Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Kho báu chôn giấu

của O. Henry

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 20.072 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trên đời có nhiều loại ngốc. Xin các vị…
  2. 4:18Gút-lô Bành và tôi tránh mặt năm ngày, chờ…
  3. 7:41Tờ giấy thuộc loại giấy xanh cũ dùng hồi…
  4. 11:08Tôi và đứa cháu nội của kho báu xem…
  5. 13:07Khoảng cách theo hướng bắc nam của đường kẻ…
  6. 15:59Hỡi chàng U-lít-xơ tốt bụng của ta, — Gút-lô…
  7. 17:53Gút-lô Bành, — tôi nói, — tớ chẳng màng…
  8. 20:25Cô đứng thẳng dậy nhìn tôi. Lần đầu tiên…

Trên đời có nhiều loại ngốc. Xin các vị cứ ngồi yên cho tới khi được gọi đích danh mới đứng dậy.

Tôi đã từng là đủ mọi loại ngốc, trừ một loại. Tôi đã phung phí gia tài cha ông để lại, đã giả vờ có vợ, đã chơi bài xì, quần vợt, chơi chứng khoán ở mấy tiệm buôn may bán rủi, đã chia tay với tiền bạc bằng đủ mọi cách. Nhưng còn một vai của kẻ đội mũ thằng hề đeo chuông lục lạc mà tôi chưa đóng. Đó là vai Kẻ Đi Tìm Kho Báu Chôn Giấu. Chẳng mấy ai được hưởng cơn mê sướng ấy. Nhưng trong tất cả những kẻ muốn bước theo dấu chân vua Mi-đát, chưa ai tìm được một thú theo đuổi nào hứa hẹn nhiều khoái lạc đến thế.

Nhưng xin quay lui khỏi đề tài một lát, như những ngòi bút què quặt vẫn phải làm. Tôi là một gã ngốc thuộc loại đa cảm. Tôi gặp Mây Mác-tha Man-gâm, và thế là tôi thuộc về cô. Cô mười tám tuổi, nước da trắng như phím ngà của một cây đàn dương cầm mới, xinh đẹp, mang vẻ trang nghiêm tinh tế và nét quyến rũ đáng thương của một thiên thần ngây thơ bị số phận bắt sống trong một thị trấn đồng cỏ nhỏ bé buồn tẻ ở Tếch-dát. Cô có một tâm hồn và một sức quyến rũ đủ để hái hồng ngọc như hái quả mâm xôi trên vương miện của bất cứ vương quốc ăn chơi nào, nhưng cô không biết điều đó, và tôi cũng chẳng vẽ bức tranh ấy ra cho cô xem.

Các vị hiểu không, tôi muốn có Mây Mác-tha Man-gâm để giữ lấy làm của mình. Tôi muốn cô sống với tôi, và ngày ngày cất dép với tẩu thuốc của tôi vào những chỗ mà buổi tối tôi không sao tìm thấy.

Cha của Mây Mác-tha là một người đàn ông nấp sau bộ râu và cặp kính. Ông sống vì bọ và bướm, vì mọi loài côn trùng bay, bò, vo ve, chui vào lưng áo người ta hay rơi vào bơ. Ông là một nhà côn trùng học, hay một chữ gì nghe na ná thế. Cả đời ông giăng lưới vớt không khí để bắt những con cá bay thuộc họ bọ tháng Sáu, rồi lấy ghim đâm xuyên qua chúng mà đặt tên cho chúng.

Ông và Mây Mác-tha là cả gia đình. Ông rất quý cô như một mẫu vật tốt của loài người, vì cô lo cho ông thỉnh thoảng có cái ăn, mặc quần áo không bị ngược, và giữ cho các lọ cồn của ông lúc nào cũng đầy. Người ta bảo các nhà khoa học hay đãng trí.

Ngoài tôi ra còn một người nữa cho rằng Mây Mác-tha Man-gâm là người đáng mơ ước. Đó là Gút-lô Bành, một chàng trai vừa học đại học về. Anh ta có mọi kiến thức tìm được trong sách vở, tiếng La-tinh, tiếng Hy Lạp, triết học, nhất là những môn toán học cao cấp và lô-gích học.

Giá anh ta không có cái tật đổ kiến thức và học vấn ấy lên đầu bất cứ ai anh ta nói chuyện, thì có lẽ tôi đã khá quý anh ta. Nhưng dù sao, các vị cứ tưởng anh ta với tôi là đôi bạn thân.

Hễ có dịp là chúng tôi gặp nhau, vì đứa nào cũng muốn moi ở đứa kia bất cứ cọng rơm nào để xem gió từ trái tim Mây Mác-tha Man-gâm thổi về hướng nào. Một phép ẩn dụ hơi lộn xộn, Gút-lô Bành thì chẳng bao giờ phạm cái lỗi ấy. Tình địch là thế đấy.

Có thể nói Gút-lô thiên về sách vở, phép lịch sự, văn hoá, chèo thuyền, trí tuệ và quần áo. Còn tôi thì làm các vị nhớ tới bóng chày và những câu lạc bộ tranh luận tối thứ Sáu, coi như là văn hoá đấy, và có lẽ tới một tay cưỡi ngựa giỏi.

Nhưng trong những lần chuyện trò với nhau, cũng như những lần tới thăm và trò chuyện với Mây Mác-tha, cả Gút-lô Bành lẫn tôi đều không tìm ra cô thích đứa nào hơn. Mây Mác-tha bẩm sinh đã không bao giờ để lộ ý mình, và ngay từ trong nôi đã biết cách khiến người ta phải đoán già đoán non.

Như tôi đã nói, ông già Man-gâm đãng trí. Phải rất lâu sau, một hôm ông mới phát hiện ra, chắc là có con bướm nhỏ nào mách, rằng có hai chàng trai đang cố quăng lưới chụp lấy cái người trẻ tuổi, đứa con gái, hay một thứ phụ tùng kỹ thuật gì đó đại loại thế, vẫn lo cho ông được thoải mái.

Tôi chưa bao giờ biết các nhà khoa học có thể đứng lên đối phó với tình huống tới mức ấy. Ông già Man-gâm dễ dàng dán nhãn và xếp loại Gút-lô với tôi bằng miệng vào hàng thấp kém nhất của loài có xương sống, mà lại bằng tiếng Anh hẳn hoi, chẳng cần dùng tới mấy câu La-tinh. Rồi ông bảo nếu còn bắt gặp chúng tôi lảng vảng quanh nhà ông lần nữa thì ông sẽ cho chúng tôi vào bộ sưu tập của ông.

Gút-lô Bành và tôi tránh mặt năm ngày, chờ cơn bão lắng xuống. Khi chúng tôi đánh bạo tới nhà lần nữa thì Mây Mác-tha Man-gâm và cha cô đã đi mất. Đi mất! Ngôi nhà họ thuê đã đóng cửa. Chút của cải đồ đạc ít ỏi của họ cũng không còn.

Mây Mác-tha chẳng để lại cho ai trong hai chúng tôi một lời từ biệt. Chẳng có mảnh giấy trắng nào ghim trên bụi táo gai phấp phới, chẳng có vết phấn nào trên cột cổng, cũng chẳng có tấm bưu thiếp nào ở bưu điện cho chúng tôi một manh mối.

Suốt hai tháng, Gút-lô Bành và tôi, mỗi đứa một ngả, thử mọi cách nghĩ ra được để lần theo dấu hai người bỏ trốn. Chúng tôi dùng hết tình bạn và ảnh hưởng của mình với ông bán vé tàu, với mấy người chủ chuồng ngựa cho thuê, với mấy ông soát vé tàu hoả, và với ông cảnh sát duy nhất cô đơn khốn khổ của thị trấn, nhưng chẳng được gì.

Thế rồi chúng tôi thành bạn thân hơn và thành kẻ thù tệ hơn bao giờ hết. Chiều nào tan việc chúng tôi cũng tụ tập trong phòng sau quán rượu của Xnai-đơ, chơi đô-mi-nô, và giăng bẫy bằng lời để moi xem đứa kia có phát hiện được gì không. Tình địch là thế đấy.

Gút-lô Bành có một kiểu mỉa mai khoe học vấn của mình, và xếp tôi vào hạng mới học vỡ lòng. Chà, tôi khá quý Gút-lô, tôi khinh cái học vấn đại học của anh ta, và xưa nay người ta vẫn coi tôi là kẻ dễ tính, nên tôi giữ được bình tĩnh. Mà tôi đang cố tìm xem anh ta có biết gì về Mây Mác-tha không, nên tôi chịu đựng được bầu bạn với anh ta.

Một buổi chiều đang bàn bạc chuyện ấy, anh ta bảo tôi:

— Giả sử cậu tìm thấy cô ấy, Gim, thì cậu được gì? Cô Man-gâm có trí tuệ. Có lẽ nó chưa được vun đắp, nhưng cô ấy được sinh ra cho những điều cao xa hơn những gì cậu có thể đem lại. Tớ chưa từng nói chuyện với ai có vẻ biết thưởng thức hơn sự kỳ diệu của các thi nhân, văn nhân cổ đại, và những trường phái hiện đại đã hấp thụ và truyền bá triết lý sống của họ. Cậu không nghĩ là cậu đang phí thời gian đi tìm cô ấy à?

— Theo ý tớ, — tôi nói, — một mái ấm hạnh phúc là một ngôi nhà tám gian giữa lùm sồi xanh bên bờ một cái ao trên đồng cỏ Tếch-dát. Một cây đàn dương cầm, — tôi nói tiếp, — có bộ tự chơi trong phòng khách, ba nghìn con bò trong rào để khởi nghiệp, một cỗ xe nhẹ với mấy con ngựa con lúc nào cũng buộc sẵn ở cọc cho "bà chủ", và Mây Mác-tha Man-gâm tiêu tiền lời của trại tuỳ thích, sống với tớ, và ngày ngày cất dép với tẩu thuốc của tớ vào những chỗ mà buổi tối tớ không sao tìm thấy. Đó, — tôi nói, — là điều sẽ xảy ra. Còn chương trình học, trường phái với triết học của cậu thì với tớ chẳng đáng một quả vả khô.

— Cô ấy được sinh ra cho những điều cao xa hơn, — Gút-lô Bành nhắc lại.

— Cô ấy được sinh ra cho cái gì thì tớ không biết, — tôi đáp, — nhưng hiện giờ cô ấy biến đâu mất. Và tớ sẽ tìm ra cô ấy sớm nhất có thể, mà chẳng cần nhờ tới đại học.

— Hết nước đi rồi, — Gút-lô nói, đặt xuống một quân đô-mi-nô.

Và chúng tôi uống bia.

Ít lâu sau, một anh nông dân trẻ tôi quen lên thị trấn, mang cho tôi một tờ giấy xanh gấp lại. Anh ta bảo ông nội anh ta vừa mất. Tôi giấu một giọt nước mắt, anh ta nói tiếp rằng ông cụ đã khư khư giữ tờ giấy này suốt hai mươi năm. Ông để nó lại cho gia đình như một phần gia tài, phần còn lại gồm hai con la và một khoảnh đất hình cạnh huyền không cày cấy được.

Tờ giấy thuộc loại giấy xanh cũ dùng hồi nội chiến. Nó đề ngày mười bốn tháng Sáu năm một nghìn tám trăm sáu mươi ba, mô tả chỗ giấu mười lưng lừa chở tiền vàng tiền bạc, trị giá ba trăm nghìn đô-la. Ông già Rân-đơn, ông nội của anh Li, được một linh mục người Tây Ban Nha có mặt trong vụ chôn kho báu cho biết. Vị linh mục này đã mất nhiều năm trước... à không, sau đó... trong nhà ông già Rân-đơn. Ông già Rân-đơn viết lại theo lời đọc.

— Sao bố anh không đi tìm? — Tôi hỏi anh Li Rân-đơn.

— Bố tôi mù trước khi kịp đi, — anh đáp.

— Sao anh không tự đi tìm? — Tôi hỏi.

— Ấy, — anh nói, — tôi mới biết về tờ giấy được mười năm. Đầu tiên thì phải cày vụ xuân, rồi làm cỏ ruộng ngô, rồi tới mùa cắt cỏ khô, rồi chẳng mấy chốc đã sang đông. Năm này qua năm khác cứ thế mà trôi.

Nghe thế tôi thấy hoàn toàn hợp lý, nên lập tức bắt tay với anh Li Rân-đơn.

Lời chỉ dẫn trên tờ giấy rất đơn giản. Cả đoàn lừa chở kho báu xuất phát từ một nhà truyền giáo cũ của người Tây Ban Nha ở hạt Đô-lô-rét. Họ đi thẳng hướng nam theo la bàn cho tới sông A-la-mi-tô. Họ lội qua sông, rồi chôn kho báu trên đỉnh một ngọn núi nhỏ hình cái yên thồ, đứng thẳng hàng giữa hai ngọn cao hơn. Một đống đá đánh dấu chỗ chôn kho báu. Vài ngày sau, cả đoàn trừ vị linh mục đều bị người da đỏ giết. Bí mật ấy là độc quyền. Tôi thấy ngon ăn.

Li Rân-đơn đề nghị sắm đồ cắm trại, thuê một người đo đạc kẻ đường từ nhà truyền giáo, rồi đem ba trăm nghìn đô-la đi chơi bời ngắm cảnh ở Phoóc Uốt. Nhưng dù chẳng học hành cao xa, tôi biết một cách tiết kiệm thời gian và tiền bạc.

Chúng tôi tới Sở Địa chính bang, nhờ vẽ một bản sơ đồ thực tế, cái mà người ta gọi là sơ đồ "làm việc", gồm tất cả các lô đất đã đo đạc từ nhà truyền giáo cũ tới sông A-la-mi-tô. Trên tấm bản đồ ấy tôi kẻ một đường thẳng về hướng nam tới con sông. Chiều dài các cạnh của từng lô, từng khoảnh đất được ghi chính xác trên sơ đồ. Nhờ đó chúng tôi tìm ra điểm trên bờ sông, rồi cho nối nó với một góc quan trọng, được xác định rõ ràng, của khu đất Lốt A-ni-mốt, khu đất rộng năm dặm vuông do vua Phi-líp của Tây Ban Nha ban cấp.

Làm thế thì chẳng cần thuê người đo đạc kẻ đường. Tiết kiệm được khối tiền và thời gian.

Thế là Li Rân-đơn và tôi sắm một cỗ xe hai ngựa với đủ đồ lề, đánh xe một trăm bốn mươi chín dặm tới Chi-cô, thị trấn gần nhất với chỗ chúng tôi muốn tới. Ở đó chúng tôi đón một ông phó đo đạc của hạt. Ông tìm ra góc khu đất Lốt A-ni-mốt cho chúng tôi, đo năm nghìn bảy trăm hai mươi va-ra về phía tây như sơ đồ ghi, đặt một hòn đá ở chỗ ấy, uống cà phê ăn thịt xông khói, rồi đón xe thư về Chi-cô.

Tôi khá chắc là chúng tôi sẽ có ba trăm nghìn đô-la ấy. Phần của Li Rân-đơn chỉ là một phần ba, vì tôi bỏ tiền chịu mọi phí tổn. Có hai trăm nghìn đô-la ấy, tôi biết mình có thể tìm ra Mây Mác-tha Man-gâm nếu cô còn ở trên trái đất này. Và có số tiền ấy, tôi còn có thể làm lũ bướm trong chuồng chim của ông già Man-gâm phải xao xác nữa. Giá mà tôi tìm được kho báu ấy!

Li và tôi dựng trại. Bên kia sông có chục ngọn núi nhỏ phủ kín rừng tuyết tùng, nhưng chẳng ngọn nào hình cái yên thồ. Điều đó không làm chúng tôi nản. Vẻ ngoài vẫn hay đánh lừa. Một cái yên thồ, cũng như cái đẹp, có thể chỉ tồn tại trong mắt người nhìn.

Tôi và đứa cháu nội của kho báu xem xét những ngọn đồi phủ tuyết tùng ấy cẩn thận như một quý bà đi tìm con bọ chét độc ác. Chúng tôi lục soát từng sườn, từng đỉnh, từng chu vi, độ cao trung bình, từng góc, từng dốc, từng chỗ lõm của từng ngọn, suốt hai dặm xuôi ngược dọc sông. Chúng tôi mất bốn ngày làm việc ấy. Rồi chúng tôi thắng con ngựa lông đỏ với con ngựa lông xám, chở chỗ cà phê và thịt xông khói còn lại một trăm bốn mươi chín dặm về thị trấn Côn-chô.

Trên đường về Li Rân-đơn nhai rất nhiều thuốc lá. Tôi thì bận đánh xe, vì tôi đang vội.

Trở về tay trắng xong, chẳng bao lâu Gút-lô Bành và tôi lại tụ tập trong phòng sau quán rượu của Xnai-đơ chơi đô-mi-nô và câu tin tức. Tôi kể cho Gút-lô nghe chuyến đi tìm kho báu của mình.

— Giá tớ tìm được ba trăm nghìn đô-la ấy, — tôi bảo anh ta, — tớ đã có thể cào sục, sàng lọc cả mặt đất để tìm Mây Mác-tha Man-gâm.

— Cô ấy được sinh ra cho những điều cao xa hơn, — Gút-lô nói. — Tớ sẽ tự mình tìm ra cô ấy. Nhưng kể tớ nghe cậu đã làm thế nào để tìm ra chỗ người ta đã khinh suất chôn món của cải chưa được đào lên ấy.

Tôi kể cho anh ta nghe tỉ mỉ từng chi tiết. Tôi đưa anh ta xem bản sơ đồ của người vẽ, trên đó khoảng cách được ghi rõ ràng.

Liếc qua một lượt với vẻ thành thạo, anh ta ngả người ra ghế, tặng tôi một tràng cười bùng nổ, mỉa mai, kẻ cả, đầy chất đại học.

— Chà, cậu đúng là đồ ngốc, Gim ạ, — anh ta nói, khi đã nói được.

— Tới lượt cậu đi, — tôi kiên nhẫn nói, tay mân mê quân đôi sáu.

— Hai mươi, — Gút-lô nói, lấy phấn vạch hai dấu chéo lên bàn.

— Sao tớ lại là đồ ngốc? — Tôi hỏi. — Người ta đã tìm thấy kho báu chôn giấu ở khối nơi rồi.

— Bởi vì, — anh ta nói, — khi tính điểm mà đường kẻ của cậu chạm tới bờ sông, cậu đã quên trừ độ lệch. Ở đó độ lệch là chín độ về phía tây. Đưa tớ cây bút chì của cậu.

Gút-lô Bành tính nhanh trên mặt sau một chiếc phong bì.

— Khoảng cách theo hướng bắc nam của đường kẻ từ nhà truyền giáo Tây Ban Nha, — anh ta nói, — đúng hai mươi hai dặm. Theo lời cậu kể thì nó được đo bằng la bàn bỏ túi. Trừ độ lệch đi, thì điểm trên sông A-la-mi-tô mà lẽ ra cậu phải tìm kho báu nằm xa hơn về phía tây đúng sáu dặm và chín trăm bốn mươi lăm va-ra so với chỗ cậu đã tìm. Ôi, cậu ngốc quá, Gim ạ!

— Cái độ lệch cậu nói là cái gì thế? — Tôi hỏi. — Tớ tưởng con số chẳng bao giờ nói dối.

— Độ lệch của la bàn từ, — Gút-lô nói, — so với kinh tuyến thật.

Anh ta mỉm cười theo kiểu kẻ cả của mình. Rồi tôi thấy hiện lên trên mặt anh ta cái lòng tham kỳ lạ, háo hức, thiêu đốt của kẻ đi tìm kho báu.

— Đôi khi, — anh ta nói, với vẻ của nhà tiên tri, — những truyền thuyết cũ về tiền chôn giấu này cũng không phải là không có cơ sở. Hay cậu cho tớ xem qua tờ giấy mô tả vị trí ấy. Biết đâu cả hai ta có thể...

Kết quả là Gút-lô Bành và tôi, tình địch trong tình yêu, trở thành bạn đồng hành trong cuộc phiêu lưu. Chúng tôi đi xe ngựa chở khách từ Han-tơ-xbớc, thị trấn có ga tàu gần nhất, tới Chi-cô. Ở Chi-cô chúng tôi thuê một cỗ xe có mui, có lò xo, với đồ cắm trại. Chúng tôi nhờ đúng ông đo đạc lần trước đo lại khoảng cách theo sự điều chỉnh của Gút-lô với mấy cái độ lệch của anh ta, rồi trả tiền cho ông về.

Chúng tôi tới nơi lúc trời tối. Tôi cho ngựa ăn, nhóm lửa gần bờ sông, nấu bữa tối. Gút-lô lẽ ra cũng đã giúp, nhưng học vấn của anh ta không chuẩn bị cho anh ta làm những việc thực tế.

Nhưng trong lúc tôi làm, anh ta động viên tôi bằng cách nói ra những tư tưởng lớn lao mà người xưa đã khuất truyền lại. Anh ta đọc thuộc lòng rất dài vài bản dịch từ tiếng Hy Lạp.

— Thơ A-na-crê-ôn đấy, — anh ta giải thích. — Đó là đoạn cô Man-gâm thích nhất, khi tớ đọc cho cô ấy nghe.

— Cô ấy được sinh ra cho những điều cao xa hơn, — tôi nói, nhắc lại câu của anh ta.

— Còn gì cao xa hơn, — Gút-lô hỏi, — là được sống giữa các tác phẩm kinh điển, sống trong bầu không khí học vấn và văn hoá? Cậu thường chê bai học vấn. Thế còn những nỗ lực uổng công của cậu vì không biết những phép toán đơn giản thì sao? Nếu kiến thức của tớ không chỉ ra chỗ sai của cậu thì bao giờ cậu mới tìm thấy kho báu?

— Trước hết ta hãy xem mấy ngọn đồi bên kia sông đã, — tôi nói, — xem ta tìm được gì. Tớ vẫn còn ngờ mấy cái độ lệch ấy. Tớ được dạy từ bé rằng kim la bàn bao giờ cũng chỉ đúng hướng bắc.

Sáng hôm sau là một ngày tháng Sáu rực rỡ. Chúng tôi dậy sớm, ăn sáng. Gút-lô say mê cảnh vật. Anh ta đọc thơ của mấy nhà thơ lãng mạn nước Anh trong khi tôi nướng thịt xông khói. Chúng tôi đang chuẩn bị qua sông, ở chỗ ấy nó chỉ hơn một con lạch nông chút đỉnh, để khám phá những ngọn đồi đỉnh nhọn phủ tuyết tùng bên kia.

— Hỡi chàng U-lít-xơ tốt bụng của ta, — Gút-lô vỗ vai tôi trong lúc tôi đang rửa mấy cái đĩa sắt tây ăn sáng, — cho tớ xem lại tấm văn tự thần kỳ một lần nữa. Tớ nhớ nó có chỉ cách leo lên ngọn đồi hình cái yên thồ. Tớ chưa thấy cái yên thồ bao giờ. Nó trông thế nào hả Gim?

— Văn hoá thua một điểm nhé, — tôi nói. — Thấy là tớ nhận ra ngay.

Gút-lô đang xem tờ văn tự của ông già Rân-đơn thì bật ra một câu chửi chẳng có chút gì là đại học.

— Lại đây, — anh ta nói, giơ tờ giấy lên trước ánh mặt trời. — Nhìn cái này xem, — anh ta nói, đặt ngón tay lên đó.

Trên tờ giấy xanh, một thứ tôi chưa từng để ý, tôi thấy nổi lên một chữ và mấy con số màu trắng: "Man-vơn, một nghìn tám trăm chín mươi tám".

— Thì sao? — Tôi hỏi.

— Đó là hình chìm, — Gút-lô nói. — Tờ giấy được sản xuất năm một nghìn tám trăm chín mươi tám. Chữ viết trên giấy lại đề năm một nghìn tám trăm sáu mươi ba. Đây là một vụ lừa đảo rành rành.

— Ồ, chưa chắc đâu, — tôi nói. — Nhà Rân-đơn là dân quê thật thà, không học hành, khá đáng tin cậy. Có khi mấy nhà sản xuất giấy định lừa đảo cũng nên.

Thế là Gút-lô Bành nổi cơn điên tới mức học vấn của anh ta cho phép. Anh ta để rơi cặp kính khỏi mũi, trừng mắt nhìn tôi.

— Tớ đã nói với cậu bao nhiêu lần rồi là cậu là đồ ngốc, — anh ta nói. — Cậu để một thằng nhà quê lừa. Rồi cậu lừa tớ.

— Tớ lừa cậu thế nào? — Tôi hỏi.

— Bằng sự ngu dốt của cậu, — anh ta nói. — Hai lần tớ đã phát hiện ra những sai lầm nghiêm trọng trong kế hoạch của cậu, những sai lầm mà một người học hết tiểu học cũng tránh được. Và, — anh ta nói tiếp, — tớ đã phải tốn những khoản tiền tớ khó lòng kham nổi để theo đuổi cuộc truy tìm lừa đảo này. Tớ xong rồi.

Tôi đứng dậy, chĩa vào anh ta một cái thìa thiếc to vừa nhấc khỏi chậu nước rửa bát.

— Gút-lô Bành, — tôi nói, — tớ chẳng màng tới học vấn của cậu dù chỉ bằng một hạt đậu luộc. Tớ xưa nay vẫn chỉ miễn cưỡng chịu đựng nó ở bất cứ ai, còn ở cậu thì tớ khinh nó. Học vấn của cậu đã làm được gì cho cậu? Nó là tai hoạ cho chính cậu và là nỗi chán ngấy cho bạn bè cậu. Cút đi, — tôi nói, — cút đi cùng mấy cái hình chìm với độ lệch của cậu! Chúng chẳng là gì với tớ. Chúng chẳng làm tớ chệch khỏi cuộc truy tìm đâu.

Tôi dùng cái thìa chỉ qua sông, về phía một ngọn núi nhỏ hình cái yên thồ.

— Tớ sẽ lục soát ngọn núi ấy, — tôi nói tiếp, — để tìm kho báu. Quyết định ngay đi, cậu có tham gia hay không. Nếu cậu để một cái hình chìm hay một cái độ lệch làm lung lay tâm hồn, thì cậu chẳng phải nhà phiêu lưu thực thụ. Quyết định đi.

Một đám bụi trắng bắt đầu bốc lên xa xa dưới con đường dọc sông. Đó là chiếc xe thư đi từ Hét-pê-rút tới Chi-cô. Gút-lô vẫy nó lại.

— Tớ xong với trò lừa đảo này rồi, — anh ta cay cú nói. — Bây giờ chỉ có thằng ngốc mới còn để ý tới tờ giấy ấy. Mà cậu thì xưa nay vẫn là thằng ngốc, Gim ạ. Tớ để mặc cậu với số phận của cậu.

Anh ta gom đồ đạc riêng, trèo lên xe thư, bồn chồn chỉnh lại cặp kính, rồi bay đi trong một đám bụi.

Rửa bát xong, buộc ngựa ra chỗ cỏ mới, tôi lội qua con sông nông, chầm chậm vượt qua rừng tuyết tùng lên tới đỉnh ngọn đồi hình cái yên thồ.

Đó là một ngày tháng Sáu tuyệt đẹp. Cả đời tôi chưa từng thấy nhiều chim chóc đến thế, nhiều bướm, chuồn chuồn, châu chấu, và đủ loài sinh vật có cánh, có ngòi trên trời và ngoài đồng đến thế.

Tôi xem xét ngọn đồi hình cái yên thồ từ chân lên tới đỉnh. Tôi thấy hoàn toàn không có dấu vết gì liên quan tới kho báu chôn giấu. Không có đống đá nào, không có vết đẽo cũ nào trên thân cây, chẳng có bằng chứng nào về ba trăm nghìn đô-la như tờ văn tự của ông già Rân-đơn mô tả.

Tôi xuống đồi lúc chiều mát. Bỗng, ra khỏi rừng tuyết tùng, tôi bước vào một thung lũng xanh tươi tuyệt đẹp, nơi một con suối nhỏ đổ vào sông A-la-mi-tô.

Và ở đó tôi giật mình thấy một người mà tôi tưởng là người rừng, râu ria bờm xờm, tóc tai rối bù, đang đuổi theo một con bướm khổng lồ cánh rực rỡ.

"Có lẽ là một người điên trốn trại," tôi nghĩ, và tự hỏi sao ông ta lại đi lạc xa những chốn học vấn và tri thức tới thế.

Rồi tôi bước thêm vài bước nữa, và thấy một ngôi nhà nhỏ phủ đầy dây leo bên con suối. Và trong một khoảng cỏ nhỏ, tôi thấy Mây Mác-tha Man-gâm đang hái hoa dại.

Cô đứng thẳng dậy nhìn tôi. Lần đầu tiên từ khi quen cô, tôi thấy gương mặt cô, gương mặt trắng như phím ngà của cây đàn dương cầm mới, ửng hồng lên. Tôi lặng lẽ đi về phía cô. Cô để những bông hoa vừa hái chầm chậm rơi khỏi tay xuống cỏ.

— Em biết thế nào anh cũng tới, anh Gim ạ, — cô nói rành rọt. — Bố không cho em viết thư, nhưng em biết thế nào anh cũng tới.

Chuyện gì xảy ra sau đó thì các vị đoán được. Cỗ xe với cặp ngựa của tôi ở ngay bên kia sông.

Tôi vẫn thường tự hỏi học vấn nhiều quá thì có ích gì cho một người, nếu anh ta không dùng được nó cho chính mình. Nếu mọi lợi ích của nó đều dành cho người khác, thì nó có ích ở chỗ nào?

Vì Mây Mác-tha Man-gâm giờ đang sống với tôi. Có một ngôi nhà tám gian giữa lùm sồi xanh, một cây đàn dương cầm có bộ tự chơi, và đàn bò đã có một khởi đầu khá tốt để tiến tới con số ba nghìn con trong rào.

Và tối tối khi tôi cưỡi ngựa về nhà, tẩu thuốc với dép của tôi đã được cất vào những chỗ mà tôi không sao tìm thấy.

Nhưng ai mà thèm để ý chuyện ấy? Ai mà thèm, ai mà thèm?

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Buried Treasure, O. Henry, in trong tuyển tập Options
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →