Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hội đồng làng là Trời

của Premchand

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 20.932 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Giu-man Sếch và An-gu Châu-đa-ri là đôi bạn thân…
  2. 3:10Hội đồng làng sẽ xử ai thắng, chuyện ấy…
  3. 4:41Con ơi, chẳng lẽ vì sợ mất lòng mà…
  4. 7:10Con ơi! Hãy sợ Thượng đế. Người phân xử…
  5. 9:40Nghe xong phán quyết, Giu-man chết lặng. Bạn mình…
  6. 14:10Ông Xa-hu cứ thế mà tức anh ách. Ông…
  7. 17:13Không, tôi phản đối gì đâu.
  8. 19:23Hội đồng làng muôn năm! Hội đồng làng là…

Giu-man Sếch và An-gu Châu-đa-ri là đôi bạn thân thiết. Hai người làm chung ruộng, chuyện vay mượn cũng có phần chung. Người này tin người kia không chút lay chuyển. Hồi Giu-man đi hành hương thánh địa Mếch-ca, ông giao nhà cho An-gu, còn An-gu mỗi lần đi xa lại gửi nhà cho Giu-man. Một người theo đạo Hồi, một người theo đạo Hindu, họ chẳng ăn chung mâm, cũng chẳng chung đạo, chỉ hợp nhau ở cái lẽ phải trong lòng. Mà gốc rễ của tình bạn cũng chỉ có thế.

Tình bạn ấy có từ thuở cả hai còn bé, khi cha của Giu-man, ông Giu-ma-ra-ti đáng kính, dạy chữ cho hai đứa. An-gu hầu thầy rất chăm, rửa không biết bao nhiêu đĩa, lau không biết bao nhiêu chén. Cái điếu cày của thầy chẳng được nghỉ lấy một phút, vì mỗi lần châm điếu là An-gu được thoát khỏi sách vở nửa tiếng đồng hồ. Cha của An-gu là người nếp cũ. Ông tin vào việc hầu hạ thầy hơn là tin vào việc học. Ông bảo chữ nghĩa đâu phải cứ đọc mà có, được gì là nhờ phúc thầy ban. Chỉ cần thầy đoái thương nhìn tới là đủ. Vì thế, nếu lời ban phúc hay sự gần gũi ông Giu-ma-ra-ti chẳng đem lại kết quả gì cho An-gu, thì ông cũng tự an ủi rằng mình đã gắng hết sức cho con học, chẳng bỏ sót điều gì. Số con không có chữ thì làm sao mà có được?

Nhưng chính ông Giu-ma-ra-ti thì chẳng tin vào phúc lành cho lắm. Ông tin vào cây roi của mình hơn. Và nhờ uy lực của cây roi ấy mà nay Giu-man được cả mấy làng quanh vùng kính nể. Văn tự cầm cố hay văn tự bán đất do Giu-man viết thì ngay viên thư ký toà án cũng chẳng dám đặt bút sửa. Người phát thư trong vùng, viên cảnh sát, tên lính hầu ở huyện, ai cũng mong được Giu-man nâng đỡ. Vậy là nếu An-gu được trọng vì của cải, thì Giu-man được mọi người kính nể chỉ nhờ cái chữ quý báu của mình.

Giu-man Sếch có một bà dì già. Bà có chút ít ruộng đất, nhưng không còn người thân nào gần gũi. Giu-man đã hứa hẹn đủ điều để bà sang tên ruộng đất cho mình. Chừng nào tờ giấy tặng cho chưa vào sổ, thì bà dì được đón tiếp kính cẩn hết mực, được cho ăn toàn của ngon, chè ngọt cơm thập cẩm cứ như mưa trút. Nhưng con dấu vào sổ đóng xuống thì cũng như đóng dấu chấm hết cho mọi sự chiều chuộng ấy. Vợ Giu-man là Ka-ri-man bắt đầu dọn kèm với bánh mì những món canh cay xè bằng lời lẽ chua cay. Giu-man Sếch cũng trở nên lạnh lùng. Giờ ngày nào bà dì tội nghiệp cũng phải nghe những câu đại loại:

— Chẳng biết mụ già còn sống tới bao giờ. Cho có hai ba sào đất bạc màu mà cứ làm như đã mua đứt mình rồi. Không có món đậu phi hành thì nuốt không trôi bánh. Tiền đổ vào bụng mụ từng ấy thì mua được cả một cái làng rồi.

Bà dì nghe và nhịn được ít lâu, tới khi không nhịn nổi nữa thì mới kêu với Giu-man. Giu-man không thấy nên xen vào việc cai quản của bà chủ nhà. Lại thêm ít lâu nữa, mọi chuyện cứ thế khóc lóc mà trôi. Cuối cùng một hôm bà dì nói với Giu-man:

— Con ơi! Ta không sống chung với con được nữa. Con cứ đưa tiền cho ta, ta tự nấu lấy mà ăn riêng.

Giu-man trơ tráo đáp:

— Tiền chứ có phải quả trên cây đâu mà hái?

Bà dì nhỏ nhẹ:

— Thế ta không cần lấy chút cơm khô cháo hẩm mà ăn hay sao?

Giu-man nghiêm giọng:

— Thì ai mà ngờ dì sống dai như thể đã vật thắng thần chết.

Bà dì nổi giận. Bà doạ sẽ đưa chuyện ra hội đồng làng. Giu-man cười, như người đi săn cười thầm khi thấy con nai đang đi về phía lưới. Ông bảo:

— Phải, dì cứ đưa ra hội đồng đi. Phân xử cho xong. Tôi cũng chẳng ưa cái cảnh lục đục ngày đêm này.

Hội đồng làng sẽ xử ai thắng, chuyện ấy Giu-man chẳng mảy may nghi ngờ. Quanh vùng có ai mà không mắc ơn ông? Có ai dám chuốc lấy ông làm kẻ thù? Ai đủ sức đương đầu với ông? Thiên thần trên trời thì đâu có xuống ngồi hội đồng làng.

Mấy ngày sau đó, bà dì già chống gậy lặn lội khắp các làng quanh vùng. Lưng bà còng gập như cánh cung, mỗi bước đi đều khó nhọc. Nhưng chuyện đã tới nước này, phải cho ra lẽ.

Hiếm có người tử tế nào mà bà không khóc lóc kể khổ. Có người ừ hữ cho qua chuyện. Có người chửi cái thời buổi bất công. Có người bảo:

— Chân đã thõng xuống mồ rồi, nay chết mai chôn, mà vẫn còn tham. Giờ bà còn cần gì nữa? Có bánh thì ăn, rồi niệm danh Đấng A-la. Ruộng nương với bà còn làm gì?

Lại có những vị được dịp khoái chí cười cợt. Lưng còng, miệng móm, tóc bạc như xơ gai, đủ cả ngần ấy thứ thì sao mà nhịn cười được? Những người công bằng, nhân hậu, thương kẻ khốn cùng, chịu chăm chú nghe nỗi khổ của người đàn bà yếu đuối mà an ủi bà, thì hiếm lắm. Đi một vòng khắp nơi, cuối cùng người đàn bà tội nghiệp tìm tới An-gu Châu-đa-ri. Bà buông cây gậy xuống, thở một hơi, rồi nói:

— Con ơi, con cũng tới hội đồng của ta một lát nhé.

An-gu đáp:

— Dì gọi con tới làm gì? Người mấy làng chẳng tới đông rồi còn gì.

Bà dì nói:

— Nỗi khổ của ta thì ta đã khóc với hết thảy mọi người rồi. Tới hay không là quyền của họ.

An-gu bảo:

— Tới thì con cũng tới, nhưng ở hội đồng con sẽ không mở miệng đâu.

— Sao thế con?

— Biết trả lời dì sao bây giờ? Tuỳ con thôi. Giu-man là bạn cũ của con. Con không thể làm mất lòng anh ấy.

Bà dì hỏi:

— Con ơi, chẳng lẽ vì sợ mất lòng mà con không nói lời ngay thẳng sao?

Lương tri trong ta khi ngủ thì có bị cướp sạch cũng chẳng hay, nhưng nghe tiếng thách thức là nó tỉnh dậy, và lúc ấy chẳng ai thắng được nó. An-gu không trả lời được câu hỏi ấy. Nhưng trong lòng ông, câu nói cứ vang mãi:

"Chẳng lẽ vì sợ mất lòng mà con không nói lời ngay thẳng sao?"

Chiều tối, hội đồng họp dưới một gốc cây. Giu-man Sếch đã trải chiếu từ trước, lại sắp sẵn trầu cau, bạch đậu khấu, điếu cày, thuốc lào. Còn bản thân ông thì ngồi cùng An-gu Châu-đa-ri ở một chỗ hơi xa. Hễ có ai tới dự hội đồng, ông lại chào khẽ một tiếng để đón. Khi mặt trời lặn, và hội đồng ríu rít của lũ chim đã họp xong trên cành, thì ở dưới này hội đồng của người cũng bắt đầu. Từng tấc chiếu đã kín người, nhưng phần lớn là người tới xem. Trong số những vị được mời thì chỉ có những ai muốn trả mối hận nào đó với Giu-man là tới. Ở một góc lửa đang cháy. Anh thợ cạo cuống quýt nhồi thuốc vào điếu. Khó mà biết khói bốc lên từ đống phân bò khô đang âm ỉ hay từ những hơi điếu nhiều hơn. Lũ trẻ chạy nhảy khắp nơi, đứa chửi nhau, đứa khóc. Bốn phía ồn ào. Chó trong làng tưởng đám đông này là có cỗ, kéo tới từng bầy.

Các vị trong hội đồng ngồi xuống, thì bà dì già đứng lên thưa:

— Thưa các vị! Ba năm trước tôi đã viết giấy để lại hết ruộng đất cho đứa cháu. Chắc các vị cũng biết cả. Giu-man đã nhận lời nuôi tôi cơm áo cho tới lúc chết. Một năm trời tôi khóc lóc mà sống với nó, nhưng giờ thì không chịu nổi cái cảnh khóc ngày khóc đêm nữa. Tôi chẳng được miếng ăn no bụng, cũng chẳng có manh áo che thân. Tôi là goá phụ không nơi nương tựa. Kiện tụng cửa quan thì tôi không kham nổi. Ngoài các vị ra thì tôi biết kể khổ với ai. Các vị chỉ đường nào, tôi đi đường ấy. Nếu các vị thấy tôi có lỗi, cứ tát vào mặt tôi. Nếu thấy Giu-man sai, thì khuyên bảo nó. Sao nó nỡ chuốc lấy tiếng thở than của một kẻ bơ vơ? Các vị phán thế nào, tôi xin đội lên đầu.

Ông Ram-đan Mi-sơ-ra, người có mấy tá điền bị Giu-man lôi kéo về làng mình, lên tiếng:

— Ông Giu-man, ông bầu ai làm người phân xử? Bàn cho xong ngay từ bây giờ đi. Rồi các vị phân xử nói gì thì phải nghe nấy.

Lúc ấy Giu-man thấy trong số người dự họp toàn là những kẻ vì lẽ này lẽ khác mà có hiềm khích với mình. Ông nói:

— Lời người phân xử là lời Đấng A-la. Dì muốn bầu ai thì bầu, tôi không có gì phản đối.

Bà dì kêu lên:

— Hỡi con chiên của Đấng A-la! Sao không nói ra tên những người phân xử đi? Để ta cũng được biết với chứ.

Giu-man giận dữ:

— Giờ dì đừng bắt tôi mở miệng. Dì đang gặp thời mà, muốn bầu ai thì bầu.

Bà dì hiểu cái ý xỏ xiên của Giu-man. Bà nói:

— Con ơi! Hãy sợ Thượng đế. Người phân xử chẳng là bạn ai, cũng chẳng là kẻ thù ai. Con nói gì lạ thế? Mà nếu con chẳng tin ai, thì thôi, An-gu Châu-đa-ri thì con tin chứ? Đấy, ta bầu ngay An-gu làm trưởng hội đồng.

Giu-man Sếch mừng nở từng khúc ruột, nhưng giấu nỗi vui, nói:

— An-gu Châu-đa-ri cũng được. Với tôi, ông Ram-đan Mi-sơ-ra hay An-gu cũng như nhau.

An-gu chẳng muốn dây vào chuyện rắc rối này. Ông tìm cách lảng:

— Dì ơi, dì biết con với Giu-man là bạn thân mà.

Bà dì nghiêm giọng:

— Con ơi! Chẳng ai vì bạn mà bán rẻ lương tâm. Trong lòng người phân xử có Thượng đế ngự. Lời nói ra từ miệng người phân xử là lời của Thượng đế.

An-gu Châu-đa-ri thành trưởng hội đồng. Ông Ram-đan Mi-sơ-ra và những kẻ không ưa Giu-man khác thầm rủa bà già không tiếc lời.

An-gu Châu-đa-ri nói:

— Anh Giu-man! Tôi với anh là bạn cũ. Lúc tôi cần, anh đã giúp tôi, còn tôi cũng hết lòng giúp anh những gì có thể. Nhưng lúc này, anh với bà dì trong mắt tôi ngang nhau. Anh có gì muốn thưa với hội đồng thì cứ thưa.

Giu-man tin chắc phen này phần thắng đã thuộc về mình. An-gu chỉ nói cho có lệ thôi. Vì thế ông bình thản nói:

— Thưa các vị! Ba năm trước dì tôi đã làm giấy cho tôi ruộng đất của dì. Tôi đã nhận lời nuôi dì cơm áo cho tới trọn đời. Có Thượng đế chứng giám, xưa nay tôi chưa để dì phải khổ điều gì. Tôi coi dì như mẹ tôi. Hầu hạ dì là bổn phận của tôi. Nhưng đàn bà với nhau thì hay xích mích, chuyện ấy tôi làm sao được? Dì tôi lại đòi tôi tiền tiêu hằng tháng riêng. Ruộng đất có bao nhiêu thì các vị đều biết cả. Hoa lợi chẳng được là bao để tôi đưa thêm tiền tháng. Mà trong giấy tặng cho cũng chẳng ghi khoản tiền tháng nào, không thì tôi đã chẳng dại gì dây vào chuyện rắc rối này. Tôi chỉ xin thưa thế. Giờ các vị muốn xử thế nào là quyền các vị.

An-gu Châu-đa-ri làm việc với toà án luôn, nên là người rất thạo luật. Ông bắt đầu vặn hỏi Giu-man. Mỗi câu hỏi như một nhát búa giáng vào tim Giu-man. Ông Ram-đan Mi-sơ-ra nghe những câu hỏi ấy mà mê tít. Giu-man thì kinh ngạc, không hiểu An-gu bị làm sao. Vừa mới đây thôi nó còn ngồi bên mình nói bao nhiêu chuyện. Mới có chốc lát mà nó đã thay lòng đổi dạ tới mức quyết đào tận gốc mình. Chẳng biết nó đang trả mối hận nào từ bao giờ? Lẽ nào tình bạn bấy nhiêu năm chẳng còn chút tác dụng gì?

Giu-man Sếch còn đang rối bời như thế thì An-gu đã tuyên án:

— Anh Giu-man Sếch! Hội đồng đã xét kỹ việc này. Hội đồng thấy hợp lẽ phải là bà dì được nhận tiền tiêu hằng tháng. Chúng tôi cho rằng ruộng đất của bà dì chắc chắn sinh đủ hoa lợi để đưa tiền tháng cho bà. Phán quyết của chúng tôi là thế. Nếu Giu-man không chịu đưa tiền, thì coi như giấy tặng cho bị huỷ bỏ.

Nghe xong phán quyết, Giu-man chết lặng. Bạn mình mà lại hành xử như kẻ thù, kề dao vào cổ mình. Thế thì gọi là gì nếu không phải là thời vận đổi thay? Người mình tin trọn vẹn, tới lúc cần lại phản mình. Chính những lúc như thế mới thử được bạn thật bạn giả. Tình bạn thời mạt pháp là thế đấy. Nếu người đời không giả dối lừa lọc như vậy, thì sao xứ sở lại lắm tai ương? Nào dịch tả, nào dịch hạch, ấy đều là hình phạt cho những việc làm xấu xa.

Nhưng ông Ram-đan Mi-sơ-ra và những vị phân xử khác thì hết lời khen An-gu Châu-đa-ri chí công vô tư. Họ bảo:

— Thế mới gọi là hội đồng. Sữa ra sữa, nước ra nước. Bạn bè là chuyện bạn bè, nhưng giữ đạo lý mới là điều chính. Trái đất đứng vững được là nhờ những người ngay thẳng như thế, không thì nó đã chìm xuống âm phủ từ lâu rồi.

Phán quyết ấy làm lung lay tận gốc tình bạn giữa An-gu và Giu-man. Giờ không ai còn thấy hai người đi cùng nhau trò chuyện nữa. Cái cây tình bạn lâu năm ấy, chỉ một cơn gió nhẹ của sự thật cũng không chịu nổi. Quả thật, nó đã mọc trên nền cát.

Giờ hai người lại khách sáo với nhau nhiều hơn. Gặp nhau lại càng niềm nở. Họ vẫn gặp nhau, nhưng như lưỡi gươm gặp tấm khiên.

Trong lòng Giu-man, sự nham hiểm của bạn cứ ngày đêm day dứt. Lúc nào ông cũng chỉ nghĩ làm sao có dịp trả thù.

Việc tốt thì lâu thành, còn việc xấu thì không thế. Giu-man cũng sớm có dịp trả thù. Năm trước, An-gu Châu-đa-ri mua ở hội chợ Ba-tê-xa về một đôi bò đực rất đẹp. Bò giống miền tây, sừng to dài, đẹp lắm. Hàng tháng trời người các làng quanh vùng kéo tới xem. Trời xui đất khiến thế nào, một tháng sau vụ hội đồng xử việc của Giu-man thì một con trong đôi bò ấy chết. Giu-man bảo bạn bè:

— Đấy là quả báo của kẻ lật lọng. Con người có thể làm gì thì làm, nhưng Thượng đế thấy hết tốt xấu.

An-gu ngờ rằng Giu-man đã cho người bỏ thuốc độc con bò. Bà vợ An-gu cũng đổ hết tai hoạ ấy lên đầu Giu-man. Bà bảo:

— Thằng Giu-man đã giở trò gì rồi.

Một hôm, bà vợ An-gu với Ka-ri-man cãi nhau một trận nảy lửa về chuyện ấy. Hai bà tuôn ra cả một dòng sông chữ nghĩa, nào châm chọc, nào nói cạnh, nói xa, ví von đủ kiểu. Giu-man phải vất vả lắm mới dàn hoà được. Ông mắng vợ một trận, kéo vợ ra khỏi bãi chiến trường. Còn bên kia, An-gu Châu-đa-ri thì khuyên vợ bằng cây gậy đầy lý lẽ của mình.

Giờ một con bò lẻ thì còn làm được việc gì? Tìm mãi chẳng được con nào bắt cặp với nó. Cuối cùng đành quyết bán đi. Trong làng có ông Xam-giu Xa-hu, làm nghề đánh xe thồ hàng. Ông chở đường thô với bơ từ làng ra chợ huyện, rồi từ chợ chở dầu với muối về làng bán. Ông để ý con bò này. Ông nghĩ, có con bò này thì một ngày chạy ba chuyến dễ như chơi. Dạo này chạy được một chuyến cũng khó. Ông xem bò, thắng vào xe chạy thử, xem xoáy lông, mặc cả giá, rồi dắt về buộc ngay trước cửa. Hai bên hẹn trong một tháng thì trả tiền. An-gu cũng đang cần bán nên chẳng quản bị thiệt.

Có được con bò mới khoẻ, Xam-giu Xa-hu ra sức thúc. Ngày ông chạy ba bốn chuyến. Chẳng lo cỏ, chẳng lo nước, chỉ cốt chạy cho được nhiều chuyến. Ra tới chợ thì ném cho nó tí rơm khô. Con vật tội nghiệp chưa kịp thở đã lại bị đóng vào xe. Hồi còn ở nhà An-gu Châu-đa-ri, nó sống sung sướng an nhàn. Lâu lâu mới bị thắng vào cỗ xe nhẹ, lúc ấy nó nhảy nhót tung tăng, chạy một mạch hàng dặm. Ở đó, ông bò được ăn khẩu phần riêng, nước sạch, đậu nghiền, rơm trộn khô dầu, chưa hết, thỉnh thoảng còn được nếm cả vị bơ. Sáng tối có người chải lông, lau mình, vuốt ve. Sướng như thế, nay lại khổ như thế này, ngày đêm làm quần quật. Chỉ một tháng, nó như bị nghiền nát. Vừa trông thấy cái ách xe là máu nó như khô lại. Mỗi bước đi đều khó nhọc. Xương sườn nhô cả ra. Nhưng nó vốn là con vật có khí khái, không chịu được roi vọt.

Một hôm, tới chuyến thứ tư, ông Xa-hu chất hàng nặng gấp đôi. Con vật mệt nhoài cả ngày, chân chẳng nhấc lên nổi. Thế mà ông Xa-hu còn quất roi vun vút. Thế là con bò dốc hết gan ruột mà kéo. Nó chạy được một quãng, muốn dừng thở một chút, nhưng ông Xa-hu đang lo về nhà cho sớm. Vì thế ông lại quất thêm mấy roi hết sức tàn nhẫn. Con bò gắng thêm một lần nữa. Nhưng lần này sức nó đã cạn. Nó ngã xuống đất, ngã một lần là không bao giờ dậy nữa. Ông Xa-hu đánh mãi, nắm chân kéo, thọc que vào lỗ mũi nó. Nhưng con vật đã chết thì đâu còn dậy được? Lúc ấy ông Xa-hu mới chột dạ. Ông nhìn kỹ con bò, tháo nó ra khỏi xe, rồi nghĩ cách đưa xe về nhà. Ông kêu gào mãi, nhưng đường làng cũng như đôi mắt trẻ con, trời vừa chạng vạng là đã khép lại. Chẳng thấy bóng ai. Quanh đó cũng chẳng có làng nào. Giận quá, ông lại quất thêm mấy roi vào xác con bò, rồi rủa:

— Đồ khốn! Mày đã phải chết thì về tới nhà rồi hẵng chết. Đồ chết tiệt, chết ngay giữa đường thế này, giờ ai kéo xe?

Ông Xa-hu cứ thế mà tức anh ách. Ông đã bán được mấy bao đường thô, mấy thùng bơ, trong thắt lưng còn buộc hai ba trăm ru-pi. Trên xe lại còn mấy bao muối. Vì thế ông không bỏ xe mà đi được. Đành phải nằm ngay trên xe, quyết thức trắng đêm ở đó. Ông rít điếu, hát nghêu ngao, lại rít điếu. Cứ thế ông dỗ cơn buồn ngủ tới nửa đêm, cứ tưởng mình vẫn thức. Nhưng tới lúc rạng sáng giật mình tỉnh dậy, sờ vào thắt lưng thì túi tiền đã mất. Hốt hoảng nhìn quanh, thấy mấy thùng dầu cũng biến đâu mất. Ông đau đớn đấm đầu, lăn ra mà kêu khóc. Sáng ra ông khóc lóc thảm thiết về tới nhà. Bà Xa-hu nghe cái tin dữ ấy, thoạt tiên thì khóc, sau thì chửi An-gu Châu-đa-ri:

— Cái đồ trời đánh, bán cho cái con bò xui xẻo, mất sạch tiền dành dụm cả đời!

Chuyện ấy xảy ra đã mấy tháng. Mỗi lần An-gu đòi tiền bò, thì cả ông Xa-hu lẫn bà Xa-hu lại xông ra như hai con chó dữ, nói càn nói bậy:

— Hay nhỉ! Ở đây mất sạch tiền dành dụm cả đời, tan cửa nát nhà, thế mà ông ta chỉ lo đòi tiền. Bán cho một con bò sắp chết, lại còn đòi tiền. Ném cát vào mắt người ta, buộc vào cổ người ta một con bò tai hoạ, coi người ta là đồ ngốc. Chúng tôi cũng là con nhà buôn đấy, đồ ngốc như thế thì ông đi chỗ khác mà tìm. Muốn lấy tiền thì trước hết ra vũng nước nào mà rửa mặt đã. Không bằng lòng thì cứ dắt con bò nhà tôi về mà dùng. Thay vì một tháng, cứ thắng nó hai tháng. Tiền với nong gì?

Kẻ mong cho Châu-đa-ri gặp chuyện xấu thì nhiều. Những lúc như thế họ cũng xúm lại, phụ hoạ cho những lời lèm bèm của ông Xa-hu. Bị mắng xối xả, ông Châu-đa-ri tội nghiệp đành bẽ mặt quay về. Nhưng mất trắng một trăm rưỡi ru-pi như thế thì đâu có dễ. Có một lần ông cũng nổi nóng. Ông Xa-hu nổi xung, chạy vào nhà tìm gậy. Thế là bà Xa-hu ra trận. Cãi qua cãi lại, sắp tới mức xông vào đánh nhau. Bà Xa-hu chạy vào nhà, đóng sập cửa. Nghe ầm ĩ, những người tử tế trong làng kéo tới. Họ khuyên giải cả hai bên, dỗ ông Xa-hu ra khỏi nhà. Rồi họ góp ý rằng cứ vỡ đầu chảy máu thế này thì chẳng xong. Đưa ra hội đồng làng đi. Hội đồng định thế nào thì chịu thế. Ông Xa-hu bằng lòng. An-gu cũng ưng thuận.

Người ta bắt đầu chuẩn bị họp hội đồng. Hai bên ra sức kéo phe kéo cánh. Ba hôm sau, hội đồng lại họp dưới gốc cây cũ. Vẫn là lúc chiều tối. Ngoài đồng, lũ quạ đang họp hội đồng. Việc chúng tranh cãi là chúng có quyền với những quả đậu Hà Lan hay không, và chừng nào việc ấy chưa ngã ngũ thì hễ người canh đồng hô đuổi, chúng thấy cần phải kêu inh ỏi phản đối. Trên cành cây, hội đồng nhà vẹt đang bàn chuyện con người lấy quyền gì mà gọi chúng là loài bạc bẽo, trong khi chính con người lừa cả bạn mình cũng chẳng ngượng ngùng.

Hội đồng ngồi xong, ông Ram-đan Mi-sơ-ra nói:

— Còn chần chừ gì nữa? Phải bầu người phân xử đi chứ. Nói đi ông Châu-đa-ri, ông bầu ai?

An-gu nhún nhường đáp:

— Cứ để ông Xam-giu Xa-hu chọn.

Xam-giu đứng dậy, dõng dạc nói:

— Phía tôi xin bầu Giu-man Sếch.

Vừa nghe tên Giu-man, tim An-gu Châu-đa-ri đập thình thịch, như bị ai bất ngờ tát một cái. Ông Ram-đan là bạn An-gu. Ông hiểu ngay chuyện. Ông hỏi:

— Sao, ông Châu-đa-ri, ông không phản đối gì chứ?

Châu-đa-ri thất vọng đáp:

— Không, tôi phản đối gì đâu.

Ý thức về trách nhiệm của mình thường sửa được những thói hẹp hòi của ta. Khi ta lạc đường lang thang, chính ý thức ấy trở thành người dẫn đường đáng tin cậy.

Ông chủ báo ngồi trong căn nhà yên tĩnh của mình, mạnh bạo và tự do biết bao khi dùng ngòi bút sắc bén mà tấn công nội các. Nhưng cũng có lúc chính ông được vào nội các. Vừa đặt chân vào toà nhà nội các, ngòi bút ông bỗng trở nên thấu đáo, chín chắn, công minh biết bao. Ấy là nhờ ý thức trách nhiệm. Chàng trai trẻ thời trai tráng ngông nghênh biết bao nhiêu. Cha mẹ lo cho anh biết bao nhiêu, coi anh là vết nhơ của dòng họ. Thế mà chỉ ít lâu sau, gánh gia đình vừa đặt lên vai, chàng trai bốc đồng tán loạn ấy bỗng trở nên kiên nhẫn, điềm tĩnh lạ thường. Đó cũng là kết quả của ý thức trách nhiệm.

Trong lòng Giu-man Sếch cũng thế, vừa ngồi vào chỗ cao của trưởng hội đồng là trỗi dậy ý thức về trách nhiệm của mình. Ông nghĩ: "Lúc này ta đang ngồi trên ghế cao nhất của công lý và đạo lý. Lời nào thốt ra từ miệng ta lúc này cũng như lời của thần thánh, mà trong lời thần thánh thì tuyệt đối không được lẫn chút tư tình nào của ta. Ta không được lệch khỏi sự thật dù chỉ bằng hạt lúa."

Các vị phân xử bắt đầu hỏi han hai bên. Hồi lâu, hai phe cứ ra sức bênh vực phía mình. Về điểm chính thì ai cũng nhất trí rằng Xam-giu phải trả tiền con bò. Nhưng có hai vị muốn cho ông được bớt, vì con bò chết khiến ông bị thiệt. Ngược lại, hai vị khác lại muốn ngoài tiền bò còn phạt Xam-giu thêm, để từ nay không ai dám tàn nhẫn với súc vật như thế nữa. Cuối cùng Giu-man tuyên án:

— Ông An-gu Châu-đa-ri và ông Xam-giu Xa-hu! Hội đồng đã xét kỹ việc của hai ông. Xam-giu phải trả đủ tiền con bò mới là phải lẽ. Lúc ông ấy nhận con bò, con bò chẳng có bệnh tật gì. Nếu ngay lúc ấy mà trả tiền thì nay Xam-giu đã chẳng đòi trả lại bò. Con bò chết chỉ vì bị bắt làm việc quá sức, mà cỏ nước lại không được lo cho tử tế.

Ông Ram-đan Mi-sơ-ra nói:

— Xam-giu cố tình làm chết con bò. Vì thế phải phạt ông ấy.

Giu-man đáp:

— Đó là chuyện khác. Chúng ta không xét tới.

Ông Giắc-đu Xa-hu nói:

— Nên cho Xam-giu được bớt phần nào.

Giu-man đáp:

— Việc ấy tuỳ ông An-gu Châu-đa-ri. Ông ấy bớt cho thì là lòng tốt của ông ấy.

An-gu Châu-đa-ri sướng không để đâu cho hết. Ông đứng bật dậy, hô to:

— Hội đồng làng muôn năm! Hội đồng làng là Trời!

Bốn phía vang lên tiếng đáp:

— Hội đồng làng là Trời!

Ai nấy đều khen lẽ công bằng của Giu-man:

— Thế mới gọi là công lý. Việc này đâu phải việc của người, trong người phân xử có Trời ngự. Ấy là uy linh của Trời. Trước mặt người phân xử, ai đổi được giả thành thật?

Lát sau Giu-man tới bên An-gu, ôm chầm lấy ông mà nói:

— Anh ơi, từ hôm anh xử việc của tôi, tôi đã thành kẻ thù muốn lấy mạng anh. Nhưng hôm nay tôi mới biết, ngồi lên ghế cao ấy rồi thì chẳng ai là bạn ai, cũng chẳng ai là thù ai. Ngoài lẽ công bằng ra, người ta chẳng còn thấy gì khác! Hôm nay tôi tin chắc rằng qua miệng người phân xử là Thượng đế nói.

An-gu khóc. Dòng nước mắt ấy rửa sạch cặn bẩn trong lòng cả hai người. Dây leo tình bạn đã héo úa nay lại xanh tươi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảPremchand (1880 – 1936)
Năm mất1936
Xuất bản lần đầu1917
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Hindi Panch Parmeshwar của Premchand, trong tập Sapta Saroj, Hindi Pustak Agency, 1917
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →