Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Hai người thầy lạ

Hoàng tử Ha-bíp và nữ hoàng quần đảo Ben-lua · Chương 1/5 · của Khuyết danh (dân gian Ả Rập)

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 8.165 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Bộ tộc Bê-nu Hê-lan có tù trưởng là Xê-la-ma,…
  2. 1:52Tù trưởng mừng rỡ ôm con vào lòng, sai…
  3. 2:53Vị thần đỡ tù trưởng dậy, quay sang nhìn…
  4. 3:16Mất người thầy mình yêu quý, Ha-bíp khóc than…
  5. 4:04Vị thần đã mở cho con con đường học…
  6. 5:29Nghề binh xưa nay vẫn cuốn hút tôi. Tôi…
  7. 6:59Chẳng bao lâu tù trưởng đã thấy đối thủ…
  8. 7:45Cái tên ấy chắc phải nói ngược mới đúng,…

Chương 1: Hai người thầy lạ

Bộ tộc Bê-nu Hê-lan có tù trưởng là Xê-la-ma, người được tiếng là vị tướng dũng mãnh và lão luyện nhất thời bấy giờ. Ông còn cai quản sáu mươi sáu bộ tộc nhỏ hơn, lúc nào cũng có một nghìn kỵ binh tinh nhuệ nhất xứ Ả Rập túc trực bên mình.

Tù trưởng Xê-la-ma tuổi đã cao mà vẫn chưa có con, ông mong có con lắm. Một đêm đang ngủ yên, ông như nghe một giọng nói bảo ông rằng vợ ông sẽ mang thai, sinh cho ông một đứa con trai.

Quả nhiên chín tháng sau, vợ ông là bà Ca-ma An-át-xơ-ráp sinh một cậu con trai đẹp như trăng rằm. Tù trưởng mừng rỡ, bế con lên tay, âu yếm, đặt tên là Ha-bíp, nghĩa là đứa con yêu dấu.

Bà Ca-ma An-át-xơ-ráp không muốn con bú sữa người ngoài, tự mình nuôi con hai năm, chăm chút con hết mực. Rồi người cha lo việc dạy dỗ. Ông cho mời nhiều thầy, trong số những người tới xin dạy, ông chọn người giỏi nhất, giao cho việc rèn lòng rèn trí cậu bé.

Người thầy giỏi ấy biết khơi hết những tư chất tốt của học trò. Cậu bé chóng biết đọc, biết viết bảy lối chữ thông dụng nhất. Bảy tuổi, cậu đã thông thạo ngữ pháp, lô-gích và mọi môn học khác. Cậu đã đọc các sử sách xưa, biết gia phả các bộ tộc Ả Rập lớn, thuộc lòng thơ của các thi sĩ đời trước, lại tự làm thơ dễ dàng. Bấy giờ người cha mời tù trưởng nhiều bộ tộc tới, đãi một bữa tiệc lớn, tặng quà hậu hĩnh. Ai cũng kinh ngạc vì trí tuệ và học vấn của cậu bé, đoán rằng sau này cậu sẽ là người phi thường. Muốn thử tài làm thơ của con trước mọi người, ông Xê-la-ma bảo con đọc mấy câu. Cậu bé đọc ngay hai câu thơ ca ngợi cha mình và người thầy đã dạy mình. Cả hội ngạc nhiên vì lời thơ đẹp và tinh tế, đều nhận rằng cậu giỏi thơ chẳng kém giỏi văn.

Tù trưởng mừng rỡ ôm con vào lòng, sai mời thầy tới. Ông đứng dậy đón thầy, nắm tay đưa ra giữa hội, nói:

— Thầy Áp-đa-la hiền tài, tôi thấm thía ơn thầy, xin được đền đáp. Tôi tặng thầy bốn con lạc đà chở đầy vàng bạc và đồ quý, lại giao cho thầy cai quản một bộ tộc. Thầy hiểu lẽ công bằng, sẽ làm cho dân dưới quyền thầy được yên vui.

— Thưa tù trưởng, Áp-đa-la đáp, tôi chẳng cần vinh hoa phú quý của cõi trần. Đã tới lúc tôi nói rõ mình là ai. Tôi không phải người, mà là một vị thần. Tôi từng giữ một địa vị cao, xử kiện cho các thần cùng loài, thì có một giọng nói từ trời bảo tôi: "Hãy tới gặp tù trưởng Xê-la-ma, người cai quản các bộ tộc Ả Rập dòng Bê-nu Hê-lan, lo việc dạy dỗ con trai ông, dạy nó mọi môn học." Tôi đã vâng lời, tới gặp ông, xin được làm thầy con ông, và đã được nhận.

Nghe thế, ông Xê-la-ma quỳ rạp dưới chân vị thần, nói:

— Thưa thần linh, tôi tạ ơn trời đã ban cho tôi ơn lớn là sai ngài tới với tôi.

Vị thần đỡ tù trưởng dậy, quay sang nhìn cậu bé Ha-bíp, vừa khóc vừa nói:

— Giá ông biết những gì sẽ xảy tới với cậu bé này khi tôi không còn ở bên cậu nữa!

— Điều gì sẽ xảy tới với nó? Xê-la-ma lo lắng hỏi.

— Tôi không được phép nói ra, vị thần đáp.

Dứt lời, thần ôm chặt cậu bé vào lòng, kêu lên một tiếng lớn, rồi biến mất.

Mất người thầy mình yêu quý, Ha-bíp khóc than thảm thiết:

— Thầy đâu rồi, người đã dạy con mọi điều con biết? Mất thầy là nỗi đau lớn nhất đời con, từ nay con chẳng còn sợ nỗi đau nào khác. Không có thầy con sống sao đây? Ngày đêm hình bóng thầy sẽ hiện trong trí con, mắt con sẽ chẳng còn biết giấc ngủ ngọt ngào, lòng con sẽ héo hon vì nhớ thương.

Tù trưởng Xê-la-ma và cả hội đều rơi nước mắt. Bỗng có một giọng nói vang lên:

— Hoàng tử Ha-bíp đừng để nỗi buồn quật ngã, mà hãy nghĩ tới số phận lớn lao của mình. Cậu sẽ phải chiến đấu, sẽ gặp hoạn nạn. Đã rèn trí rồi, nay là lúc cậu phải rèn thân cho quen gian khổ, học cách dùng binh khí, tập nghề chiến trận.

Lời ấy làm Ha-bíp vững lòng trở lại. Cậu lau nước mắt, nói với cha:

— Vị thần đã mở cho con con đường học vấn, lúc ra đi đã nhắc con bước vào con đường võ nghệ. Con đã nóng lòng muốn lập công rồi. Đẹp biết bao khi cưỡi ngựa giỏi, dùng giáo dùng gươm khéo, thắng trận trở về, cho cả thế gian vang tiếng chiến công của mình!

— Ha-bíp yêu quý của cha, Xê-la-ma ôm con nói, cha vui biết mấy khi thấy con khát khao vinh quang như thế! Rồi đây con sẽ cai quản những bộ tộc dũng mãnh nhất xứ Ả Rập, con sẽ xứng đáng đứng đầu họ. Nhưng nghề binh đòi phải học lâu, học khó. Con phải tập mọi môn rèn nên một kỵ sĩ dũng cảm. Vì thế con cần một người thầy dạy con bằng gương sáng chẳng kém bằng lời. Có khi trời, xưa nay vẫn lo việc dạy dỗ con, sẽ tự mình làm nốt việc ấy.

Các tù trưởng có mặt đều muốn được làm thầy cậu bé. Ai cũng cố ăn nói cho tù trưởng để ý, cho ông chọn mình.

Đúng lúc ấy có người vào báo một người lạ xin vào. Tù trưởng cho vào, người lạ tới trước cửa lều.

Người ấy cưỡi một con tuấn mã đẹp tuyệt, như vượt cả những con ngựa đẹp nhất xứ Ả Rập. Tấm áo giáp lưới dệt dày khít như giáp do nhà tiên tri Đa-vít làm. Tay cầm một cây chùy bằng thứ đá cứng nhất, bốn mươi chiến binh lừng danh nhất cũng không nhấc nổi. Thanh gươm cong bản rộng do một người thợ Ấn Độ rèn, ngọn giáo do tay người thợ nổi tiếng Xem-he làm. Người ấy lịch sự chào tù trưởng và mọi người, nhẹ nhàng xuống ngựa, ngồi vào hội, rồi nói với tù trưởng:

— Nghề binh xưa nay vẫn cuốn hút tôi. Tôi có chút kinh nghiệm chiến trận, nay tới đây xin dâng lên ông, và xin được dạy hoàng tử Ha-bíp. Tôi biết xin được làm thầy con ông thì có vẻ liều lĩnh. Nhưng nếu ông cho phép tôi đấu với ông một trận, có khi ông sẽ thấy tôi cũng không đến nỗi không xứng với việc vẻ vang ấy.

Các tù trưởng ngồi bên ông Xê-la-ma muốn can ông đừng nhận lời thách đấu, bảo có khi đó là một kỵ sĩ độc ác, vô lễ, hay một vị thần nào đó ghen với danh tiếng của ông, định dùng mưu gian mà thắng. Tù trưởng coi thường những lời dọa ấy, đáp:

— Hỡi kỵ sĩ dũng cảm, dáng vẻ cao quý, lời lẽ thẳng thắn trung thực của ông cho tôi biết rằng tôi có thể nhận lời thách đấu của ông mà không mất danh dự.

Tù trưởng sai mang ngay binh khí tới. Ông mặc một tấm giáp lưới cũng dày khít, cũng bền chắc như giáp của người lạ, cầm một thanh gươm cong chém được cả tảng đá, một ngọn giáo dài ba mươi thước có thể lật đổ cả ngọn núi. Rồi ông sai dắt tới con ngựa tốt nhất.

Cả bộ tộc ra khỏi lều xem trận đấu. Hai chiến binh xuống trường đấu như hai con sư tử dữ, lùi ra xa, rồi lao vào nhau nhanh như chớp. Hai ngọn giáo không chịu nổi cú va mạnh, vỡ tan từng mảnh. Hai người vẫn ngồi vững trên yên, rút gươm ngay. Những nhát chém, nhát đỡ hai bên nhanh tới mức mắt nhìn không kịp. Họ tấn công, dồn ép, né tránh, lùi lại, lần lượt mỗi người một lúc. Không trung vang tiếng binh khí chạm nhau, một đám bụi phủ kín hai người.

Chẳng bao lâu tù trưởng đã thấy đối thủ không kém mình chút nào. Ông thấy không nên thử thêm nữa, ra hiệu cho người lạ dừng. Người lạ nhảy xuống ngựa, quỳ dưới chân tù trưởng, nói:

— Tôi xin đấu với tù trưởng Xê-la-ma đâu phải mong thắng ông. Tôi chỉ mong ông thấy tôi không đến nỗi không xứng với việc tôi xin làm cho con ông.

— Hỡi kỵ sĩ dũng cảm, tù trưởng đáp, tôi chưa từng gặp đối thủ nào đáng gờm như ông. Tôi chỉ muốn tự mình thử tài người tôi sẽ giao dạy con tôi, và tôi mừng vì được gửi con vào tay một người như ông.

Nói rồi tù trưởng ra hiệu cho con ôm người kỵ sĩ lạ. Cậu bé đầy thán phục tài nghệ và lòng can đảm người ấy vừa tỏ ra, sà vào lòng người, hỏi tên.

— Ta tên là A-la-bút, người kỵ sĩ đáp.

— Cái tên ấy chắc phải nói ngược mới đúng, cậu bé nhanh nhảu đáp, vì tên ấy nghĩa là người cau có khó chịu, mà thầy thì chẳng cau có chút nào, thầy có tất cả những gì làm người ta mến. Con thấy con đã quý thầy lắm rồi.

A-la-bút mỉm cười ôm cậu bé vào lòng. Cậu nắm tay thầy, không rời nữa.

— Hỡi kỵ sĩ, tù trưởng nói, con tôi sẽ tìm thấy ở ông một người thứ hai như tôi. Tôi mong nó học được bài học của ông, thành kỵ sĩ dũng cảm nhất trong chúng tôi.

— Tôi sẽ gắng sức, A-la-bút đáp, và tôi tin chắc sẽ thành công.

Từ đó Ha-bíp miệt mài tập mọi môn rèn thân. Thầy cho cậu quen dần với gian khổ. Lòng can đảm và tài nghệ lớn lên cùng sức vóc, mỗi ngày một tiến bộ. Chẳng bao lâu, khi đã thành một chàng trai, Ha-bíp đã tỏ rõ lòng dũng cảm trong những cuộc chiến cha chàng phải đánh với các bộ tộc láng giềng. Chàng vượt sa mạc ban đêm, bất ngờ đánh úp quân thù. Có khi chàng thách đấu những người dũng cảm nhất, lần nào cũng thắng. Tiếng tăm chàng đã vang xa, người ta coi chàng là kỵ sĩ dũng cảm nhất trần đời.

— Hết chương 1 —

Mục lục Hoàng tử Ha-bíp và nữ hoàng quần đảo Ben-lua

  1. 1Hai người thầy lạ8 phút
  2. 2Nữ hoàng của ngàn hòn đảoĐang thu âm
  3. 3Kẻ phản bội giữa sa mạcĐang thu âm
  4. 4Kho báu của vua Xa-lô-môngĐang thu âm
  5. 5Biển Xanh và quần đảo Ben-luaĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKhuyết danh (dân gian Ả Rập)
Xuất bản lần đầu1806
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Nghìn lẻ một đêm, truyện hoàng tử Ha-bíp và Đô-rát An-gô-a-xơ, theo bản Pháp văn của Caussin de Perceval in trong bộ Galland, Le Normant, 1806, tập 9
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →