Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Những đêm khát nước

Hoóc-la · Chương 1/3 · của Guy de Maupassant

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 17.132 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày 8 tháng 5. Một ngày tuyệt diệu! Tôi…
  2. 3:29Cái bí ẩn của thế giới Vô hình mới…
  3. 7:30Và bỗng nhiên tôi tỉnh giấc, hoảng loạn, mồ…
  4. 9:44Ngày 2 tháng 7. Tôi đã về. Tôi khỏi…
  5. 12:54Ông thì thầm: "Tôi không biết."
  6. 14:29Ngày 4 tháng 7. Rõ ràng là tôi lại…
  7. 17:21Nhưng có phải tôi không? Có phải tôi không?…
  8. 18:17Giấc ngủ không cưỡng nổi lại chộp lấy tôi,…

Chương 1: Những đêm khát nước

Ngày 8 tháng 5. Một ngày tuyệt diệu! Tôi đã nằm dài suốt buổi sáng trên bãi cỏ trước nhà, dưới cây ngô đồng khổng lồ che phủ, bao bọc và rợp bóng cả ngôi nhà. Tôi yêu vùng đất này, và tôi thích sống ở đây vì tôi có gốc rễ ở đây, những cái rễ sâu và mảnh mai buộc một con người vào mảnh đất nơi tổ tiên mình đã sinh ra và đã mất đi, buộc anh ta vào những gì người ta nghĩ và những gì người ta ăn, vào phong tục cũng như món ăn, vào lối nói địa phương, vào giọng điệu của người nông dân, vào mùi đất, mùi làng xóm và mùi của chính không khí.

Tôi yêu ngôi nhà nơi tôi lớn lên. Từ cửa sổ, tôi nhìn thấy sông Xen chảy dọc theo khu vườn, phía bên kia con đường, gần như ngay trong nhà tôi, dòng sông Xen to và rộng chảy từ Ru-ăng ra Le Ha-vrơ, phủ đầy những con tàu qua lại.

Bên trái, đằng kia, là Ru-ăng, thành phố rộng lớn với những mái nhà xanh, dưới cả một đám đông những ngọn tháp chuông nhọn hoắt kiểu Gô-tích. Chúng nhiều không đếm xuể, mảnh mai hay đồ sộ, trên cùng là mũi tháp bằng gang của nhà thờ lớn. Những ngọn tháp đầy chuông, ngân vang trong không khí xanh biếc những buổi sáng đẹp trời, gửi đến tận chỗ tôi tiếng ngân sắt êm ái và xa xăm, khúc hát đồng mà làn gió mang tới, lúc mạnh lúc yếu, tuỳ theo gió thức dậy hay thiu thiu ngủ.

Sáng nay trời mới dễ chịu làm sao!

Khoảng mười một giờ, một đoàn tàu dài, do một chiếc tàu kéo bé như con ruồi lôi đi, nó vừa rên lên vì nặng nhọc vừa nhả ra một làn khói dày đặc, diễu qua trước hàng rào nhà tôi.

Sau hai chiếc thuyền buồm Anh có lá cờ đỏ phấp phới trên nền trời, là một chiếc tàu ba cột buồm của Bra-xin tuyệt đẹp, trắng toát, sạch sẽ và bóng loáng. Tôi giơ tay chào nó, chẳng hiểu vì sao, chỉ vì nhìn con tàu ấy tôi thấy vui quá.

Ngày 12 tháng 5. Mấy hôm nay tôi hơi sốt. Tôi thấy người khó chịu, hay đúng hơn là thấy buồn.

Những ảnh hưởng bí ẩn biến hạnh phúc của ta thành chán nản, biến niềm tin thành tuyệt vọng ấy từ đâu ra? Tưởng như không khí, cái không khí vô hình kia, đầy những Quyền lực không thể biết được, và ta phải chịu sự gần gũi bí ẩn của chúng. Tôi thức dậy, lòng đầy vui vẻ, cổ họng muốn hát. Tại sao? Tôi đi xuống dọc bờ sông, và bỗng nhiên, sau một cuộc dạo chơi ngắn, tôi trở về lòng buồn rười rượi, như thể có tai hoạ gì đang chờ tôi ở nhà. Tại sao? Có phải một cơn rùng mình vì lạnh lướt qua da đã làm rung động thần kinh tôi và làm u ám tâm hồn tôi? Có phải hình dáng những đám mây, hay màu của ngày, màu của vạn vật, cái màu luôn thay đổi ấy, khi lọt qua mắt tôi đã làm xáo trộn ý nghĩ của tôi? Ai mà biết được? Tất cả những gì bao quanh ta, tất cả những gì ta thấy mà không nhìn, tất cả những gì ta lướt qua mà không biết, tất cả những gì ta chạm vào mà không sờ nắn, tất cả những gì ta gặp mà không phân biệt, đều tác động lên ta, lên các giác quan của ta, và qua chúng, lên ý nghĩ của ta, lên chính trái tim ta, một cách nhanh chóng, đáng kinh ngạc và không sao giải thích được.

Cái bí ẩn của thế giới Vô hình mới sâu thẳm làm sao! Ta không thể dò thấu nó bằng những giác quan khốn khổ của mình. Bằng đôi mắt không biết nhìn cái quá nhỏ, cái quá lớn, cái quá gần, cái quá xa, không nhìn thấy cư dân của một vì sao, cũng chẳng thấy cư dân của một giọt nước. Bằng đôi tai lừa dối ta, vì chúng truyền cho ta những rung động của không khí dưới dạng âm thanh. Chúng là những nàng tiên làm nên phép màu biến chuyển động thành tiếng động, và nhờ phép biến hoá ấy mà sinh ra âm nhạc, làm cho sự xao động câm lặng của thiên nhiên cất lên tiếng hát. Bằng cái mũi kém hơn mũi chó. Bằng cái lưỡi khó khăn lắm mới đoán được tuổi một chai rượu vang!

Ôi, giá như ta có những giác quan khác làm được những phép màu khác cho ta, thì ta còn khám phá được biết bao điều quanh mình!

Ngày 16 tháng 5. Tôi ốm thật rồi! Tháng trước tôi còn khoẻ thế cơ mà! Tôi bị sốt, một cơn sốt khủng khiếp, hay đúng hơn là một cơn bồn chồn như lên cơn sốt, làm tâm hồn tôi cũng đau đớn như thân xác. Tôi luôn có cái cảm giác ghê sợ về một mối hiểm nguy đang rình rập, cái linh cảm về một tai hoạ sắp đến hay cái chết đang tới gần, cái điềm báo hẳn là dấu hiệu của một căn bệnh chưa biết, đang nảy mầm trong máu thịt.

Ngày 18 tháng 5. Tôi vừa đi khám bác sĩ, vì tôi không ngủ được nữa. Ông thấy mạch tôi nhanh, đồng tử giãn, thần kinh căng thẳng, nhưng không có triệu chứng gì đáng lo. Tôi phải chịu tắm vòi sen và uống thuốc bờ-rôm.

Ngày 25 tháng 5. Không có gì thay đổi! Tình trạng của tôi thật kỳ quặc. Càng gần tối, một nỗi lo không sao hiểu nổi càng xâm chiếm tôi, như thể màn đêm đang giấu cho tôi một mối đe doạ khủng khiếp. Tôi ăn tối vội vàng, rồi cố đọc sách. Nhưng tôi không hiểu các chữ, tôi chỉ nhìn ra các con chữ một cách lờ mờ. Thế là tôi đi đi lại lại trong phòng khách, bị đè nặng bởi một nỗi sợ mơ hồ không cưỡng nổi, nỗi sợ giấc ngủ và nỗi sợ cái giường.

Khoảng mười giờ, tôi lên phòng ngủ. Vừa bước vào, tôi khoá hai vòng, cài then. Tôi sợ. Sợ cái gì? Trước đây tôi có sợ gì đâu. Tôi mở tủ, nhìn xuống gầm giường, tôi lắng nghe, lắng nghe. Nghe cái gì? Thật lạ lùng khi chỉ một chút khó ở, có lẽ là một chút rối loạn tuần hoàn, một sợi dây thần kinh bị kích thích, một chút sung huyết, một xáo trộn nhỏ xíu trong cái bộ máy sống vừa không hoàn hảo vừa mỏng manh của chúng ta, lại có thể biến người vui vẻ nhất thành kẻ u sầu, người can đảm nhất thành kẻ hèn nhát. Rồi tôi đi nằm, và tôi chờ giấc ngủ như người ta chờ đao phủ. Tôi chờ nó và kinh hãi khi nó đến. Tim tôi đập thình thịch, chân tôi run run, cả người tôi giật nảy trong hơi ấm của chăn đệm, cho đến lúc bỗng nhiên tôi rơi vào giấc ngủ, như người ta rơi xuống một vực nước tù đọng để chết đuối trong đó. Tôi không còn cảm thấy nó đến như ngày trước, cái giấc ngủ phản trắc ấy, nấp sát bên tôi, rình tôi, sắp tóm lấy đầu tôi, nhắm mắt tôi lại, xoá tôi đi.

Tôi ngủ, lâu lắm, hai hay ba tiếng, rồi một giấc mơ, không, một cơn ác mộng siết lấy tôi. Tôi biết rõ là tôi đang nằm và đang ngủ, tôi cảm thấy và tôi biết. Và tôi cũng cảm thấy có ai đó đến gần tôi, nhìn tôi, sờ nắn tôi, trèo lên giường tôi, quỳ lên ngực tôi, đưa hai tay nắm lấy cổ tôi và siết, siết hết sức để bóp chết tôi.

Tôi thì vùng vẫy, bị trói chặt bởi cái bất lực khủng khiếp làm ta tê liệt trong giấc mơ. Tôi muốn hét lên, tôi không hét được. Tôi muốn cựa quậy, tôi không cựa được. Tôi cố, với những nỗ lực ghê gớm, thở hổn hển, cố trở mình, cố hất cái sinh vật đang đè nát tôi, đang làm tôi ngạt thở ra. Tôi không làm được!

Và bỗng nhiên tôi tỉnh giấc, hoảng loạn, mồ hôi đầm đìa. Tôi thắp một cây nến. Chỉ có mình tôi.

Sau cơn ấy, đêm nào cũng lặp lại, rốt cuộc tôi cũng ngủ được, yên ổn, cho đến rạng sáng.

Ngày 2 tháng 6. Tình trạng của tôi lại nặng thêm. Tôi bị làm sao thế này? Bờ-rôm chẳng ăn thua, tắm vòi sen cũng chẳng ăn thua. Chiều nay, để thân thể mệt đi dù nó đã mệt lắm rồi, tôi vào rừng Ru-ma đi dạo một vòng. Lúc đầu tôi tưởng không khí mát mẻ, nhẹ nhàng và êm dịu, đầy mùi cỏ lá kia đang rót vào huyết quản tôi một dòng máu mới, vào trái tim tôi một nghị lực mới. Tôi đi theo một con đường săn rộng, rồi rẽ về phía La Bui theo một lối hẹp, giữa hai đạo quân cây cối cao ngất ngưởng, giăng giữa trời và tôi một mái nhà xanh, dày đặc, gần như đen kịt.

Bỗng một cơn rùng mình chộp lấy tôi, không phải vì lạnh, mà là một cơn rùng mình lo sợ lạ lùng.

Tôi rảo bước, lo lắng vì phải ở một mình trong rừng, sợ hãi vô cớ, một cách ngu ngốc, vì sự cô quạnh sâu thẳm. Bỗng nhiên tôi có cảm giác bị theo dõi, có người đang bước sát gót chân tôi, gần lắm, gần như chạm vào tôi.

Tôi quay phắt lại. Chỉ có mình tôi. Sau lưng tôi chỉ có con đường rộng và thẳng, trống trơn, cao vút, trống trơn đến rợn người. Và ở phía bên kia nó cũng trải ra tít tắp, y hệt như thế, đáng sợ.

Tôi nhắm mắt lại. Tại sao? Rồi tôi xoay người trên một gót chân, thật nhanh, như con quay. Tôi suýt ngã. Tôi mở mắt ra. Cây cối nhảy múa, mặt đất bồng bềnh. Tôi phải ngồi xuống. Rồi, ôi, tôi không còn biết mình đã đi đến từ ngả nào nữa! Ý nghĩ kỳ quặc! Kỳ quặc! Ý nghĩ kỳ quặc! Tôi hoàn toàn không biết nữa. Tôi đi về phía bên phải, và tôi lại trở về đúng con đường đã đưa tôi vào giữa rừng.

Ngày 3 tháng 6. Đêm qua thật khủng khiếp. Tôi sẽ đi xa vài tuần. Một chuyến đi ngắn hẳn sẽ làm tôi khoẻ lại.

Ngày 2 tháng 7. Tôi đã về. Tôi khỏi rồi. Vả lại tôi đã có một chuyến đi thú vị. Tôi đã đến thăm núi Thánh Mi-sen mà trước đây tôi chưa biết.

Cảnh tượng mới tuyệt làm sao khi người ta đến A-vrăng-sơ, như tôi, vào lúc chiều tà! Thành phố nằm trên một ngọn đồi. Người ta đưa tôi đến công viên ở cuối thành phố. Tôi thốt lên một tiếng kinh ngạc. Một vịnh biển mênh mông trải ra trước mặt tôi, tít tắp tầm mắt, giữa hai dải bờ cách xa nhau, khuất dần vào sương mù. Và giữa cái vịnh vàng bao la ấy, dưới bầu trời vàng rực và sáng trong, sừng sững một ngọn núi lạ lùng, sẫm màu và nhọn hoắt, giữa bãi cát. Mặt trời vừa lặn, và trên nền chân trời còn rực lửa nổi bật cái dáng của tảng đá kỳ ảo mang trên đỉnh một công trình kỳ ảo.

Ngay từ rạng sáng, tôi đi về phía nó. Nước ròng, như chiều hôm trước, và tôi nhìn tu viện kỳ diệu dựng lên trước mặt mình mỗi lúc một cao khi tôi đến gần. Sau mấy tiếng đi bộ, tôi tới khối đá khổng lồ mang trên mình cái thị trấn nhỏ có ngôi nhà thờ lớn ngự trên cao. Leo hết con phố hẹp và dốc, tôi bước vào ngôi nhà Gô-tích tuyệt mỹ nhất từng được xây cho Chúa trên mặt đất, rộng như cả một thành phố, đầy những gian phòng thấp đè nặng dưới vòm cuốn và những hành lang cao đỡ bằng những hàng cột mảnh mai. Tôi bước vào viên ngọc đá hoa cương khổng lồ ấy, nhẹ như tấm đăng ten, phủ đầy những ngọn tháp, những chóp tháp thanh mảnh có cầu thang xoắn ốc leo lên, những chóp tháp ném lên trời xanh ban ngày, lên trời đen ban đêm, những cái đầu kỳ dị lởm chởm quái vật, quỷ dữ, thú lạ, hoa quái, nối với nhau bằng những vòm cung mảnh chạm trổ tinh xảo.

Khi lên tới đỉnh, tôi bảo vị tu sĩ đi cùng: "Thưa cha, chắc cha ở đây sướng lắm!"

Ông đáp: "Ở đây gió nhiều lắm, thưa ông." Rồi chúng tôi bắt đầu trò chuyện, nhìn biển dâng lên, nước chạy trên bãi cát và phủ lên nó một tấm giáp thép.

Và vị tu sĩ kể cho tôi nghe những chuyện xưa, tất cả những chuyện cũ của chốn này, những truyền thuyết, lúc nào cũng là truyền thuyết.

Có một chuyện làm tôi rất ấn tượng. Người vùng này, những người sống trên núi, quả quyết rằng ban đêm người ta nghe thấy tiếng nói chuyện trong bãi cát, rồi nghe tiếng hai con dê kêu be be, một con giọng to, một con giọng nhỏ. Những người không tin thì bảo đó là tiếng chim biển, lúc thì giống tiếng dê kêu, lúc lại giống tiếng người than vãn. Nhưng những người đánh cá về muộn thề rằng đã gặp, lang thang trên những đụn cát giữa hai con nước, quanh cái thị trấn nhỏ bị ném xa khỏi thế gian ấy, một lão chăn cừu già mà người ta không bao giờ nhìn thấy mặt vì cái áo choàng trùm kín đầu. Lão đi trước dẫn một con dê đực mặt người và một con dê cái mặt đàn bà, cả hai đều có mái tóc dài bạc trắng, nói chuyện không ngớt, cãi nhau bằng một thứ tiếng lạ, rồi bỗng thôi la hét mà kêu be be hết sức mình.

Tôi hỏi vị tu sĩ: "Cha có tin không?"

Ông thì thầm: "Tôi không biết."

Tôi nói tiếp: "Nếu trên mặt đất có những sinh vật khác ngoài chúng ta, thì làm sao từ lâu chúng ta lại không biết đến chúng? Làm sao cha lại không nhìn thấy chúng? Làm sao tôi lại không nhìn thấy chúng?"

Ông đáp: "Chúng ta có nhìn thấy nổi một phần trăm nghìn những gì đang tồn tại không? Ông xem, gió đấy, sức mạnh lớn nhất của thiên nhiên, nó quật ngã con người, đánh sập nhà cửa, nhổ bật cây cối, dựng biển lên thành những ngọn núi nước, phá huỷ vách đá, ném những con tàu lớn vào bãi đá ngầm. Ngọn gió giết người, ngọn gió rít lên, rên rỉ, gầm thét, ông đã nhìn thấy nó chưa, và ông có nhìn thấy nó được không? Vậy mà nó vẫn tồn tại."

Trước lý lẽ giản dị ấy, tôi im lặng. Con người này là một nhà hiền triết, hoặc có lẽ là một kẻ ngốc. Tôi không dám khẳng định chắc chắn, nhưng tôi im lặng. Điều ông vừa nói, tôi đã thường nghĩ đến.

Ngày 3 tháng 7. Tôi ngủ không ngon. Chắc chắn ở đây có một ảnh hưởng gây sốt, vì người đánh xe của tôi cũng mắc đúng cái bệnh của tôi. Hôm qua lúc về nhà, tôi đã để ý thấy anh ta xanh xao lạ thường. Tôi hỏi:

- Anh làm sao thế, Giăng?

- Thưa ông, tôi không nghỉ ngơi được nữa. Đêm nó ăn mất ngày của tôi. Từ hôm ông đi, tôi cứ như bị bỏ bùa.

Những người hầu khác thì vẫn khoẻ, nhưng tôi rất sợ mình lại phát bệnh.

Ngày 4 tháng 7. Rõ ràng là tôi lại bị rồi. Những cơn ác mộng cũ quay lại. Đêm qua tôi cảm thấy có ai đó ngồi xổm trên người tôi, miệng kề lên miệng tôi, đang uống cuộc sống của tôi qua đôi môi. Phải, nó hút cuộc sống từ cổ họng tôi, như một con đỉa. Rồi nó đứng dậy, no nê, còn tôi thì tỉnh giấc, rã rời, tan nát, kiệt quệ đến nỗi không cựa quậy được nữa. Nếu chuyện này còn kéo dài vài hôm nữa, chắc chắn tôi sẽ lại đi xa.

Ngày 5 tháng 7. Tôi mất trí rồi chăng? Những gì đã xảy ra, những gì tôi thấy đêm qua lạ lùng đến nỗi cứ nghĩ đến là đầu óc tôi rối loạn!

Như mọi tối bây giờ, tôi đã khoá cửa. Rồi vì khát, tôi uống nửa cốc nước, và tình cờ để ý thấy bình nước đầy đến tận cái nút pha lê.

Rồi tôi đi nằm, rơi vào một trong những giấc ngủ kinh hoàng của tôi, và chừng hai tiếng sau thì bị giật ra khỏi giấc ngủ bởi một cơn chấn động còn ghê sợ hơn.

Hãy hình dung một người đang ngủ, bị người ta ám sát, rồi tỉnh dậy với một con dao cắm trong phổi, thở khò khè, máu me đầy mình, không thở được nữa, sắp chết, mà không hiểu gì cả. Đấy, là như thế.

Cuối cùng lấy lại được lý trí, tôi lại thấy khát. Tôi thắp một cây nến và đi về phía cái bàn đặt bình nước. Tôi nhấc nó lên, nghiêng nó trên miệng cốc. Không có gì chảy ra cả. Bình rỗng! Rỗng hoàn toàn! Thoạt đầu tôi chẳng hiểu gì. Rồi bỗng nhiên tôi cảm thấy một nỗi xúc động khủng khiếp đến nỗi tôi phải ngồi xuống, hay đúng hơn là ngã phịch xuống một chiếc ghế! Rồi tôi bật dậy để nhìn quanh! Rồi tôi lại ngồi xuống, bàng hoàng vì kinh ngạc và sợ hãi, trước cái bình pha lê trong suốt! Tôi nhìn nó trân trân, cố đoán ra. Tay tôi run lẩy bẩy! Vậy là có ai đã uống chỗ nước này? Ai? Tôi ư? Hẳn là tôi rồi? Chỉ có thể là tôi thôi? Vậy thì tôi là kẻ mộng du. Tôi đang sống mà không biết, cái cuộc sống hai mặt bí ẩn khiến người ta ngờ rằng trong ta có hai con người, hoặc có một sinh vật xa lạ, không thể biết và vô hình, thỉnh thoảng, khi linh hồn ta tê dại, lại điều khiển thân xác bị giam cầm của ta, và thân xác ấy vâng lời kẻ kia như vâng lời chính ta, còn hơn cả vâng lời chính ta.

Ôi, ai hiểu được nỗi lo âu ghê tởm của tôi? Ai hiểu được nỗi xúc động của một người đàn ông tỉnh táo, hoàn toàn thức, đầy lý trí, đang kinh hãi nhìn qua thành thuỷ tinh của một cái bình một chút nước đã biến mất trong lúc mình ngủ! Và tôi ngồi đó tới sáng, không dám quay lại giường.

Ngày 6 tháng 7. Tôi phát điên mất. Đêm qua lại có kẻ uống hết bình nước của tôi. Hay đúng hơn là tôi đã uống nó!

Nhưng có phải tôi không? Có phải tôi không? Thế thì là ai? Ai? Ôi, lạy Chúa! Tôi phát điên rồi sao? Ai sẽ cứu tôi?

Ngày 10 tháng 7. Tôi vừa làm những cuộc thử nghiệm đáng kinh ngạc.

Rõ ràng là tôi điên rồi! Vậy mà!

Ngày 6 tháng 7, trước khi đi ngủ, tôi đặt trên bàn rượu vang, sữa, nước, bánh mì và dâu tây.

Có kẻ đã uống, tôi đã uống, hết chỗ nước và một ít sữa. Không ai đụng đến rượu, bánh mì hay dâu tây.

Ngày 7 tháng 7, tôi làm lại đúng cuộc thử ấy, và kết quả y hệt.

Ngày 8 tháng 7, tôi bỏ nước và sữa đi. Không ai đụng đến thứ gì.

Cuối cùng, ngày 9 tháng 7, tôi chỉ đặt lại trên bàn nước và sữa, cẩn thận bọc các bình trong vải mút-xơ-lin trắng và buộc chặt nút bình. Rồi tôi xoa than chì lên môi, lên râu, lên tay, rồi đi nằm.

Giấc ngủ không cưỡng nổi lại chộp lấy tôi, chẳng bao lâu sau là cơn tỉnh giấc khủng khiếp. Tôi không hề cựa quậy, ngay cả chăn đệm cũng không có lấy một vết bẩn. Tôi lao về phía bàn. Lớp vải bọc các bình vẫn trắng tinh. Tôi tháo dây buộc, tim đập thình thịch vì sợ. Có kẻ đã uống hết nước! Có kẻ đã uống hết sữa! Ôi, lạy Chúa!

Lát nữa tôi sẽ đi Pa-ri.

Ngày 12 tháng 7. Pa-ri. Vậy là mấy hôm trước tôi đã mất trí! Hẳn là tôi đã bị trí tưởng tượng căng thẳng của mình đùa giỡn, trừ phi tôi thật sự là kẻ mộng du, hoặc đã chịu một trong những ảnh hưởng người ta đã ghi nhận nhưng đến nay vẫn chưa giải thích được, cái mà người ta gọi là ám thị. Dù sao đi nữa, cơn hoảng loạn của tôi đã chạm tới ngưỡng điên, và hai mươi bốn giờ ở Pa-ri đã đủ để tôi đứng vững lại.

Hôm qua, sau những cuộc mua sắm và thăm viếng làm tâm hồn tôi được thổi vào một luồng không khí mới mẻ và tươi tỉnh, tôi kết thúc buổi tối ở Nhà hát Pháp. Người ta diễn một vở kịch của A-lếch-xăng Đuy-ma con, và cái đầu óc nhanh nhạy và mạnh mẽ ấy đã chữa khỏi hẳn cho tôi. Chắc chắn cô độc là điều nguy hiểm cho những trí óc làm việc. Quanh ta cần có những con người biết nghĩ và biết nói. Khi ta ở một mình lâu ngày, ta lấp chỗ trống bằng những bóng ma.

Tôi về khách sạn rất vui vẻ, đi theo các đại lộ. Chen vai giữa đám đông, tôi nghĩ, không phải không có chút mỉa mai, đến những nỗi sợ, những giả thuyết của tôi tuần trước, vì tôi đã tin, phải, tôi đã tin rằng có một sinh vật vô hình sống dưới mái nhà tôi. Đầu óc chúng ta yếu ớt làm sao, nó hoảng hốt và lạc lối nhanh làm sao, chỉ cần một chuyện nhỏ không hiểu nổi xảy đến!

Thay vì kết luận bằng mấy chữ đơn giản: "Tôi không hiểu vì tôi không nắm được nguyên nhân", ta lại tưởng tượng ra ngay những điều bí ẩn đáng sợ và những quyền lực siêu nhiên.

— Hết chương 1 —

Mục lục Hoóc-la

  1. 1Những đêm khát nước20 phút
  2. 2Cô em họ bị thôi miênĐang thu âm
  3. 3Hoóc-laĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1887
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Horla, bản hoàn chỉnh năm 1887, tập Le Horla, theo bản Ollendorff 1895
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →