Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đêm bão tuyết ở quán trọ

Kẻ trộm ngựa · Chương 1/2 · của Anton Chekhov

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 20.193 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Anh y sĩ Éc-gu-nốp, một con người rỗng tuếch,…
  2. 2:52Cụ bảo người làm dắt ngựa của cháu vào…
  3. 5:16Bà cụ đi Rê-pi-nô rồi, còn cô con gái…
  4. 7:38Gió đấy, Ca-la-sni-cốp nói; hắn im lặng một lúc,…
  5. 10:49Kẻ có tội thì không lên trời được đâu……
  6. 13:38Thế còn Mê-rích? Li-úp-ca hỏi.
  7. 15:41Vì anh ta uống nhiều và mắt đã đờ…
  8. 19:48Vì tiếng giậm chân rầm rập, tiếng thét và…

Chương 1: Đêm bão tuyết ở quán trọ

Anh y sĩ Éc-gu-nốp, một con người rỗng tuếch, nổi tiếng khắp huyện là tay khoác lác và nghiện rượu, một buổi tối trong những ngày lễ Giáng sinh đang trên đường từ thị trấn Rê-pi-nô trở về, nơi anh ta đến mua sắm đồ đạc cho nhà thương. Để anh ta khỏi trễ và về nhà sớm, ông bác sĩ đã cho anh ta mượn con ngựa tốt nhất của mình.

Lúc đầu thời tiết còn tạm được, êm ả, nhưng đến khoảng tám giờ thì nổi lên một trận bão tuyết dữ dội, và khi chỉ còn cách nhà chừng bảy dặm, anh y sĩ lạc đường hẳn…

Anh ta không biết điều khiển ngựa, chẳng thuộc đường, cứ đi liều, đi đâu thì đi, hy vọng con ngựa sẽ tự đưa mình về. Cứ thế chừng hai tiếng đồng hồ, con ngựa đã kiệt sức, bản thân anh ta cũng rét cóng, và anh ta đã bắt đầu có cảm giác rằng mình không đi về nhà mà đi ngược lại Rê-pi-nô; nhưng rồi qua tiếng gào của bão tuyết vọng lại tiếng chó sủa trầm đục, và phía trước hiện ra một vệt đỏ mờ mờ, dần dần hiện rõ một cánh cổng cao và một dãy hàng rào dài, trên đầu hàng rào cắm chi chít những chiếc đinh chĩa mũi lên trời, rồi từ sau hàng rào vươn ra một cái cần vọt giếng cong queo. Gió xua làn tuyết mù mịt khỏi tầm mắt, và ở chỗ vệt đỏ khi nãy mọc lên một ngôi nhà nhỏ, lùn tịt, mái lợp sậy cao. Trong ba ô cửa sổ, có một ô sáng đèn, bên trong che một tấm gì đó màu đỏ.

Đây là trang trại nào? Anh y sĩ nhớ ra rằng ở bên phải con đường, cách nhà thương sáu bảy dặm, đáng lẽ phải có cái quán trọ của An-đrây Chi-ri-cốp. Anh ta cũng nhớ ra rằng ông Chi-ri-cốp ấy mới bị bọn xà ích giết chết cách đây không lâu, để lại một bà già và cô con gái Li-úp-ca, cô gái hai năm trước có lần đến nhà thương chữa bệnh. Cái quán ấy mang tiếng xấu, ghé vào đó lúc đêm khuya, lại còn với con ngựa của người khác, chẳng an toàn chút nào. Nhưng biết làm sao được. Anh y sĩ sờ thấy khẩu súng lục trong túi da, rồi hắng giọng nghiêm khắc, lấy cán roi gõ vào khung cửa sổ.

— Này, có ai ở đây không? anh ta gọi to. Cụ ơi, cho vào sưởi nhờ với!

Một con chó đen sủa khàn khàn lăn tròn như cục bông tới dưới chân ngựa, rồi một con khác, màu trắng, rồi lại một con đen nữa, phải đến chục con! Anh y sĩ nhắm con to nhất, vung tay quất roi vào nó hết sức mình. Một con chó nhỏ chân cao ngước cái mõm nhọn lên trời và tru lên một giọng mảnh, lanh lảnh.

Anh y sĩ đứng bên cửa sổ gõ mãi. Nhưng rồi sau hàng rào, gần ngôi nhà, lớp sương giá trên cây ửng đỏ lên, cánh cổng kẽo kẹt, và hiện ra bóng một người đàn bà quấn khăn kín mít, tay cầm đèn lồng.

— Cụ cho cháu vào sưởi nhờ với, anh y sĩ nói. Cháu về nhà thương mà lạc đường. Thời tiết thế này thì Chúa tránh cho. Cụ đừng sợ, chúng ta là người nhà cả mà, cụ ạ.

— Người nhà thì ở nhà cả rồi, còn người lạ thì chúng tôi không mời, cái bóng nói giọng nghiêm khắc. Mà gõ làm gì cho phí công? Cổng có khoá đâu.

Anh y sĩ cưỡi ngựa vào sân và dừng lại bên bậc thềm.

— Cụ bảo người làm dắt ngựa của cháu vào chuồng hộ với, anh ta nói.

— Tôi không phải bà cụ.

Mà quả thật không phải bà cụ. Khi cô thổi tắt đèn lồng, mặt cô được rọi sáng, và anh y sĩ trông thấy đôi lông mày đen, nhận ra Li-úp-ca.

— Giờ này thì người làm đâu ra? cô nói, đi vào nhà. Đứa thì say rượu ngủ khì, đứa thì từ sáng đã kéo nhau ra Rê-pi-nô cả rồi. Ngày lễ mà…

Trong lúc buộc con ngựa của mình dưới mái che, Éc-gu-nốp nghe tiếng ngựa hí, và nhìn ra trong bóng tối còn một con ngựa của ai nữa, anh ta sờ thấy trên lưng nó một bộ yên kiểu Cô-dắc. Thế nghĩa là trong nhà, ngoài mấy mẹ con chủ, còn có ai đó nữa. Để phòng xa, anh y sĩ tháo yên ngựa của mình, và khi đi vào nhà, anh ta mang theo cả bọc đồ mua sắm lẫn bộ yên.

Gian phòng đầu tiên anh ta bước vào rộng rãi, lò sưởi đốt nóng hầm hập, sực mùi sàn nhà vừa mới cọ rửa. Bên bàn, dưới góc treo ảnh thánh, có một bác nông dân thấp bé, gầy gò, trạc bốn mươi, râu nhỏ màu hung nhạt, mặc áo sơ mi xanh lam. Đó là Ca-la-sni-cốp, một tên lừa đảo khét tiếng và là kẻ trộm ngựa, bố và chú hắn mở một quán rượu ở Bô-ga-li-óp-ca và buôn ngựa ăn cắp ở bất cứ nơi đâu bán được. Hắn cũng đã mấy lần đến nhà thương, nhưng không phải để chữa bệnh mà để bàn chuyện ngựa với ông bác sĩ: có con nào bán không, và không biết ngài bác sĩ có muốn đổi con ngựa cái màu hồng sẫm lấy con ngựa thiến màu vàng nhạt không. Lúc này đầu hắn bôi sáp bóng mượt, nơi tai lấp lánh một chiếc khuyên bạc, nói chung trông có vẻ ăn diện ngày lễ. Nhíu mày và trề môi dưới ra, hắn chăm chú nhìn vào một cuốn sách to tướng, sờn rách, có tranh minh hoạ. Nằm duỗi dài trên sàn gần lò sưởi là một bác nông dân khác; mặt, vai và ngực bác ta trùm kín dưới tấm áo lông cừu ngắn, chắc là đang ngủ; cạnh đôi ủng mới đóng móng sắt sáng loáng của bác ta là hai vũng nước tối sẫm do tuyết tan.

Trông thấy anh y sĩ, Ca-la-sni-cốp chào.

— Phải, thời tiết… Éc-gu-nốp nói, lấy hai bàn tay xoa xoa đầu gối lạnh cóng. Tuyết lọt vào tận gáy, tôi ướt sũng cả người, thì là, ướt như chuột lột. Mà khẩu súng của tôi hình như cũng, ấy…

Anh ta rút khẩu súng lục ra, ngắm nghía tứ phía rồi lại cất vào túi. Nhưng khẩu súng chẳng gây được ấn tượng gì: bác nông dân vẫn tiếp tục nhìn vào cuốn sách.

— Phải, thời tiết… Lạc đường, mà nếu không có mấy con chó ở đây thì, hình như, đến chết mất. Thì thành chuyện to. Thế bà chủ đâu rồi?

— Bà cụ đi Rê-pi-nô rồi, còn cô con gái đang nấu bữa tối… Ca-la-sni-cốp đáp.

Im lặng bao trùm. Anh y sĩ run lập cập, sụt sịt, thổi vào lòng bàn tay, co ro cả người, làm ra vẻ mình rét cóng và mệt lử lắm. Nghe tiếng mấy con chó ngoài sân vẫn chưa thôi tru. Buồn tẻ quá.

— Anh người Bô-ga-li-óp-ca phải không? anh y sĩ hỏi bác nông dân bằng giọng nghiêm khắc.

— Vâng, người Bô-ga-li-óp-ca.

Và chẳng có việc gì làm, anh y sĩ bắt đầu nghĩ về cái làng Bô-ga-li-óp-ca ấy. Làng to, nằm dưới một khe núi sâu, đến nỗi khi đi trên đường cái vào đêm trăng mà nhìn xuống khe núi tối om, rồi ngẩng lên nhìn trời, thì có cảm giác như mặt trăng đang treo lơ lửng trên một vực thẳm không đáy, và đây là nơi tận cùng thế giới. Con đường dẫn xuống thì dốc đứng, ngoằn ngoèo và hẹp đến nỗi khi đi Bô-ga-li-óp-ca để chống dịch hay để chủng đậu, phải luôn mồm gào khản cổ hoặc huýt sáo, không thì nhỡ gặp một chiếc xe bò là không cách nào tránh nhau được nữa. Dân Bô-ga-li-óp-ca nổi tiếng là trồng vườn giỏi và trộm ngựa giỏi; vườn tược của họ trù phú: mùa xuân cả làng chìm trong hoa anh đào trắng, còn mùa hè thì anh đào bán ba xu một xô. Trả ba xu là cứ việc hái. Vợ con dân làng xinh đẹp, béo tốt, thích ăn diện, ngay ngày thường cũng chẳng làm gì, chỉ ngồi trên bậc nền quanh nhà bắt chấy cho nhau.

Nhưng rồi có tiếng bước chân. Li-úp-ca bước vào phòng, một cô gái chừng hai mươi, mặc váy đỏ, đi chân đất… Cô liếc nhìn anh y sĩ, rồi đi đi lại lại hai lần từ góc này sang góc kia. Cô bước đi không phải như thường, mà bằng những bước nhỏ, ưỡn ngực ra phía trước; rõ ràng cô thích đặt đôi chân trần xuống sàn nhà mới cọ rửa nghe bành bạch, và cô cởi giày ra chính là để làm thế.

Ca-la-sni-cốp cười khẩy vì chuyện gì đó và ngoắc ngón tay gọi cô lại. Cô đến bên bàn, và hắn chỉ cho cô xem trong sách hình nhà tiên tri Ê-li-a đang điều khiển cỗ xe ba ngựa lao vút lên trời. Li-úp-ca tì khuỷu tay lên bàn; bím tóc của cô vắt qua vai, một bím tóc dài, màu hung đỏ, đầu buộc một dải ruy băng đỏ nhỏ, suýt chạm tới sàn nhà. Và cô cũng cười khẩy.

— Bức tranh tuyệt vời, tuyệt diệu! Ca-la-sni-cốp nói. Tuyệt diệu! hắn nhắc lại, rồi làm một cử chỉ bằng hai tay như thể muốn giật lấy dây cương thay cho ông Ê-li-a.

Gió rú lên trong lò sưởi; có cái gì đó gầm gừ rồi kêu chít chít, như một con chó to vừa bóp chết một con chuột cống.

— Kìa, bọn ma quỷ lại kéo nhau ra rồi! Li-úp-ca nói.

— Gió đấy, Ca-la-sni-cốp nói; hắn im lặng một lúc, rồi ngước mắt nhìn anh y sĩ và hỏi: Theo ông, theo người có học, ông Ô-xíp Va-xi-li-ích ạ, trên đời này có quỷ hay không?

— Biết nói với anh thế nào nhỉ, anh bạn? anh y sĩ đáp, nhún một bên vai. Nếu xét theo khoa học thì, dĩ nhiên, quỷ không có, vì đấy là mê tín; còn nếu xét theo lối thường, như tôi với anh bây giờ đây, thì quỷ có, nói tóm lại là thế… Đời tôi đã trải qua nhiều chuyện lắm… Học xong, tôi vào làm y sĩ quân đội ở một trung đoàn kỵ binh, dĩ nhiên là có đi đánh trận, có huy chương và huy hiệu Chữ Thập Đỏ, rồi sau hoà ước Xan Xtê-pha-nô thì tôi trở về nước Nga và vào làm cho hội đồng địa phương. Và vì cái sự lưu chuyển ghê gớm của đời tôi như thế, tôi có thể nói, tôi đã thấy những điều mà người khác nằm mơ cũng chẳng thấy. Có cả chuyện thấy quỷ nữa, tức là không phải quỷ có sừng có đuôi, cái ấy toàn chuyện vớ vẩn, mà là, nói cho đúng ra, như là giống như thế.

— Ở đâu? Ca-la-sni-cốp hỏi.

— Ở nhiều chỗ. Chẳng phải đi đâu xa, năm ngoái, đêm hôm đừng nhắc đến nó, tôi gặp nó ngay ở đây này, gần như sát cái quán này. Tôi đang đi, thì là, tôi nhớ, đi Gô-lư-si-nô, đi chủng đậu. Thì như mọi lần, xe đua, con ngựa và đồ nghề cần thiết, ngoài ra, còn có đồng hồ trên người và mọi thứ khác, cho nên tôi vừa đi vừa đề phòng, nhỡ đâu bất thình lình mà, ấy… Bọn du thủ du thực thiếu gì. Tôi đến gần cái khe Rắn, cái khe chết tiệt ấy, bắt đầu đi xuống, thì bỗng, thì là, có một kẻ đi tới. Tóc đen, mắt đen, cả khuôn mặt như bị khói hun đen kịt… Hắn tiến lại con ngựa và tóm thẳng lấy dây cương bên trái: đứng lại! Hắn nhìn con ngựa, rồi sau đó, tức là, nhìn tôi, rồi buông dây cương ra, chẳng nói chẳng rằng: «Mày đi đâu?». Mà răng hắn thì nhe ra, mắt thì độc địa… À, tôi nghĩ, cái thằng hề này! «Tôi đi chủng đậu, tôi bảo. Việc gì đến anh?». Hắn bèn nói: «Đã thế, hắn nói, thì chủng đậu cho tao luôn đi». Hắn xắn tay áo lên và dí cánh tay vào sát mũi tôi. Dĩ nhiên, tôi chẳng thèm đôi co với hắn, cứ thế chủng đậu cho xong chuyện. Sau đó, tôi nhìn con dao trích của mình, thì thấy nó gỉ hết cả.

Bác nông dân đang ngủ gần lò sưởi bỗng trở mình và hất tấm áo lông cừu ra, và anh y sĩ, ngạc nhiên hết sức, trông thấy chính cái người lạ mặt anh ta đã gặp dạo nào ở khe Rắn. Tóc, râu và mắt của bác nông dân này đen như bồ hóng, mặt ngăm ngăm, lại thêm trên má phải có một nốt ruồi đen to bằng hạt đậu lăng. Bác ta nhìn anh y sĩ giễu cợt và nói:

— Nắm dây cương bên trái thì có đấy, còn chuyện chủng đậu thì ông nói láo, thưa ông. Tôi với ông chẳng hề có chuyện gì về chủng đậu cả.

Anh y sĩ bối rối.

— Tôi có nói về anh đâu, anh ta bảo. Đang nằm thì cứ nằm đi.

Bác nông dân ngăm đen chưa từng đến nhà thương lần nào, anh y sĩ không biết bác ta là ai và ở đâu tới, và bây giờ, nhìn bác ta, anh ta đoán chắc đây là một người Di-gan. Bác nông dân đứng dậy, vươn vai, ngáp to, đi tới chỗ Li-úp-ca và Ca-la-sni-cốp, ngồi xuống bên cạnh và cũng nhìn vào cuốn sách. Trên gương mặt ngái ngủ của bác ta hiện lên vẻ cảm động và thèm muốn.

— Kìa, Mê-rích, Li-úp-ca bảo bác ta, anh dắt về cho em mấy con ngựa như thế, em sẽ lên trời.

— Kẻ có tội thì không lên trời được đâu… Ca-la-sni-cốp nói. Cái đó là phần của người thánh thiện.

Rồi Li-úp-ca dọn bàn, mang ra một tảng mỡ lợn to, dưa chuột muối, một cái đĩa gỗ đựng thịt luộc thái miếng nhỏ, rồi một cái chảo trên đó món xúc xích với bắp cải đang kêu xèo xèo. Trên bàn còn xuất hiện một bình rượu vốt-ca bằng thuỷ tinh nhiều cạnh, và khi rót ra mỗi người một chén, khắp phòng toả ra mùi vỏ cam.

Anh y sĩ bực mình vì Ca-la-sni-cốp và gã Mê-rích ngăm đen cứ nói chuyện với nhau, chẳng để ý gì đến anh ta, như thể anh ta không có mặt trong phòng. Mà anh ta lại muốn nói chuyện với họ, muốn khoe khoang, muốn uống, muốn ăn cho no, và nếu được thì cũng muốn đùa nghịch với Li-úp-ca, cô gái mà trong bữa ăn đã năm lần ngồi xuống cạnh anh ta, và như vô tình, chạm đôi vai xinh đẹp vào người anh ta, và lấy hai tay vuốt vuốt cặp hông nở nang của mình. Đó là một cô gái khoẻ mạnh, hay cười, lắc lư, không ngồi yên được: lúc ngồi xuống, lúc đứng lên, mà khi ngồi thì quay sang người bên cạnh lúc bằng ngực, lúc bằng lưng, như con lươn, và thế nào cũng quệt phải ai đó bằng khuỷu tay hay đầu gối.

Anh y sĩ cũng không thích chuyện mấy bác nông dân chỉ uống mỗi người một chén rồi thôi, còn một mình anh ta mà uống thì cũng thấy ngường ngượng. Nhưng anh ta không nhịn được và uống chén thứ hai, rồi chén thứ ba, rồi ăn hết cả món xúc xích. Để mấy bác nông dân khỏi xa lánh mình mà nhận mình vào hội, anh ta quyết định tâng bốc họ.

— Dân Bô-ga-li-óp-ca các anh cừ thật! anh ta nói, lắc lắc đầu.

— Cừ về cái gì? Ca-la-sni-cốp hỏi.

— Thì đấy, thì là, cứ cho là về chuyện ngựa đi. Ăn trộm thì cừ!

— Chà, tìm đâu ra người cừ! Chỉ toàn bợm rượu với kẻ cắp thôi.

— Cái thời ấy có, nhưng qua rồi, Mê-rích nói, sau một lúc im lặng. Giờ họ chỉ còn mỗi lão Phi-li-a già thôi, mà lão ấy lại mù.

— Phải, chỉ còn mỗi lão Phi-li-a, Ca-la-sni-cốp thở dài. Lão ấy giờ phải ngót bảy mươi rồi; một mắt bị bọn thực dân Đức chọc mù, còn mắt kia thì kém. Bị màng mộng. Ngày trước, ông cảnh sát trưởng hễ trông thấy lão là gọi: «Này, Sa-min!», và dân làng ai cũng thế, Sa-min nọ Sa-min kia, còn bây giờ thì chẳng ai gọi gì khác ngoài lão Phi-li-a chột. Thế mà ngày xưa là một tay cừ khôi đấy! Một đêm lão cùng ông An-đrây Gri-gô-ri-ích quá cố, bố của Li-u-ba đây, mò tới gần Rô-giơ-nô-vô, hồi ấy ở đó có mấy trung đoàn kỵ binh đóng, rồi dắt đi chín con ngựa của lính, toàn những con tốt nhất, chẳng sợ gì lính gác, mà sáng hôm ấy đã bán cả cho tay Di-gan A-phôn-ca được hai mươi rúp. Thế đấy! Còn bọn bây giờ thì chỉ rình dắt ngựa của người say hay người đang ngủ, mà còn chẳng sợ Chúa, lột cả ủng của người say, rồi co ro dắt con ngựa đi xa hai trăm dặm, rồi mặc cả ở chợ, mặc cả như Do Thái, cho đến khi bị viên cảnh sát hạ sĩ tóm, cái đồ ngu. Chẳng phải ăn chơi gì, chỉ toàn nhục nhã! Bọn người chẳng ra gì, nói làm chi.

— Thế còn Mê-rích? Li-úp-ca hỏi.

— Mê-rích không phải người làng mình, Ca-la-sni-cốp nói. Anh ấy người vùng Khác-cốp, ở Mi-gi-rích. Còn cừ thì đúng là cừ, không thể chê được, một người tốt.

Li-úp-ca nhìn Mê-rích ranh mãnh và vui sướng rồi nói:

— Phải rồi, người tốt người ta mới dìm anh ấy xuống lỗ băng chứ.

— Thế là thế nào? anh y sĩ hỏi.

— Thì thế này… Mê-rích nói, cười khẩy. Lão Phi-li-a dắt mất ba con ngựa của mấy người thuê đất ở Xa-moi-lốp-ca, thế là họ lại nghi tôi. Đám thuê đất ở Xa-moi-lốp-ca cả thảy chừng mười người, tính cả người làm thì phải ba chục, mà toàn là người phái Mô-lô-can cả… Thế rồi một người bảo tôi ở chợ: «Mê-rích, đến mà xem, chúng tôi vừa dắt ở hội chợ về mấy con ngựa mới». Dĩ nhiên tôi tò mò, bèn đến chỗ họ, thì họ, bao nhiêu người ấy, chừng ba chục, trói quặt tay tôi ra sau rồi dẫn ra sông. Bọn tao, họ bảo, sẽ cho mày xem ngựa. Một cái lỗ băng đã đục sẵn, họ đục thêm một cái nữa bên cạnh, cách chừng một sải tay. Rồi, tức là, họ lấy một sợi dây, quàng thòng lọng vào dưới nách tôi, còn đầu dây kia thì buộc vào một cây gậy cong, để, tức là, luồn được qua cả hai lỗ băng. Thế là họ luồn cây gậy qua rồi kéo. Tôi, nguyên cả áo lông lẫn ủng, tõm xuống lỗ băng! Họ thì đứng đó đẩy tôi, người thì bằng chân, người thì bằng búa bổ củi, rồi kéo tôi đi dưới lớp băng, lôi lên ở cái lỗ kia.

Li-úp-ca rùng mình và co rúm cả người lại.

— Lúc đầu tôi rét quá hoá nóng bừng, Mê-rích kể tiếp, đến khi bị lôi lên thì chẳng còn cách nào, tôi nằm vật ra tuyết, còn đám Mô-lô-can đứng quanh lấy gậy đập vào đầu gối và khuỷu tay tôi. Đau khủng khiếp! Đánh xong họ bỏ đi… Còn tôi thì cái gì trên người cũng đông cứng lại, quần áo đóng băng, tôi đứng dậy mà chẳng còn sức. May sao, có một chị đàn bà đi xe qua, chở tôi về.

Trong khi đó anh y sĩ đã uống năm sáu chén; anh ta thấy lòng sáng sủa hẳn ra, và cũng muốn kể một chuyện gì đó phi thường, kỳ diệu, để chứng tỏ mình cũng là tay cừ, chẳng sợ gì.

— Còn ở vùng Pen-da chỗ chúng tôi thì… anh ta vừa mới bắt đầu.

Vì anh ta uống nhiều và mắt đã đờ đẫn, và có lẽ cũng vì đã hai lần anh ta bị bắt quả tang nói dối, nên mấy bác nông dân chẳng để ý gì đến anh ta, thậm chí thôi không trả lời những câu anh ta hỏi nữa. Chưa hết, ngay trước mặt anh ta, họ còn nói ra những chuyện thầm kín đến mức anh ta thấy rờn rợn, lạnh người, mà điều đó có nghĩa là họ chẳng coi anh ta ra gì.

Cung cách của Ca-la-sni-cốp đĩnh đạc, như một người đứng đắn và biết lẽ phải, hắn nói năng cặn kẽ, mà mỗi lần ngáp lại làm dấu thánh giá trước miệng, và không ai có thể nghĩ đây là một tên trộm, một tên trộm nhẫn tâm chuyên cướp của người nghèo, đã hai lần ngồi tù, và dân làng đã có lần biểu quyết đày hắn sang Xi-bia, nhưng bố và chú hắn, cũng là những tên trộm và đồ đểu như hắn, đã chạy tiền chuộc ra. Còn Mê-rích thì ra dáng một tay anh chị. Gã thấy Li-úp-ca và Ca-la-sni-cốp đang ngắm mình trầm trồ, và chính gã cũng tự coi mình là một tay cừ, lúc thì chống nạnh, lúc thì ưỡn ngực ra, lúc thì vươn người đến nỗi cái ghế dài kêu răng rắc…

Ăn tối xong, Ca-la-sni-cốp, không đứng dậy, làm dấu cầu nguyện trước ảnh thánh rồi bắt tay Mê-rích; gã kia cũng cầu nguyện rồi bắt tay Ca-la-sni-cốp. Li-úp-ca dọn bữa tối đi, rồi đổ ra bàn bánh gừng bạc hà, hạt dẻ rang, hạt bí, và bày hai chai rượu ngọt.

— Cầu cho ông An-đrây Gri-gô-ri-ích được lên thiên đàng, được yên nghỉ đời đời, Ca-la-sni-cốp vừa nói vừa chạm chén với Mê-rích. Hồi ông còn sống, bọn tôi hay tụ họp ở đây, hoặc ở nhà anh Mác-tưn, và lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi! người thì đâu ra người, chuyện thì đâu ra chuyện! Những câu chuyện tuyệt diệu! Có anh Mác-tưn, có lão Phi-li-a, có anh Phi-ô-đo Xtu-cô-tây… Tất cả đều tử tế, đâu ra đấy… Mà chơi bời mới ra trò chứ! Chơi bời ra trò, chơi bời ra trò!

Li-úp-ca đi ra, một lát sau trở vào, quàng chiếc khăn nhỏ màu xanh lá cây và đeo chuỗi hạt.

— Mê-rích, xem này, hôm nay anh Ca-la-sni-cốp mang cho em cái gì đây! cô nói.

Cô ngắm mình trong gương và lắc đầu mấy cái cho chuỗi hạt kêu lách cách. Rồi cô mở hòm ra, lấy ra lúc thì chiếc váy vải hoa có những chấm tròn đỏ và xanh, lúc thì chiếc khác, màu đỏ, có diềm xếp nếp, kêu sột soạt như giấy, lúc thì chiếc khăn mới màu xanh lam óng ánh như cầu vồng, và cô đem hết ra khoe, vừa cười vừa vỗ tay, như thể ngạc nhiên vì mình có những báu vật như thế.

Ca-la-sni-cốp lên dây đàn ba-la-lai-ca rồi gảy, và anh y sĩ không tài nào hiểu được hắn đang chơi bài gì, vui hay buồn, vì lúc thì buồn lắm, buồn đến muốn khóc, lúc lại vui lên. Mê-rích bỗng bật dậy, giậm gót tại chỗ, rồi dang tay ra, đi bằng gót chân từ bàn sang lò sưởi, từ lò sưởi sang cái hòm, rồi nhảy vọt lên như bị ong đốt, gõ móng giày vào nhau trên không, rồi nhảy ngồi xổm đá chân. Li-úp-ca vung cả hai tay lên, thét lên một tiếng liều lĩnh rồi nhảy theo gã; thoạt đầu cô đi nghiêng nghiêng, nghiêng nghiêng, ranh mãnh, như muốn rón rén lại gần ai đó mà đánh lén từ phía sau, rồi giậm gót chân dồn dập như Mê-rích giậm gót giày, rồi xoay tít như con quay và ngồi thụp xuống, chiếc váy đỏ phồng lên như quả chuông; Mê-rích nhìn cô giận dữ, nhe răng ra, lao tới chỗ cô theo điệu ngồi xổm đá chân, như muốn nghiền nát cô bằng đôi chân khủng khiếp của mình, còn cô thì bật dậy, ngửa đầu ra sau, và vỗ hai tay như con chim lớn vỗ cánh, chân gần như không chạm sàn, cô lướt đi khắp phòng…

«Chà, cô gái mới bốc lửa làm sao! anh y sĩ nghĩ, ngồi xuống cái hòm và từ đó xem họ nhảy. Nóng bỏng làm sao! Dâng hết cho cô ấy cũng còn chưa đủ…»

Và anh ta tiếc: sao mình lại là y sĩ, mà không phải là một bác nông dân bình thường? Sao trên người mình là áo vét-tông và sợi dây đeo chiếc chìa khoá nhỏ mạ vàng, mà không phải chiếc áo sơ mi xanh lam thắt dây lưng bằng sợi thừng? Thế thì mình đã có thể mạnh dạn hát, nhảy, uống, ôm Li-úp-ca bằng cả hai tay như Mê-rích đang làm…

Vì tiếng giậm chân rầm rập, tiếng thét và tiếng hò reo, bát đĩa trong tủ kêu lanh canh, ngọn nến chập chờn nhảy múa.

Sợi chỉ đứt, chuỗi hạt văng ra khắp sàn nhà, chiếc khăn xanh rơi khỏi đầu, và thay cho Li-úp-ca chỉ còn một đám mây đỏ loang loáng, cùng đôi mắt đen loé sáng, còn Mê-rích thì như thể chỉ chực rời tung cả tay lẫn chân.

Nhưng rồi Mê-rích giậm chân lần cuối và đứng sững lại như bị đóng đinh… Mệt lử, thở không ra hơi, Li-úp-ca ngả đầu vào ngực gã và áp sát vào người gã như áp vào một cái cột, còn gã thì ôm lấy cô, nhìn vào mắt cô, nói dịu dàng và âu yếm, như thể nói đùa:

— Để rồi anh dò xem bà già nhà em giấu tiền ở đâu, anh sẽ giết bà ấy, còn em thì anh cứa cổ bằng con dao nhỏ, sau đó anh châm lửa đốt cái quán trọ… Người ta sẽ nghĩ hai mẹ con chết cháy, còn anh mang tiền của hai mẹ con đi Cu-ban, ở đó anh sẽ chăn những đàn ngựa, nuôi cừu…

Li-úp-ca chẳng trả lời gì, chỉ nhìn gã như người có lỗi, rồi hỏi:

— Mê-rích, ở Cu-ban có sướng không anh?

Gã chẳng nói gì, đi tới ngồi lên cái hòm và trầm ngâm; có lẽ gã đang mơ về Cu-ban.

— Hết chương 1 —

Mục lục Kẻ trộm ngựa

  1. 1Đêm bão tuyết ở quán trọ20 phút
  2. 2Con ngựa biến mấtĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1890
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Воры, 1890
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →