Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hai ông già lên đường

Hai ông già · Chương 1/3 · của Lev Tolstoy

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 12.463 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Người đàn bà thưa với Người: Thưa Thầy, tôi…
  2. 2:14Phải đợi đã, ông nói. Năm nay tôi gặp…
  3. 3:18Ông Ta-ra-xư-ch nghĩ ngợi.
  4. 3:57Tiếc à?! Không đâu, ông thông gia ơi! Cả…
  5. 4:57Ê-phim Ta-ra-xư-ch giao hết công việc cho con trai…
  6. 8:11Tội lỗi nó thắng tôi rồi, ông nói, biết…
  7. 9:45Ê-li-sê xoay cái vòng cửa, cửa không khoá. Ông…
  8. 11:09Ê-li-sê vừa định hỏi bà già thêm, thì người…

Chương 1: Hai ông già lên đường

Người đàn bà thưa với Người: Thưa Thầy, tôi thấy Thầy là một đấng tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ phượng trên núi này, còn các ông lại bảo nơi phải thờ phượng là ở Giê-ru-xa-lem. Chúa Giê-su bảo bà: Này bà, hãy tin tôi, đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này, cũng không phải ở Giê-ru-xa-lem. Các người thờ Đấng các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ đến từ dân Do Thái. Nhưng giờ sẽ đến, và chính là lúc này đây, những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong tâm linh và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng như thế.

Phúc Âm theo thánh Gio-an, chương bốn.

Có hai ông già hẹn nhau đi đến thành Giê-ru-xa-lem xưa để cầu nguyện Chúa. Một ông là nông dân giàu có, tên là Ê-phim Ta-ra-xư-ch Sê-vê-lép. Ông kia là một người không giàu, tên là Ê-li-sê Bô-đrốp.

Ê-phim là người đứng đắn, không uống rượu, không hút thuốc, cũng không hít thuốc lá, cả đời chưa từng chửi một câu tục, tính tình nghiêm khắc và cứng rắn. Ê-phim Ta-ra-xư-ch đã làm trưởng thôn hai nhiệm kỳ, thôi việc mà sổ sách không thiếu một đồng. Nhà ông đông người: hai con trai và một đứa cháu nội đã có vợ, tất cả sống chung một nhà. Người ông khoẻ mạnh, râu rậm, lưng thẳng, ngoài sáu mươi râu mới bắt đầu lấm tấm bạc. Còn Ê-li-sê là một ông già không giàu cũng không nghèo. Ngày trước ông đi làm thợ mộc, về già thì ở nhà nuôi ong. Một con trai ông đi làm ăn xa, một đứa ở nhà. Ê-li-sê là người tốt bụng và vui tính. Ông có uống rượu, có hít thuốc lá, lại thích ca hát, nhưng hiền lành, sống hoà thuận với người nhà và hàng xóm. Ông người thấp bé, nước da ngăm ngăm, chòm râu quăn, và giống như vị thánh mà ông mang tên là nhà tiên tri Ê-li-sê, đầu ông hói nhẵn thín.

Hai ông già đã hứa với nhau và hẹn cùng đi từ lâu, nhưng ông Ta-ra-xư-ch cứ bận mãi: việc của ông chẳng lúc nào ngớt. Việc này vừa xong, việc khác đã bắt đầu: khi thì cưới vợ cho cháu, khi thì chờ đứa con út đi lính về, rồi lại tính dựng một ngôi nhà gỗ mới.

Một hôm nhân ngày lễ, hai ông già gặp nhau, ngồi trên đống gỗ.

— Thế nào, Ê-li-sê nói, bao giờ thì ta đi cho trọn lời nguyện đây?

Ê-phim nhăn mặt.

— Phải đợi đã, ông nói. Năm nay tôi gặp năm khó. Tôi bắt tay dựng ngôi nhà này, tưởng chỉ tốn thêm chừng trăm rúp, mà giờ đã sang trăm thứ ba rồi. Thế mà vẫn chưa xong. Chắc phải đợi đến mùa hè. Mùa hè, nếu Chúa cho, nhất định ta sẽ đi.

— Theo ý tôi, Ê-li-sê nói, chẳng việc gì phải hoãn, phải đi ngay năm nay. Đang đúng mùa, mùa xuân.

— Mùa thì đúng là mùa, nhưng việc đã bắt tay vào, bỏ đi sao được?

— Nhà ông không có ai à? Con trai ông sẽ làm.

— Làm thế nào được! Thằng cả nhà tôi không đáng tin, nó hay rượu chè.

— Rồi chúng ta chết đi, ông thông gia ạ, chúng nó vẫn sống được mà không có chúng ta. Con trai ông cũng phải học lấy chứ.

— Biết thế, nhưng mình vẫn muốn tận mắt thấy việc xong xuôi.

— Ôi, ông bạn quý ơi! Chẳng bao giờ làm hết được mọi việc đâu. Hôm nọ mấy người đàn bà nhà tôi lau dọn sửa soạn đón lễ. Việc này cũng phải làm, việc kia cũng phải làm, không sao làm hết được. Chị con dâu cả nhà tôi, người khôn ngoan, chị ấy bảo: "Cũng may ngày lễ nó cứ đến, chẳng chờ ai, chứ không thì làm đến đâu cũng chẳng bao giờ hết việc."

Ông Ta-ra-xư-ch nghĩ ngợi.

— Tôi đã tốn nhiều tiền vào việc dựng nhà này, ông nói. Mà đi đường cũng chẳng thể đi tay không. Tiền đâu có ít, một trăm rúp đấy.

Ê-li-sê cười.

— Đừng có nói thế mà mang tội, ông thông gia ạ, ông nói. Của cải nhà ông gấp mười nhà tôi, thế mà ông lại nói chuyện tiền. Ông cứ bảo bao giờ đi, tôi không có thì tôi sẽ có.

Ông Ta-ra-xư-ch cũng nhếch mép cười.

— Ra là có nhà giàu mới nổi đây, ông nói. Ông lấy đâu ra?

— Cạo vét trong nhà thì cũng được ít nhiều. Còn thiếu thì tôi bán chục tổ ong cho ông hàng xóm. Ông ấy hỏi mua lâu rồi.

— Năm nay ong chia đàn tốt, rồi ông lại tiếc.

— Tiếc à?! Không đâu, ông thông gia ơi! Cả đời tôi chẳng tiếc gì, ngoài những tội lỗi của mình. Chẳng có gì quý hơn linh hồn.

— Thì thế, nhưng việc nhà bỏ dở thì vẫn không yên lòng.

— Còn việc linh hồn mà bỏ dở thì còn tệ hơn. Đã hứa với Chúa thì ta đi thôi! Thật đấy, ta đi thôi.

Thế là Ê-li-sê thuyết phục được bạn. Ê-phim nghĩ đi nghĩ lại, sáng hôm sau ông đến nhà Ê-li-sê.

— Thôi được, ta đi, ông nói. Ông nói phải đấy. Sống chết là do Chúa định. Còn sống, còn sức thì phải đi.

Một tuần sau, hai ông già sửa soạn xong.

Ông Ta-ra-xư-ch có sẵn tiền ở nhà. Ông lấy một trăm rúp đi đường, để lại cho bà vợ hai trăm.

Ê-li-sê cũng sửa soạn xong. Ông bán cho ông hàng xóm mười tổ ong, cả số đàn con mười tổ ấy chia ra được bao nhiêu cũng bán cho ông hàng xóm. Tất cả được bảy mươi rúp. Ba mươi rúp còn lại ông vét sạch của mọi người trong nhà. Bà vợ đưa ông những đồng cuối cùng bà dành dụm để lo hậu sự, chị con dâu cũng đưa tiền của chị.

Ê-phim Ta-ra-xư-ch giao hết công việc cho con trai cả: cắt cỏ ở đâu, bao nhiêu, chở phân bón đi đâu, làm nốt ngôi nhà và lợp mái thế nào. Việc gì ông cũng tính kỹ, dặn dò hết. Còn Ê-li-sê chỉ dặn bà vợ rằng đàn ong con của mấy tổ đã bán thì phải để riêng ra, giao cho ông hàng xóm, không được gian dối. Còn việc nhà thì ông chẳng buồn nói đến: việc sẽ tự chỉ cho mình phải làm gì, làm thế nào. Các người là chủ, tự làm cho mình thì sẽ làm sao cho tốt nhất.

Hai ông già sửa soạn xong. Họ nướng bánh ở nhà, may túi đeo, cắt vải quấn chân mới, đi đôi giày mới, mang theo giày cói dự phòng rồi lên đường. Người nhà tiễn họ ra đến cổng làng, chào từ biệt, và hai ông già bước lên đường xa.

Ê-li-sê ra đi với tâm hồn phơi phới, vừa ra khỏi làng là quên hết mọi việc nhà. Trong đầu ông chỉ có một ý nghĩ: đi đường làm sao cho vừa lòng bạn, làm sao đừng nói lời thô lỗ với ai, làm sao đi đến nơi và trở về trong yên ổn và yêu thương. Ê-li-sê vừa đi vừa thì thầm đọc kinh, hoặc nhẩm lại những truyện các thánh mà ông thuộc. Gặp ai trên đường, hay đến chỗ nghỉ đêm, ông đều cố đối xử với mọi người thật dịu dàng, nói những lời đẹp lòng Chúa. Ông đi mà lòng vui sướng. Chỉ có một việc Ê-li-sê không làm được. Ông muốn bỏ hít thuốc lá, đã để hộp thuốc ở nhà, nhưng rồi thấy buồn buồn. Dọc đường có người cho ông một ít. Thế là thỉnh thoảng ông lại tụt lại sau bạn, để khỏi làm bạn mang tội, rồi hít một chút.

Ê-phim Ta-ra-xư-ch cũng đi tốt lắm, vững vàng, không làm điều gì xấu, không nói điều gì vô ích, nhưng lòng ông không được nhẹ nhõm. Nỗi lo việc nhà không sao ra khỏi đầu ông. Ông cứ nhớ mãi ở nhà đang làm gì. Có quên dặn con trai việc gì không, con trai có làm đúng không? Dọc đường thấy người ta trồng khoai tây hay chở phân, ông lại nghĩ: không biết con trai có làm đúng như mình dặn không. Có lẽ ông chỉ muốn quay về chỉ bảo cho nó, tự tay làm lấy.

Hai ông già đi năm tuần lễ, đôi giày cói mang từ nhà đã mòn rách, phải mua giày mới, và họ đến vùng Ukraina. Từ nhà đi, chỗ ngủ đêm, bữa ăn đều phải trả tiền, nhưng đến vùng người Ukraina thì người ta tranh nhau mời vào nhà. Người ta cho ngủ nhờ, cho ăn, không lấy tiền, lại còn nhét vào túi cho họ bánh mì, có khi cả bánh rán, để ăn dọc đường. Cứ thế, hai ông già đi thong thả được chừng bảy trăm dặm. Họ đi qua thêm một tỉnh nữa, rồi đến một vùng mất mùa. Người ta vẫn cho ngủ nhờ, không lấy tiền trọ, nhưng thôi không cho ăn nữa. Bánh mì không phải chỗ nào cũng cho, có khi trả tiền cũng không mua được. Dân ở đấy kể rằng năm ngoái chẳng có gì mọc được cả. Nhà nào trước giàu thì đã khánh kiệt, bán sạch mọi thứ. Nhà nào sống trung bình thì nay chẳng còn gì. Còn những người nghèo thì hoặc đã bỏ đi hẳn, hoặc đi ăn xin, hoặc ở nhà sống lay lắt. Mùa đông họ ăn trấu hay rau dền dại.

Một lần hai ông già nghỉ đêm ở một thị trấn nhỏ, mua chừng mười lăm cân bánh mì, ngủ một đêm rồi lên đường từ trước rạng đông, để đi được xa trước khi trời nóng. Đi được mười dặm thì đến một con suối, họ ngồi xuống, múc nước vào bát, chấm bánh mì vào ăn, rồi thay vải quấn chân. Họ ngồi nghỉ một lát. Ê-li-sê lấy cái sừng đựng thuốc hít ra. Ê-phim Ta-ra-xư-ch lắc đầu.

— Sao không bỏ cái thứ bẩn thỉu ấy đi! ông nói.

Ê-li-sê khoát tay.

— Tội lỗi nó thắng tôi rồi, ông nói, biết làm sao!

Họ đứng dậy, đi tiếp. Đi thêm chừng chục dặm nữa. Họ đến một ngôi làng lớn, đi xuyên qua làng. Trời đã nóng. Ê-li-sê mệt lả, muốn nghỉ chân và uống nước, nhưng ông Ta-ra-xư-ch không dừng lại. Ông Ta-ra-xư-ch đi khoẻ hơn, Ê-li-sê theo ông khá vất vả.

— Giá được ngụm nước, Ê-li-sê nói.

— Thì ông cứ uống đi. Tôi không khát.

Ê-li-sê dừng lại.

— Ông đừng đợi, ông nói. Tôi chỉ chạy vào túp nhà kia uống ngụm nước thôi. Tôi đuổi kịp ông ngay.

— Được, Ê-phim nói. Rồi Ê-phim Ta-ra-xư-ch một mình đi trước theo con đường, còn Ê-li-sê rẽ vào túp nhà.

Ê-li-sê đến gần túp nhà. Túp nhà nhỏ, trát đất. Chân tường đen, trên trắng, nhưng lớp đất đã bong tróc, rõ là lâu lắm không ai trát lại, mái nhà một bên đã trơ ra. Lối vào nhà đi từ phía sân. Ê-li-sê bước vào sân, thấy bên bệ đất cạnh tường có một người đàn ông nằm, mặt không râu, gầy gò, áo sơ mi bỏ trong quần theo kiểu người Ukraina. Hẳn người ấy đã nằm vào chỗ râm, nhưng giờ nắng đã chiếu thẳng vào người. Anh ta nằm đó mà không ngủ. Ê-li-sê gọi anh ta, xin ngụm nước, người ấy không đáp. "Chắc là ốm, hoặc là người khó tính", Ê-li-sê nghĩ, rồi đến bên cửa. Ông nghe trong nhà có tiếng trẻ con khóc. Ê-li-sê gõ cái vòng cửa. "Chủ nhà ơi!" Không ai đáp. Ông lấy gậy gõ cửa thêm lần nữa. "Hỡi các con chiên!" Không ai nhúc nhích. "Hỡi những tôi tớ của Chúa!" Không ai trả lời. Ê-li-sê đã định bỏ đi, thì nghe sau cánh cửa hình như có ai đang rên. "Hay là người ta gặp chuyện gì không may? Phải vào xem mới được!" Thế là Ê-li-sê đi vào nhà.

Ê-li-sê xoay cái vòng cửa, cửa không khoá. Ông đẩy cửa, đi qua gian ngoài. Cửa vào gian trong cũng mở. Bên trái là bếp lò, phía trước là góc thờ, trong góc có bàn thờ ảnh thánh, cái bàn, sau bàn là cái ghế băng. Trên ghế băng, một bà già đầu tóc rũ rượi, chỉ mặc mỗi chiếc áo lót, đang ngồi gục đầu xuống bàn. Bên cạnh là một thằng bé gầy gò, da vàng như sáp, bụng thì to phình, đang giật tay áo bà, gào khóc, đòi cái gì đó. Ê-li-sê bước vào nhà. Trong nhà hôi hám nặng nề. Ông nhìn, thấy sau bếp lò, trên giường, có một người đàn bà nằm. Chị nằm sấp, không nhìn ai, chỉ thở khò khè, chân hết duỗi ra lại co vào. Chị cứ lăn qua lăn lại, và mùi hôi nặng nề là từ chị mà ra, rõ là chị đi ngoài ngay tại chỗ mà không có ai dọn. Bà già ngẩng đầu lên, trông thấy người lạ.

— Ông cần gì, bà nói, ông cần gì? Chẳng còn gì đâu, ông ơi, chẳng còn gì cả.

Ê-li-sê hiểu bà nói gì, bèn đến gần bà.

— Thưa bà, tôi là tôi tớ của Chúa, ông nói, tôi vào xin ngụm nước.

— Không có, tôi bảo không có mà. Chẳng có gì mà lấy đâu. Ông đi đi.

Ê-li-sê hỏi: "Thế nhà mình không còn ai khoẻ mạnh để dọn dẹp cho chị ấy à?"

— Chẳng còn ai cả. Ông nhà tôi ngoài sân đang chết dần, còn chúng tôi ở trong này.

Thằng bé thấy người lạ thì nín được một lúc, nhưng khi bà già vừa nói, nó lại túm lấy tay áo bà: "Bánh mì, bà ơi! Bánh mì!" rồi lại khóc.

Ê-li-sê vừa định hỏi bà già thêm, thì người đàn ông lảo đảo bước vào nhà, bám tường mà đi, định ngồi xuống ghế băng nhưng không tới, ngã gục xuống góc nhà cạnh ngưỡng cửa. Anh ta không gượng dậy nữa, cứ nằm đó mà nói. Nói được một chữ lại phải dừng thở, rồi mới nói chữ khác.

— Bệnh tật lại ập đến, anh nói, mà đói nữa. Đây này, chúng nó chết đói đây này!

Người đàn ông hất đầu chỉ thằng bé, rồi khóc.

Ê-li-sê xốc lại cái túi trên vai, rút tay ra khỏi quai, đặt túi xuống đất, rồi nhấc lên ghế băng, bắt đầu cởi dây. Cởi xong, ông lấy bánh mì và con dao ra, cắt một lát, đưa cho người đàn ông. Anh ta không cầm, chỉ trỏ về phía thằng bé và đứa con gái, ý bảo đưa cho chúng nó. Ê-li-sê đưa cho thằng bé. Thằng bé ngửi thấy mùi bánh mì, chồm tới, hai bàn tay nhỏ xíu chộp lấy lát bánh, vùi cả mũi vào đó. Từ sau bếp lò, một đứa bé gái nữa bò ra, mắt dán vào bánh mì. Ê-li-sê cũng đưa cho nó. Ông cắt thêm một miếng nữa, đưa cho bà già. Bà già cầm lấy, bắt đầu nhai.

— Giá có ai đi lấy nước, bà nói, môi khô cháy cả rồi. Hôm qua hay hôm nay, tôi cũng chẳng nhớ nữa, tôi định đi lấy nước, nhưng ngã quỵ, không tới được, cái xô vẫn còn nằm ở đấy, nếu chưa ai lấy mất.

Ê-li-sê hỏi giếng ở đâu. Bà già chỉ cho ông. Ê-li-sê đi, tìm thấy cái xô, xách nước về, cho mọi người uống. Lũ trẻ ăn thêm bánh mì chấm nước, bà già cũng ăn, nhưng người đàn ông thì không ăn. "Không nuốt được", anh nói. Còn người đàn bà thì không dậy được, vẫn chưa tỉnh, chỉ trằn trọc trên giường. Ê-li-sê đi ra làng, vào cửa hàng mua kê, muối, bột mì và dầu. Ông tìm được một cái rìu nhỏ, bổ củi, nhóm lò. Đứa bé gái giúp ông. Ê-li-sê nấu một nồi xúp và một nồi cháo, cho mọi người ăn.

— Hết chương 1 —

Mục lục Hai ông già

  1. 1Hai ông già lên đường12 phút
  2. 2Ê-li-sê ở lại9 phút
  3. 3Ê-phim ở Đất Thánh17 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1885
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Два старика, 1885
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →