Núi với núi chẳng bao giờ gặp nhau, nhưng người với người thì có ngày gặp, nhất là người tốt với kẻ xấu. Một lần nọ, trên đường đi làm thuê, một bác thợ giày và một chú thợ may gặp nhau như thế.
Chú thợ may người nhỏ nhắn, mặt mũi sáng sủa, lúc nào cũng vui vẻ yêu đời. Chú thấy bác thợ giày từ phía bên kia đi lại, nhìn cái túi đồ nghề trên lưng là biết ngay bác làm nghề gì, bèn cất giọng hát trêu một câu:
"Khâu cho tôi đường chỉ,
kéo cho tôi sợi gai,
phết nhựa trái phết nhựa phải,
nện, nện cho chắc cái đinh này!"
Nhưng bác thợ giày là người không biết đùa. Bác nhăn mặt như vừa uống phải giấm, sấn tới định túm cổ áo chú thợ may. Chú ta lại phá lên cười, chìa bầu rượu ra mà nói:
— Tôi có ác ý gì đâu. Bác làm một ngụm, nuốt cơn giận xuống cho trôi.
Bác thợ giày tu một hơi thật dài, và đám mây giông trên mặt bác bắt đầu tan. Bác trả bầu rượu lại, nói:
— Tôi uống đã đời rồi đấy. Người ta hay chê kẻ uống nhiều, chứ có ai chê kẻ khát to đâu. Này, mình đi chung đường nhé?
— Thế thì hay quá, — chú thợ may đáp, — miễn là bác cũng muốn lên một thành phố lớn, nơi chẳng bao giờ thiếu việc.
— Tôi cũng định tới đúng chỗ ấy, — bác thợ giày nói. — Ở cái xó nhỏ thì chẳng kiếm được đồng nào, còn dân quê thì thích đi chân đất hơn.
Thế là hai người cùng đi, bước chân này nối bước chân kia, đều đều như con chồn đi trên tuyết.
Thời gian thì cả hai có thừa, nhưng cái ăn cái uống thì ít ỏi. Hễ tới một thành phố, hai người lại đi khắp nơi chào hỏi bạn đồng nghề. Chú thợ may trông tươi tắn, hai má đỏ hây hây, nên ai cũng vui lòng cho chú chút gì. Gặp hôm may mắn, cô con gái nhà chủ đứng ở ngưỡng cửa còn tặng chú một cái hôn để lên đường. Mỗi lần gặp lại bác thợ giày, túi của chú bao giờ cũng đầy hơn. Bác thợ giày cau có méo mặt, lẩm bẩm:
— Càng ranh ma thì càng gặp may.
Nhưng chú thợ may chỉ cười rồi hát, được gì cũng chia đôi với bạn. Hễ trong túi lủng củng vài đồng bạc là chú gọi đồ ăn thức uống, sung sướng đập tay xuống bàn cho cốc chén nhảy múa. Chú vẫn nói: "Dễ kiếm thì dễ tiêu."
Đi được một thời gian, hai người tới một khu rừng lớn. Đường lên kinh thành phải băng qua rừng ấy. Trong rừng có hai lối mòn, một lối đi mất bảy ngày, lối kia chỉ hai ngày, mà chẳng ai trong hai người biết lối nào ngắn. Họ ngồi dưới gốc sồi bàn bạc xem nên chuẩn bị thế nào, mang bánh mì đủ cho mấy ngày. Bác thợ giày nói:
— Phải tính xa hơn bước chân mình đi. Tôi mang bánh cho bảy ngày.
— Cái gì? — chú thợ may kêu lên. — Cõng bánh cho bảy ngày trên lưng như con lừa thồ hàng, đến ngẩng đầu nhìn quanh cũng không nổi à? Tôi cứ trông cậy vào Trời, chẳng lo gì cả. Tiền trong túi tôi mùa hè cũng như mùa đông, còn bánh mì thì trời nóng sẽ khô cứng, lại còn mốc nữa. Áo mình dài mấy thì cũng chỉ tới mắt cá chân, lo xa quá làm gì. Sao mình lại không tìm ra đường đúng chứ? Bánh cho hai ngày là đủ.
Thế là mỗi người mua bánh của mình, rồi cứ thế nhắm mắt đưa chân vào rừng.
Trong rừng lặng như trong nhà thờ. Không một ngọn gió, không một tiếng suối, không một tiếng chim, và cành lá rậm rạp đến nỗi không một tia nắng nào lọt xuống. Bác thợ giày chẳng nói chẳng rằng. Bao bánh nặng đè trên lưng làm mồ hôi bác chảy ròng ròng trên khuôn mặt cau có sầm sì. Còn chú thợ may thì nhảy nhót tung tăng, lấy lá cây thổi sáo hoặc ngân nga một bài hát, bụng nghĩ: "Ông Trời trên kia hẳn phải vui lắm khi thấy mình vui thế này."
Cứ như thế được hai ngày. Nhưng sang ngày thứ ba, khu rừng vẫn không thấy đâu là tận cùng, mà chú thợ may đã ăn hết bánh, thì lòng chú cũng chùng xuống mất một gang. Dầu vậy chú vẫn không nản, cứ tin vào Trời và vào số may của mình. Tối ngày thứ ba, chú nằm xuống gốc cây với cái bụng đói, sáng hôm sau lại dậy với cái bụng đói. Ngày thứ tư cũng vậy. Mỗi khi bác thợ giày ngồi lên một thân cây đổ để ăn bữa của mình, chú thợ may chỉ còn biết đứng nhìn. Chú xin một mẩu bánh, gã kia cười khẩy:
— Mày lúc nào cũng vui vẻ, thì giờ thử một lần cho biết buồn là thế nào. Chim nào hót sớm thì chiều bị diều hâu vồ.
Tóm lại, gã chẳng có chút lòng thương nào.
Đến sáng ngày thứ năm, chú thợ may tội nghiệp không đứng dậy nổi nữa, mệt lả đến mức nói không ra hơi. Hai má chú trắng bệch, hai mắt đỏ kè. Bấy giờ gã thợ giày mới bảo:
— Hôm nay tao cho mày một miếng bánh, nhưng đổi lại tao sẽ khoét con mắt phải của mày.
Chú thợ may khốn khổ vẫn muốn được sống, không còn cách nào khác. Chú khóc một lần cuối bằng cả hai con mắt, rồi đưa mặt ra. Gã thợ giày lòng dạ sắt đá cầm con dao sắc khoét con mắt phải của chú. Chú thợ may chợt nhớ câu mẹ hay nói mỗi khi bắt gặp chú ăn vụng trong chạn: "Ăn được bao nhiêu thì ăn, chịu được bao nhiêu thì chịu."
Ăn xong mẩu bánh phải trả giá đắt như thế, chú lại gượng đứng lên đi tiếp, quên đi nỗi bất hạnh, tự an ủi rằng một mắt thì vẫn còn thấy đủ. Nhưng sang ngày thứ sáu, cơn đói lại kéo tới, cồn cào như muốn ăn mòn cả trái tim. Chiều tối chú ngã gục bên một gốc cây, và sáng ngày thứ bảy thì mệt quá không dậy nổi nữa. Cái chết đã ngồi sát sau gáy chú. Gã thợ giày lại nói:
— Tao sẽ làm phúc cho mày thêm miếng bánh nữa. Nhưng không cho không đâu, tao sẽ khoét nốt con mắt kia.
Bấy giờ chú thợ may mới nhận ra mình đã sống quá vô lo. Chú cầu xin Trời tha thứ, rồi nói:
— Anh làm điều anh phải làm, tôi chịu điều tôi phải chịu. Nhưng anh hãy nhớ, Trời không phán xử ngay tức khắc, nhưng rồi sẽ có ngày cái ác anh làm với tôi phải bị đền trả, cái ác mà tôi đâu đáng phải chịu. Những ngày khấm khá, tôi có gì cũng chia với anh. Nghề của tôi là nghề mũi kim, mũi này đẩy mũi kia mới ra đường may. Không còn mắt, tôi chẳng khâu vá được nữa, chỉ còn nước đi ăn mày. Khi tôi đã mù rồi, xin anh đừng bỏ tôi nằm một mình ở đây, kẻo tôi chết khô mất.
Nhưng gã thợ giày đã đuổi Trời ra khỏi lòng mình từ lâu. Gã cầm dao khoét nốt con mắt trái. Rồi gã cho chú một mẩu bánh, đưa cho chú cây gậy và dắt chú lẽo đẽo theo sau.
Lúc mặt trời lặn, hai người ra khỏi rừng. Trên cánh đồng trước bìa rừng có một cái giá treo cổ. Gã thợ giày dẫn người thợ may mù tới đó, bỏ chú nằm lại rồi đi thẳng.
Vì mệt, vì đau, vì đói, người khốn khổ thiếp đi, ngủ suốt một đêm. Khi trời hửng sáng, chú tỉnh dậy mà không biết mình đang nằm ở đâu. Trên giá treo cổ có hai kẻ tội đồ bị treo, trên đầu mỗi người có một con quạ đậu. Một người cất tiếng:
— Này anh, anh thức chưa?
— Ừ, tôi thức đây, — người kia đáp.
— Vậy tôi nói anh nghe chuyện này, — người thứ nhất tiếp. — Sương đêm qua từ giá treo cổ rỏ xuống người chúng mình, ai lấy sương ấy rửa mắt thì sẽ sáng mắt trở lại. Giá người mù mà biết, thì khối kẻ đã sáng mắt lại, dù họ chẳng bao giờ tin chuyện ấy có thể xảy ra.
Nghe thế, chú thợ may lấy khăn tay ấn xuống cỏ. Khi khăn đã thấm đẫm sương, chú đem rửa hai hốc mắt. Lời người bị treo lập tức ứng nghiệm: một đôi mắt tươi tắn, lành lặn lại đầy trong hai hốc. Chẳng bao lâu, chú đã nhìn thấy mặt trời nhô lên sau dãy núi. Dưới đồng bằng trước mặt là kinh thành lớn với những cổng thành tráng lệ và cả trăm ngọn tháp, những quả cầu vàng và cây thánh giá trên đỉnh tháp bắt đầu rực sáng. Chú nhìn rõ từng chiếc lá trên cây, thấy những con chim bay ngang và cả đàn muỗi nhảy múa trong không trung. Chú lấy trong túi ra một cây kim khâu, xâu chỉ vào được dễ dàng như xưa nay, thế là tim chú nhảy lên vì sung sướng. Chú quỳ xuống, cảm tạ Trời đã ban ơn, rồi đọc kinh buổi sáng. Chú cũng không quên cầu nguyện cho hai kẻ tội đồ khốn khổ đang treo kia, đung đưa như quả lắc trong chuông, bị gió đẩy va vào nhau. Xong chú khoác tay nải lên lưng, chẳng mấy chốc đã quên hết nỗi đau vừa qua, vừa hát vừa huýt sáo đi tiếp.
Thứ đầu tiên chú gặp là một con ngựa non lông nâu đang tung tăng ngoài đồng. Chú túm lấy bờm, định nhảy lên cưỡi vào thành. Nhưng con ngựa non xin được tha:
— Tôi còn non quá, — nó nói, — đến một chú thợ may nhẹ cân như anh cũng làm gãy lưng tôi mất. Anh cứ để tôi chạy cho tới khi tôi lớn khoẻ đã. Biết đâu sẽ có ngày tôi đền ơn anh.
— Thôi chạy đi, — chú thợ may bảo, — tao thấy mày cũng là đứa ham nhảy nhót như tao.
Chú còn quất nhẹ cành roi lên lưng nó một cái. Con ngựa non mừng quá, hất hai chân sau lên trời, phóng qua hàng rào, qua mương rãnh, lao vút vào đồng.
Nhưng chú thợ may đã nhịn đói từ hôm qua.
— Mặt trời làm đầy mắt mình thật đấy, — chú nói, — nhưng nó chẳng làm đầy miệng mình miếng bánh nào. Thứ đầu tiên mình gặp mà tạm ăn được, thì thứ ấy phải chịu.
Đúng lúc ấy, một con cò bước đi trịnh trọng trên đồng cỏ.
— Đứng lại, đứng lại! — chú thợ may kêu lên, rồi túm lấy chân nó. — Tao chẳng biết mày có ăn được không, nhưng bụng đói không cho tao kén chọn lâu. Tao phải cắt đầu mày đem nướng thôi.
— Đừng làm thế, — con cò đáp. — Tôi là loài chim linh, chẳng ai làm hại tôi, mà tôi lại giúp ích cho người ta nhiều lắm. Anh tha mạng cho tôi, ngày khác tôi sẽ đền đáp anh.
— Vậy thì đi đi, ông anh chân dài, — chú thợ may nói.
Con cò cất cánh, để hai cẳng dài thõng xuống, thong thả bay đi.
— Thế này thì ra làm sao? — chú thợ may tự nhủ. — Bụng mình mỗi lúc một đói, dạ dày mỗi lúc một rỗng. Thứ gì gặp bây giờ thì thứ ấy toi.
Vừa lúc ấy chú thấy trên ao có mấy con vịt con bơi tới.
— Chúng mày tới đúng lúc lắm, — chú nói, rồi chụp lấy một con, định vặn cổ.
Bỗng một con vịt mẹ nấp trong đám lau sậy kêu quàng quạc thật to, há mỏ bơi tới, thiết tha van chú thương lấy những đứa con yêu của nó.
— Anh không nghĩ sao, — vịt mẹ nói, — nếu có ai bắt anh đi rồi giết anh, mẹ anh sẽ khóc than đến thế nào?
— Thôi im đi, — chú thợ may tốt bụng nói, — con bà cứ giữ lấy.
Rồi chú thả con vịt bị bắt xuống nước.
Chú quay người lại thì thấy mình đứng trước một gốc cây già rỗng ruột một nửa, ong rừng bay ra bay vào tấp nập.
— Phần thưởng cho việc tốt của mình đây rồi, — chú thợ may nói, — mật ong sẽ cho mình no bụng.
Nhưng ong chúa bay ra, giọng đe doạ:
— Nếu anh động vào dân của ta, phá tổ của ta, thì nọc của chúng ta sẽ cắm vào da anh như mười nghìn mũi kim nung đỏ. Còn nếu anh để chúng ta yên mà đi đường mình, thì ngày khác chúng ta sẽ giúp anh một việc.
Chú thợ may thấy chỗ này cũng chẳng xơ múi được gì.
— Ba đĩa trống trơn, — chú nói, — mà đĩa thứ tư thì chẳng có gì. Bữa ăn thế thì tồi quá.
Thế là chú lê cái bụng đói meo vào thành. Đúng lúc chuông điểm giữa trưa, quán trọ đã nấu nướng sẵn, chú ngồi vào bàn ăn ngay được. Ăn no rồi, chú nói:
— Giờ thì mình cũng phải làm việc thôi.
Chú đi khắp thành tìm một ông chủ, chẳng mấy chốc đã có chỗ làm tốt. Vì chú học nghề đến nơi đến chốn, nên chẳng bao lâu tiếng tăm đã nổi khắp nơi, ai cũng muốn chiếc áo mới của mình phải do chú thợ may nhỏ bé ấy cắt. Uy tín của chú mỗi ngày một lên.
— Tay nghề mình chẳng giỏi hơn được nữa, — chú nói, — thế mà công việc cứ mỗi ngày một khấm khá.
Cuối cùng, nhà vua phong chú làm thợ may của triều đình.
Nhưng đời vẫn hay thế. Đúng ngày hôm ấy, người bạn đường cũ của chú, gã thợ giày, cũng được làm thợ giày của triều đình. Gã nhìn thấy chú thợ may lại có hai con mắt lành lặn, lương tâm cắn rứt không yên. Gã nghĩ thầm: "Trước khi nó trả thù mình, mình phải đào hố cho nó trước đã." Nhưng kẻ đào hố hại người thì rồi chính mình sa xuống.
Buổi chiều, xong việc, trời đã nhá nhem, gã lẻn tới gặp nhà vua mà tâu:
— Muôn tâu bệ hạ, tên thợ may ấy là đứa ngạo mạn. Hắn dám khoe rằng hắn sẽ tìm lại được chiếc vương miện vàng đã thất lạc từ ngày xưa.
— Được thế thì ta mừng lắm, — nhà vua nói.
Sáng hôm sau, vua cho đòi chú thợ may tới, truyền phải tìm lại chiếc vương miện, bằng không thì phải rời khỏi thành vĩnh viễn.
"Ô hô," chú thợ may nghĩ, "chẳng ai cho được người ta cái mà mình không có. Ông vua khó tính này đòi mình làm điều không ai làm nổi, thì mình chẳng chờ tới mai làm gì, đi luôn hôm nay cho xong."
Chú bèn gói tay nải. Nhưng khi ra khỏi cổng thành, chú lại thấy tiếc, phải bỏ cái vận may của mình, quay lưng lại với thành phố đã cho mình bao nhiêu điều tốt đẹp. Chú đi tới cái ao nơi mình đã làm quen với bầy vịt. Đúng lúc ấy, vịt mẹ, con vịt mà chú đã tha cho đàn con, đang ngồi trên bờ rỉa lông. Nó nhận ra chú ngay, hỏi sao chú cúi gằm mặt xuống như thế.
— Bà mà nghe chuyện tôi gặp thì sẽ hiểu ngay, — chú thợ may đáp, rồi kể cho nó nghe nỗi khổ của mình.
— Nếu chỉ có thế, — vịt mẹ nói, — thì chúng tôi lo được. Chiếc vương miện rơi xuống nước, nằm dưới đáy ao này, chúng tôi lên lấy về nhanh thôi. Anh trải khăn tay ra bờ mà chờ.
Vịt mẹ cùng mười hai đứa con lặn xuống. Năm phút sau, vịt mẹ trồi lên, ngồi ngay giữa chiếc vương miện, đội nó trên đôi cánh, còn mười hai vịt con bơi vòng quanh, kê mỏ đỡ bên dưới giúp mẹ khiêng. Chúng bơi vào bờ, đặt chiếc vương miện lên khăn. Chẳng ai tin nổi chiếc vương miện ấy lộng lẫy đến nhường nào: khi nắng chiếu vào, nó lấp lánh như trăm nghìn viên hồng ngọc. Chú thợ may túm bốn góc khăn lại, mang về dâng vua. Nhà vua mừng rỡ khôn xiết, đeo vào cổ chú một sợi xích vàng.
Gã thợ giày thấy mưu thứ nhất không thành, lại nghĩ ra mưu thứ hai. Gã tới trước mặt vua mà tâu:
— Muôn tâu bệ hạ, tên thợ may lại ngạo mạn nữa rồi. Hắn dám khoe sẽ nặn bằng sáp cả toà cung điện cùng mọi thứ bên trong, đồ rời cũng như đồ gắn, trong cũng như ngoài.
Nhà vua cho gọi chú thợ may, truyền phải nặn bằng sáp cả toà cung điện cùng mọi thứ bên trong, đồ rời cũng như đồ gắn, trong cũng như ngoài. Nếu không làm nổi, hay chỉ thiếu một cái đinh trên tường thôi, thì sẽ bị giam dưới hầm suốt đời.
Chú thợ may nghĩ: "Mỗi lúc một tệ hơn, chẳng ai chịu nổi."
Chú quẳng tay nải lên lưng, bỏ đi. Tới gốc cây rỗng, chú ngồi xuống, cúi gằm mặt. Đàn ong bay ra, ong chúa hỏi có phải chú bị vẹo cổ không mà nghiêng đầu như thế.
— Ồ không, — chú thợ may đáp, — tôi đang có chuyện khác đè nặng.
Rồi chú kể điều nhà vua đòi hỏi. Đàn ong bắt đầu vo ve rì rầm với nhau, rồi ong chúa nói:
— Anh cứ về nhà đi. Mai đúng giờ này quay lại, nhớ mang theo một tấm khăn thật lớn, mọi việc sẽ ổn cả.
Chú thợ may quay về. Còn đàn ong bay tới cung điện, bay thẳng vào những ô cửa sổ mở, bò khắp mọi ngóc ngách, xem xét từng chút một thật kỹ. Rồi chúng bay về, nặn toà cung điện bằng sáp nhanh tới mức tưởng như nó đang lớn lên trước mắt. Mới tới chiều đã xong hết. Sáng hôm sau chú thợ may tới, thì toà lâu đài lộng lẫy đã đứng sẵn đó, không thiếu một cái đinh trên tường, không thiếu một viên ngói trên mái. Nó lại mịn màng, trắng như tuyết và thơm ngọt như mật ong. Chú thợ may cẩn thận gói vào khăn mang về dâng vua. Nhà vua trầm trồ mãi không thôi, cho bày nó trong gian đại sảnh lớn nhất, và thưởng cho chú một ngôi nhà lớn bằng đá.
Nhưng gã thợ giày vẫn chưa chịu thôi. Gã tới gặp vua lần thứ ba, tâu:
— Muôn tâu bệ hạ, tên thợ may nghe nói giữa sân cung điện không có nước phun, thế là hắn khoe sẽ làm cho một dòng nước vọt lên giữa sân, cao bằng đầu người, trong như pha lê.
Nhà vua cho đòi chú thợ may tới mà phán:
— Nếu sáng mai giữa sân của ta không có tia nước phun lên như lời ngươi hứa, thì đao phủ sẽ chặt đầu ngươi ngay trên sân ấy.
Chú thợ may tội nghiệp chẳng kịp nghĩ ngợi gì, vội vàng chạy ra khỏi cổng thành. Lần này dính tới tính mạng, nên nước mắt chú lăn dài trên má. Chú đang buồn bã bước đi thì con ngựa non ngày trước được chú tha cho chạy tới. Giờ nó đã thành một con ngựa nâu đẹp đẽ.
— Giờ là lúc tôi đền ơn anh đây, — nó nói. — Tôi biết anh đang gặp chuyện gì rồi, sẽ ổn ngay thôi. Anh lên lưng đi, lưng tôi giờ chở nổi hai người như anh.
Chú thợ may vững lòng trở lại, nhảy phắt lên lưng ngựa. Con ngựa phi nước đại vào thành, lao thẳng vào sân cung điện. Nó chạy vòng quanh sân ba lượt, nhanh như chớp, đến vòng thứ ba thì ngã quỵ xuống. Đúng lúc ấy, một tiếng nổ dữ dội vang lên: một tảng đất giữa sân bắn vọt lên trời như quả đạn, bay qua cả nóc cung điện, rồi ngay sau đó một tia nước phun vọt lên cao bằng cả người lẫn ngựa. Nước trong như pha lê, những tia nắng bắt đầu nhảy múa trên đó. Nhà vua trông thấy, kinh ngạc đứng bật dậy, bước tới ôm chầm lấy chú thợ may trước mặt mọi người.
Nhưng vận may không được lâu. Nhà vua có nhiều con gái, cô sau đẹp hơn cô trước, nhưng lại không có con trai. Gã thợ giày độc ác tới gặp vua lần thứ tư, tâu:
— Muôn tâu bệ hạ, tên thợ may vẫn chưa chừa thói ngạo mạn. Giờ hắn lại khoe rằng chỉ cần hắn muốn, hắn có thể sai người mang qua không trung tới cho bệ hạ một hoàng tử.
Nhà vua cho gọi chú thợ may mà phán:
— Trong vòng chín ngày, nếu ngươi khiến người mang tới cho ta một đứa con trai, thì ta sẽ gả công chúa cả cho ngươi.
"Phần thưởng to thật đấy," chú thợ may nghĩ, "vì nó thì người ta cũng gắng thêm chút đỉnh. Nhưng chùm anh đào này treo cao quá. Mình mà trèo lên hái thì cành gãy, mình ngã lộn cổ mất."
Chú về nhà, ngồi xếp bằng trên bàn may, ngẫm nghĩ xem nên làm thế nào. Cuối cùng chú kêu lên:
— Không được rồi. Mình đi thôi, ở đây chẳng thể nào sống yên.
Chú gói tay nải, vội vàng ra khỏi cổng thành. Tới cánh đồng cỏ, chú gặp người bạn cũ là con cò. Nó đang đi đi lại lại như một nhà hiền triết, thỉnh thoảng đứng lại ngắm nghía một con ếch, rồi cuối cùng nuốt chửng. Con cò bước tới chào chú.
— Tôi thấy anh đeo tay nải trên lưng, — nó nói, — sao anh lại muốn bỏ thành mà đi?
Chú thợ may kể cho nó nghe nhà vua đòi chú điều gì mà chú không làm nổi, rồi than thở cho số phận hẩm hiu của mình.
— Đừng để chuyện ấy làm anh bạc đầu, — con cò nói. — Tôi sẽ giúp anh qua cơn khốn khó. Bấy lâu nay tôi vẫn mang trẻ sơ sinh vào thành, thì một lần mang một hoàng tử nhỏ từ dưới giếng lên cũng được thôi. Anh cứ về nhà, cứ yên lòng. Chín ngày nữa tính từ hôm nay, anh vào cung, tôi sẽ tới.
Chú thợ may về nhà, đúng hẹn thì có mặt trong cung. Chẳng bao lâu con cò bay tới, gõ vào cửa sổ. Chú thợ may mở cửa, ông anh chân dài thận trọng bước vào, oai vệ đi từng bước trên nền đá hoa bóng loáng. Trong mỏ nó ngậm một đứa bé xinh như thiên thần, đang dang đôi tay nhỏ về phía hoàng hậu. Con cò đặt đứa bé vào lòng hoàng hậu, bà ôm hôn đứa bé, mừng đến không còn biết trời đất gì nữa. Trước khi bay đi, con cò tháo cái túi du hành trên vai xuống trao cho hoàng hậu. Trong túi có những gói giấy đựng kẹo đậu nhiều màu, được chia cho các nàng công chúa nhỏ. Riêng công chúa cả thì chẳng được viên kẹo nào, mà được chú thợ may vui tính làm chồng.
— Tôi thấy y như mình vừa trúng giải độc đắc, — chú thợ may nói. — Mẹ tôi nói đúng thật, bà vẫn bảo: ai tin vào Trời mà lại có chút may, thì chẳng bao giờ hỏng việc.
Gã thợ giày phải đóng đôi giày cho chú thợ may đi nhảy trong tiệc cưới, rồi bị lệnh đuổi khỏi thành vĩnh viễn. Con đường vào rừng dẫn gã qua cái giá treo cổ. Mệt mỏi vì giận dữ, vì căm tức và vì cái nắng gay gắt trong ngày, gã nằm vật xuống. Gã vừa nhắm mắt định ngủ, thì hai con quạ trên đầu hai kẻ bị treo kêu thất thanh lao xuống, mổ mất đôi mắt của gã. Gã cuống cuồng chạy vào rừng như kẻ mất trí, và hẳn đã chết khô trong đó, vì từ ấy không ai còn thấy gã hay nghe tin gì về gã nữa.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích