Bạn thân mến, cậu chẳng hiểu gì cả ư? Tôi hiểu chứ. Cậu tưởng tôi điên rồi ư? Có lẽ tôi hơi điên thật, nhưng không phải vì những lý do cậu nghĩ đâu.
Phải. Tôi lấy vợ. Thế đấy.
Thế nhưng ý nghĩ và niềm tin của tôi chẳng hề thay đổi. Tôi vẫn coi chuyện kết đôi hợp pháp là một trò ngốc nghếch. Tôi tin chắc mười ông chồng thì tám ông bị cắm sừng. Mà họ cũng chẳng đáng được gì hơn, vì đã ngu ngốc trói buộc đời mình, từ bỏ tình yêu tự do, thứ duy nhất vui vẻ và tốt đẹp trên đời, cắt cánh của trí tưởng tượng vẫn không ngừng đẩy ta tới mọi người đàn bà, vân vân và vân vân. Hơn bao giờ hết, tôi thấy mình không thể yêu một người đàn bà, vì tôi sẽ luôn yêu quá nhiều tất cả những người khác.
Thế mà tôi lại lấy vợ.
Tôi nói thêm là tôi chẳng mấy quen người vợ ngày mai của mình. Tôi mới gặp cô ấy bốn năm lần. Tôi biết cô ấy không làm tôi khó chịu. Thế là đủ cho điều tôi cần ở cô ấy. Cô ấy nhỏ nhắn, tóc vàng, đầy đặn. Ngày kia hẳn tôi sẽ thèm khát một người đàn bà cao, tóc nâu và mảnh mai.
Cô ấy không giàu. Cô ấy thuộc một gia đình bậc trung. Đó là một cô gái như người ta vẫn gặp đầy rẫy, đến tuổi lấy chồng, không có ưu điểm cũng chẳng có khuyết điểm nào lộ ra, trong giới thị dân bình thường. Người ta nói về cô: "Cô La-giôn dễ thương lắm." Mai người ta sẽ nói: "Bà Rây-mông dễ thương lắm." Tóm lại, cô thuộc đạo quân những cô gái đứng đắn "mà người ta sung sướng được lấy làm vợ", cho tới cái ngày người ta phát hiện ra rằng mình lại thích tất cả những người đàn bà khác hơn chính người mình đã chọn.
Thế thì sao lại lấy vợ, cậu sẽ hỏi thế chứ gì?
Tôi gần như không dám thú thật với cậu cái lý do lạ lùng và khó tin đã đẩy tôi tới hành động điên rồ này.
Tôi lấy vợ để khỏi phải ở một mình!
Tôi không biết nói sao, làm sao cho cậu hiểu. Cậu sẽ thương hại tôi, và cậu sẽ khinh tôi, vì tâm trạng tôi khốn khổ đến thế.
Tôi không muốn ở một mình ban đêm nữa. Tôi muốn cảm thấy có một người bên cạnh, sát bên mình, một người có thể nói, có thể bảo một điều gì đó, bất cứ điều gì.
Tôi muốn có thể đánh thức người ấy dậy, đột ngột hỏi một câu, một câu ngớ ngẩn, chỉ để nghe một giọng nói, để cảm thấy một tâm hồn đang thức, một trí óc đang làm việc, để khi bất chợt thắp nến lên, thấy một gương mặt người bên cạnh mình. Bởi vì... bởi vì... tôi không dám thú nhận nỗi hổ thẹn này... bởi vì tôi sợ khi ở một mình.
Ồ, cậu vẫn chưa hiểu tôi.
Tôi không sợ nguy hiểm. Có kẻ nào đột nhập vào, tôi sẽ giết hắn mà không run tay. Tôi không sợ ma. Tôi không tin vào những điều siêu nhiên. Tôi không sợ người chết. Tôi tin rằng mọi sinh vật đã mất đi là tan biến vĩnh viễn.
Thế thì sợ gì? Phải, sợ gì? Thì đây! Tôi sợ chính mình! Tôi sợ nỗi sợ. Sợ những cơn co thắt của đầu óc đang hoảng loạn, sợ cái cảm giác khủng khiếp của nỗi kinh hoàng không thể hiểu nổi.
Cậu cứ cười đi nếu muốn. Chuyện này thật khủng khiếp, không chữa được. Tôi sợ tường vách, sợ đồ đạc, sợ những đồ vật quen thuộc, những thứ trong mắt tôi bỗng như có một thứ sự sống của loài vật. Nhất là tôi sợ cái rối loạn khủng khiếp của ý nghĩ, của lý trí đang trốn mất, rối tung, tản mát vì một nỗi lo âu bí ẩn và vô hình.
Thoạt tiên tôi cảm thấy một nỗi bất an mơ hồ lướt qua tâm hồn, khiến tôi rợn gai ốc. Tôi nhìn quanh. Không có gì! Mà tôi lại muốn có một cái gì! Cái gì? Một cái gì hiểu được. Vì tôi sợ chỉ bởi tôi không hiểu nỗi sợ của mình.
Tôi nói! Tôi sợ chính giọng mình. Tôi bước! Tôi sợ cái điều không biết ở sau cánh cửa, sau tấm rèm, trong tủ áo, dưới gầm giường. Thế mà tôi biết chẳng có gì ở đâu cả.
Tôi quay phắt lại vì sợ cái ở sau lưng mình, dù chẳng có gì và tôi biết thế.
Tôi bồn chồn, tôi cảm thấy nỗi hoảng hốt lớn dần lên. Tôi đóng cửa ở lì trong phòng. Tôi chui vào giường, trùm chăn kín đầu. Rồi co ro, cuộn tròn như một quả bóng, tôi nhắm nghiền mắt một cách tuyệt vọng, và cứ thế nằm im một thời gian dài vô tận với ý nghĩ rằng cây nến vẫn đang cháy trên bàn đầu giường, và lẽ ra phải tắt nó đi. Nhưng tôi không dám.
Như thế có khủng khiếp không chứ?
Ngày trước tôi chẳng hề cảm thấy những điều ấy. Tôi về nhà một cách bình thản. Tôi đi lại trong nhà mà chẳng có gì quấy rối sự thanh thản của tâm hồn. Giá có ai bảo tôi rằng một ngày kia tôi sẽ mắc một căn bệnh sợ hãi khó tin, ngu ngốc và khủng khiếp như thế, hẳn tôi đã cười phá lên. Tôi mở cửa trong bóng tối một cách tự tin. Tôi thong thả đi nằm mà không cài then, và chẳng bao giờ trở dậy giữa đêm để kiểm tra xem mọi lối vào phòng đã đóng chặt chưa.
Chuyện ấy bắt đầu năm ngoái theo một cách kỳ lạ.
Đó là vào mùa thu, một buổi tối ẩm ướt. Khi người hầu gái đã về, sau bữa tối, tôi tự hỏi mình sẽ làm gì. Tôi đi đi lại lại trong phòng một lúc. Tôi thấy mệt mỏi, rã rời chẳng vì lý do gì, chẳng làm việc được, thậm chí chẳng còn sức đọc sách. Một làn mưa nhỏ làm ướt ô kính. Tôi buồn, thấm đẫm một nỗi buồn vô cớ, thứ nỗi buồn làm người ta muốn khóc, muốn được nói chuyện với bất cứ ai để rũ bỏ sự nặng nề của ý nghĩ.
Tôi thấy mình cô đơn. Căn hộ của tôi dường như trống trải chưa từng thấy. Một nỗi cô đơn vô tận và xót xa bủa vây lấy tôi. Làm gì đây? Tôi ngồi xuống. Bấy giờ một cơn nôn nóng bồn chồn chạy dọc hai chân. Tôi lại đứng dậy, lại đi đi lại lại. Có lẽ tôi cũng hơi sốt, vì hai bàn tay tôi chắp sau lưng, như người ta vẫn làm khi thong thả đi dạo, nóng hổi áp vào nhau, và tôi nhận ra điều ấy. Rồi bỗng một cơn rùng mình lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi nghĩ hơi ẩm bên ngoài đã lọt vào nhà, và nảy ra ý định đốt lò sưởi. Tôi nhóm lửa. Đó là lần đầu tiên trong năm. Rồi tôi lại ngồi xuống ngắm ngọn lửa. Nhưng chẳng mấy chốc, không sao ngồi yên được, tôi lại đứng dậy, và tôi cảm thấy mình phải đi ra ngoài, phải cựa quậy, phải tìm một người bạn.
Tôi đi ra. Tôi tới nhà ba người bạn mà không gặp ai. Rồi tôi ra đại lộ, quyết tìm cho được một người quen.
Ở đâu cũng buồn. Những vỉa hè ướt sũng bóng loáng. Một hơi ấm của nước, một thứ hơi ấm làm người ta lạnh run từng cơn đột ngột, một hơi ấm nặng nề của làn mưa không cảm thấy được, đè nặng lên con phố, như làm mệt mỏi và tối đi những ngọn đèn khí.
Tôi lê bước uể oải, tự nhủ đi nhủ lại: "Mình sẽ chẳng tìm được ai để nói chuyện."
Tôi đảo qua đảo lại các quán cà phê nhiều lượt, từ nhà thờ Ma-đơ-len tới phố ngoại ô Poa-xô-ni-e. Những người buồn bã ngồi trước các bàn như chẳng còn sức uống cạn những thứ đồ uống của mình.
Tôi lang thang như thế rất lâu, và khoảng nửa đêm, tôi lên đường về nhà. Tôi rất bình tĩnh, nhưng rất mệt. Ông gác cổng nhà tôi, người vẫn đi ngủ trước mười một giờ, mở cửa cho tôi ngay, trái với thói quen của ông. Và tôi nghĩ: "Ồ, chắc có người thuê nhà khác vừa lên."
Mỗi lần ra khỏi nhà, tôi luôn khoá cửa hai vòng. Tôi thấy cửa chỉ khép hờ, và điều đó làm tôi chú ý. Tôi đoán có người đã mang thư lên cho tôi trong buổi tối.
Tôi bước vào. Lửa lò sưởi vẫn còn cháy, thậm chí còn soi sáng đôi chút căn hộ. Tôi cầm một cây nến định châm vào lửa, thì vừa đưa mắt nhìn phía trước, tôi thấy có người đang ngồi trên chiếc ghế bành của tôi, hơ chân bên lửa, quay lưng về phía tôi.
Tôi không sợ, ồ không, không mảy may. Một giả thiết rất có lý loé qua đầu tôi: một người bạn nào đó đã tới thăm tôi. Người gác cổng, được tôi dặn trước khi đi, đã bảo rằng tôi sắp về, và đã đưa chìa khoá cho anh ta. Và trong một giây, tất cả những chi tiết khi tôi về hiện lại trong đầu: cửa được mở ngay, cửa phòng chỉ khép hờ.
Bạn tôi, mà tôi chỉ thấy mái tóc, đã ngủ thiếp đi trước lò sưởi trong lúc chờ tôi, và tôi bước tới đánh thức anh ta dậy. Tôi thấy rất rõ, một cánh tay buông thõng bên phải, hai chân bắt chéo lên nhau, cái đầu hơi ngả về phía bên trái ghế bành, đúng dáng người đang ngủ. Tôi tự hỏi: "Ai thế nhỉ?" Mà trong phòng cũng chẳng sáng lắm. Tôi đưa tay ra định chạm vào vai anh ta!
Tôi chạm phải gỗ của chiếc ghế! Không còn ai cả. Chiếc ghế bành trống không!
Trời đất ơi, tôi giật nảy người!
Thoạt tiên tôi lùi lại như thể một mối nguy khủng khiếp vừa hiện ra trước mặt.
Rồi tôi quay lại, cảm thấy có người sau lưng. Rồi lập tức, không cưỡng nổi ý muốn nhìn lại chiếc ghế bành, tôi xoay người thêm lần nữa. Và tôi đứng sững, thở hổn hển vì kinh hãi, rối loạn tới mức không còn một ý nghĩ nào, chực ngã.
Nhưng tôi là người bình tĩnh, và lý trí lập tức trở lại. Tôi nghĩ: "Mình vừa bị ảo giác, thế thôi." Và tôi lập tức suy xét về hiện tượng ấy. Trong những lúc như thế ý nghĩ chạy nhanh lắm.
Tôi đã bị ảo giác, đó là sự thật không cãi được. Nhưng đầu óc tôi suốt lúc ấy vẫn sáng suốt, vẫn vận hành đều đặn và hợp lý. Vậy là não bộ không có chút rối loạn nào. Chỉ có đôi mắt đã nhầm, đã đánh lừa ý nghĩ của tôi. Đôi mắt đã thấy một ảo ảnh, một trong những ảo ảnh khiến những người ngây thơ tin vào phép lạ. Đó là một trục trặc thần kinh của bộ máy thị giác, không hơn, có lẽ là máu dồn lên một chút.
Rồi tôi thắp nến. Khi cúi xuống lò sưởi, tôi nhận ra mình đang run, và tôi giật mình đứng thẳng dậy như thể có ai vừa chạm vào mình từ phía sau.
Rõ ràng là tôi chẳng yên lòng chút nào.
Tôi đi mấy bước. Tôi nói to. Tôi khe khẽ hát mấy câu.
Rồi tôi khoá cửa phòng hai vòng, và thấy yên tâm hơn đôi chút. Ít ra cũng chẳng ai vào được.
Tôi lại ngồi xuống, nghĩ ngợi rất lâu về chuyện vừa xảy ra. Rồi tôi đi nằm, và thổi tắt đèn.
Mấy phút đầu mọi chuyện đều ổn. Tôi nằm ngửa, khá yên ổn. Rồi tôi thấy cần phải nhìn vào phòng, và tôi nằm nghiêng sang.
Lò sưởi chỉ còn hai ba que củi đỏ, vừa đủ soi chân chiếc ghế bành. Và tôi tưởng như lại thấy người đàn ông ngồi trên đó.
Tôi vội quẹt một que diêm. Tôi đã nhầm, và chẳng thấy gì nữa.
Thế nhưng tôi vẫn trở dậy, đem giấu chiếc ghế bành ra sau giường.
Rồi tôi lại tắt đèn và cố ngủ. Tôi mới thiếp đi được chưa tới năm phút thì đã thấy trong mơ, rõ ràng như thật, toàn bộ cảnh tượng buổi tối. Tôi bàng hoàng tỉnh dậy, thắp đèn sáng, rồi ngồi trên giường, không dám thử ngủ lại nữa.
Thế nhưng hai lần, giấc ngủ vẫn chụp lấy tôi, ngoài ý muốn, trong vài giây. Hai lần tôi lại thấy cái thứ ấy. Tôi tưởng mình đã hoá điên.
Khi trời sáng, tôi thấy mình như đã khỏi, và tôi ngủ yên lành tới tận trưa.
Thế là xong, xong hẳn rồi. Tôi đã bị sốt, bị ác mộng, biết đâu đấy? Tóm lại là tôi đã ốm. Dù vậy tôi vẫn thấy mình thật ngớ ngẩn.
Hôm ấy tôi rất vui. Tôi ăn tối ở quán, đi xem hát, rồi lên đường về nhà. Nhưng kìa, khi tới gần nhà, một nỗi lo lạ lùng chụp lấy tôi. Tôi sợ lại thấy hắn. Không phải sợ hắn, không phải sợ sự có mặt của hắn, vì tôi không tin, mà tôi sợ đôi mắt mình lại rối loạn, sợ ảo giác, sợ nỗi kinh hoàng sẽ chụp lấy mình.
Suốt hơn một tiếng đồng hồ, tôi đi đi lại lại trên vỉa hè. Rồi cuối cùng tôi thấy mình ngu ngốc quá và bước vào. Tôi thở dốc đến mức không leo nổi cầu thang. Tôi còn đứng trên chiếu nghỉ trước cửa nhà mình hơn mười phút nữa. Rồi đột nhiên một cơn can đảm bừng lên, ý chí tôi rắn lại. Tôi tra chìa khoá vào, lao lên phía trước, tay cầm nến, đá tung cánh cửa phòng đang khép hờ, và ném một cái nhìn hoảng hốt về phía lò sưởi. Tôi chẳng thấy gì.
— A!
Nhẹ cả người! Vui sướng biết bao! Giải thoát biết bao! Tôi đi đi lại lại với vẻ hăm hở. Nhưng tôi vẫn không thấy yên lòng. Tôi cứ giật mình quay lại. Bóng tối ở các góc phòng làm tôi bất an.
Tôi ngủ chẳng ngon, cứ bị đánh thức mãi bởi những tiếng động tưởng tượng. Nhưng tôi không thấy hắn. Không. Hết rồi!
Từ hôm ấy, tôi sợ khi ở một mình ban đêm. Tôi cảm thấy nó ở đó, gần tôi, quanh tôi, cái ảo ảnh ấy. Nó không hiện ra với tôi lần nào nữa. Ồ không! Mà có hề gì, vì tôi không tin nó, vì tôi biết nó chẳng là gì cả!
Thế nhưng nó vẫn làm tôi khó chịu, vì tôi nghĩ tới nó không ngừng. Một bàn tay buông thõng bên phải, cái đầu ngả về bên trái như đầu một người đang ngủ... Thôi, đủ rồi, trời đất ơi! Tôi không muốn nghĩ tới nó nữa!
Thế nhưng nỗi ám ảnh ấy là gì? Vì sao nó cứ dai dẳng thế? Chân hắn sát ngay bên lửa!
Hắn ám ảnh tôi, thật là điên rồ, nhưng sự thể là vậy. Hắn là ai? Tôi biết thừa hắn không có thật, hắn chẳng là gì cả! Hắn chỉ có trong nỗi lo của tôi, trong nỗi sợ của tôi, trong nỗi khắc khoải của tôi! Thôi, đủ rồi!
Phải, nhưng dù tôi có lý lẽ thế nào, có gồng mình thế nào, tôi cũng không thể ở một mình trong nhà nữa, vì hắn ở đó. Tôi sẽ không thấy hắn nữa, tôi biết, hắn sẽ không hiện ra nữa, thế là hết rồi. Nhưng hắn vẫn ở đó, trong ý nghĩ của tôi. Hắn cứ vô hình, nhưng điều đó không ngăn được hắn có mặt. Hắn ở sau cánh cửa, trong tủ áo đóng kín, dưới gầm giường, trong mọi góc tối, trong mọi bóng râm. Nếu tôi mở cửa, nếu tôi mở tủ, nếu tôi hạ đèn soi dưới gầm giường, nếu tôi rọi sáng các góc phòng, các bóng tối, thì hắn không còn ở đó. Nhưng khi ấy tôi lại cảm thấy hắn sau lưng mình. Tôi quay lại, dù chắc chắn mình sẽ không thấy hắn, sẽ không bao giờ thấy hắn nữa. Thế mà hắn vẫn ở sau lưng tôi, vẫn ở đó.
Thật ngu ngốc, nhưng thật khủng khiếp. Cậu bảo tôi phải làm sao? Tôi chẳng làm gì được.
Nhưng nếu trong nhà tôi có hai người, tôi cảm thấy, phải, tôi cảm thấy chắc chắn rằng hắn sẽ không còn ở đó nữa! Vì hắn ở đó là bởi tôi ở một mình, chỉ bởi tôi ở một mình mà thôi!
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn