe, trước hôm nay có ai từng nghe nói sa mạc này có hồ có ao không?

— Thưa không. Ai cũng gọi nơi này là Sa mạc Không Nước.

— Vừa rồi có người bảo ta rằng phía trước, trong dải rừng kia, trời đang mưa. Vậy gió mưa thổi xa được bao nhiêu?

— Thưa, chừng một dặm.

— Có ai ở đây đã thấy gió mưa thổi tới mình chưa?

— Thưa chưa.

— Đứng xa bao nhiêu thì còn thấy được đỉnh một đám mây giông?

— Thưa, chừng một dặm.

— Có ai ở đây đã thấy đỉnh của dù chỉ một đám mây giông chưa?

— Thưa chưa.

— Đứng xa bao nhiêu thì còn thấy được tia chớp?

— Thưa, bốn năm dặm.

— Có ai ở đây đã thấy một tia chớp nào chưa?

— Thưa chưa.

— Đứng xa bao nhiêu thì còn nghe được tiếng sấm?

— Thưa, hai ba dặm.

— Có ai ở đây đã nghe một tiếng sấm nào chưa?

— Thưa chưa.

— Vậy thì bọn kia không phải là người, mà là quỷ. Chúng xúi ta đổ hết nước đi, để quay lại ăn thịt ta khi ta khát lả. Gã lái buôn trẻ đi trước ta vốn chẳng biết lo liệu, hẳn đã bị chúng lừa đổ hết nước, rồi bị ăn thịt khi kiệt sức. Ta đoán thế nào hôm nay cũng gặp năm trăm cỗ xe của gã còn nguyên hàng như lúc ra đi. Hãy đi thật nhanh, không được đổ đi một giọt nước nào.

Giục mọi người như thế, chàng dẫn đoàn đi tiếp. Quả nhiên, họ gặp năm trăm cỗ xe còn nguyên hàng, xương người và xương bò rải khắp chung quanh. Chàng cho tháo bò, xếp xe thành một vòng tròn thật chắc. Chàng lo cho người và bò ăn tối sớm, cho bò nằm ở giữa, người nằm vòng quanh. Còn chàng cùng mấy người đầu đoàn tuốt gươm đứng canh suốt ba canh đêm, chờ trời sáng.

Sáng hôm sau, cho bò ăn uống và lo liệu mọi việc xong xuôi, chàng bỏ những cỗ xe yếu của mình, thay bằng những cỗ xe chắc chắn trong đoàn xe bỏ lại. Chàng bỏ cả những món hàng tầm thường của mình, lấy những món hàng quý nhất. Rồi chàng đi tới nơi cần tới, đổi hàng được gấp đôi gấp ba giá vốn, và trở về thành mà không mất một người nào trong đoàn.

Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: gã lái buôn khờ dại thuở ấy là Đề-bà-đạt-đa, còn người lái buôn khôn ngoan chính là Ngài.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKinh Bổn Sinh (Jataka)
Xuất bản lần đầu1895
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Apannaka-Jataka, Jataka số 1, Kinh Bổn Sinh (tạng Pali); dịch từ bản tiếng Anh The Jataka, or Stories of the Buddha's Former Births, tập 1, Robert Chalmers dịch, E. B. Cowell chủ biên, 1895
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →