— Sắp có bão đấy, anh bạn.
— Phải, thưa cai, sẽ có bão lớn. Tôi biết rõ cái gió đông này. Đêm nay biển sẽ động dữ lắm.
— Cầu thánh Giu-se che chở cho những người đi biển của chúng ta. Dân chài đã kịp về cả rồi…
— Nhưng ông nhìn kìa: đằng kia, hình như tôi thấy có một cánh buồm.
— Không, đó là cánh chim vừa vụt qua. Gió thì cậu nấp sau mấy lỗ châu mai trên tường mà tránh… Chào cậu. Hai giờ nữa đổi gác…
Viên cai đi khỏi, người lính gác ở lại trên tường của pháo đài nhỏ, bốn bề là sóng nhấp nhô.
Bão đang tới gần thật. Mặt trời lặn, gió mỗi lúc một mạnh, ráng chiều rực lên màu đỏ thắm, và lửa trời càng lan rộng thì màu xanh của biển càng thẫm lại, càng lạnh lẽo. Đây đó trên mặt biển tối sẫm đã lổ đổ những ngọn sóng bạc đầu, như thể lòng đại dương bí ẩn đang muốn nhô lên nhìn ra ngoài, dữ tợn và tái nhợt vì cơn giận đã nén từ lâu.
Trên trời cũng bao trùm một vẻ lo âu hối hả. Những đám mây kéo dài thành từng dải, bay từ đông sang tây, rồi tới đó lần lượt bốc cháy, như thể cơn bão đang ném chúng vào miệng một cái lò khổng lồ nung đỏ.
Hơi thở của cơn giông đã phả trên mặt đại dương.
Trên làn sóng tối, như cánh một con chim hoảng sợ, thấp thoáng một cánh buồm. Một người đánh cá về muộn, chạy trốn cơn bão, hẳn đã không còn hy vọng tới được bờ xa, nên lái thuyền về phía pháo đài.
Bờ xa đã chìm từ lâu trong sương mù, bụi nước và bóng chiều đang buông. Biển gầm lên trầm và dài, sóng nối sóng lăn về phía chân trời còn ửng sáng. Cánh buồm thấp thoáng, lúc ẩn lúc hiện. Chiếc thuyền đi chữ chi, vất vả vượt sóng, chầm chậm tiến về hòn đảo. Người lính gác nhìn nó từ trên tường pháo đài, có cảm giác bóng chiều và biển cả đang có ý thức, đầy đe doạ, vội vã phủ lên con thuyền duy nhất ấy bóng tối, cái chết, tiếng vỗ của những con sóng hoang vu.
Trên tường pháo đài loé lên một đốm lửa, rồi đốm thứ hai, thứ ba. Chiếc thuyền đã khuất, nhưng người đánh cá có thể thấy được những ngọn đèn: vài đốm lửa run rẩy trên đại dương mênh mông đang nổi sóng.
— Đứng lại! Ai đó?
Người lính gác trên tường gọi chiếc thuyền, giương súng nhắm.
Nhưng biển còn đáng sợ hơn lời đe doạ ấy. Người đánh cá không thể buông tay lái, vì sóng sẽ lập tức quăng thuyền vào đá… Vả lại mấy khẩu súng cũ của Tây Ban Nha bắn cũng chẳng trúng lắm. Chiếc thuyền thận trọng như một con chim đang bơi, chờ con sóng xô bờ, xoay mình ngay trên đỉnh sóng, rồi bất chợt hạ buồm… Sóng xô nó tới, và sống thuyền trượt lên sỏi đá trong cái vịnh nhỏ.
— Ai đó? Người lính gác lại hét to, anh vẫn hồi hộp theo dõi những đường lượn nguy hiểm của con thuyền.
— Anh em đây! Người đánh cá đáp. Mở cổng ra, nhân danh thánh Giu-se. Anh xem bão thế kia!
— Chờ đấy, cai tới ngay.
Trên tường những cái bóng chuyển động, rồi cánh cửa nặng nề mở ra, ánh đèn lồng thấp thoáng, có tiếng người nói. Người Tây Ban Nha cho người đánh cá vào. Sau bức tường, trong trại lính, anh sẽ có chỗ trú và hơi ấm suốt đêm nay. Thật dễ chịu khi được nằm yên mà nhớ lại tiếng gầm giận dữ của đại dương và bóng tối đe doạ trên vực sâu, nơi vừa mới đây thôi con thuyền của anh còn chao đảo.
Cánh cửa đóng sập lại, như thể pháo đài tự khoá mình trước biển, trên đó, lấp lánh bí ẩn những đốm bọt lân tinh, cơn gió giật đầu tiên đã ập tới thành một dải sóng rộng trùm khắp mặt biển.
Còn trong ô cửa sổ của ngọn tháp góc, một đốm lửa sáng chập chờn, và chiếc thuyền được kéo vào vịnh dập dềnh đều đều, khe khẽ rít lên dưới những cú đập của con sóng đã bị dội lại, đã vỡ tan, nhưng vẫn còn mạnh.
Trong ngọn tháp góc là một xà lim của nhà tù quân sự Tây Ban Nha. Trong một khoảnh khắc, đốm lửa đỏ hắt ra từ cửa sổ của nó tối đi, sau chấn song hiện lên hình bóng một con người. Có ai đó nhìn ra biển tối, rồi lùi vào. Đốm lửa lại chập chờn những ánh đỏ trên ngọn sóng.
Đó là Khu-an Ma-ri-a Hô-xê Mi-gu-en Đi-át, người nghĩa quân, kẻ nổi loạn. Trong cuộc khởi nghĩa trước, người Tây Ban Nha bắt được anh và kết án tử hình, nhưng rồi do một chút nhân từ bất chợt của ai đó, anh được ân xá. Người ta ban cho anh sự sống, tức là đưa anh ra hòn đảo này và nhốt vào tháp. Ở đây người ta tháo xiềng cho anh. Xiềng chẳng cần nữa: tường bằng đá, cửa sổ có chấn song sắt dày, ngoài cửa sổ là biển. Cuộc đời anh chỉ còn là được nhìn qua cửa sổ về bờ biển xa xa… Và nhớ… Và có lẽ còn hy vọng nữa.
Thời gian đầu, những ngày trời sáng, khi mặt trời lấp lánh trên ngọn sóng xanh và làm bờ xa hiện rõ, anh nhìn về phía ấy rất lâu, ngắm kỹ dáng những ngọn núi quê nhà, những khe núi uốn lượn mờ mờ, những chấm nhỏ li ti của các làng mạc xa… Anh đoán ra những vịnh nhỏ, những con đường, những lối mòn trên núi, nơi anh tưởng như có những bóng người nhẹ nhàng đang đi lại, và trong số đó có một bóng hình từng gần gũi với anh… Anh chờ trên núi lại loé lên những ánh lửa súng cùng những cuộn khói, chờ những cánh buồm mang lá cờ khởi nghĩa và tự do thân thương từ bờ xa lướt sóng tới đây. Anh chuẩn bị cho ngày ấy, kiên nhẫn, thận trọng, bền bỉ đục đá quanh cái chấn song hoen gỉ.
Nhưng năm tháng trôi qua. Trên bờ mọi sự đều yên ả, trong khe núi phủ sương xanh, chỉ có chiếc ca nô tuần tra Tây Ban Nha nhỏ rời bờ, và những thuyền chài hiền lành ngược xuôi trên biển như những con hải âu kiếm mồi…
Dần dần tất cả quá khứ với anh trở thành như một giấc mơ. Bờ biển đã bị khuất phục thiu thiu ngủ trong làn sương vàng như trong mơ, và những bóng ma của thời đã qua lang thang trên đó cũng như trong mơ… Còn khi từ bờ có làn khói bốc lên, và một chiếc ca nô quân sự rẽ sóng chạy tới, anh biết: đó là người ta chở ra đảo một tốp cai ngục và lính gác mới…
Rồi lại thêm những năm tháng trôi qua trong cơn mê ngủ ấy. Khu-an Ma-ri-a Mi-gu-en Hô-xê Đi-át yên lòng, bắt đầu quên cả những giấc mơ của mình. Đến cả bờ xa anh cũng nhìn bằng một vẻ dửng dưng đờ đẫn, và từ lâu đã thôi đục chấn song… Để làm gì?…
Chỉ khi gió đông nổi lên, ở vùng này gió ấy đặc biệt mạnh, sóng bắt đầu đảo những hòn đá trên sườn hòn đảo nhỏ, thì tận đáy lòng anh, như những hòn đá dưới đáy biển kia, một nỗi buồn mơ hồ và đờ đẫn mới âm ỉ cựa quậy. Anh có cảm giác từ bờ biển mờ sương lại có những cái bóng nào đó tách ra, lướt trên những ngọn sóng, gào lên điều gì đó, to, vội vã, thảm thiết, lo âu… Anh biết đó chỉ là biển gào, nhưng không thể không bất giác lắng nghe những tiếng gào ấy… Và tận đáy lòng anh dâng lên một cơn xao động nặng nề, tối tăm.
Trong căn buồng nhỏ của anh, từ góc này sang góc kia, theo đường chéo, trên nền đá có một con đường trũng xuống. Đó là do anh đã đi chân trần mà mòn cả đá, những đêm giông bão chạy đi chạy lại trong cái lồng của mình. Có khi trong những đêm như thế, anh lại cào lên tường quanh chấn song. Nhưng ngay buổi sáng đầu tiên, khi biển đã lặng, dịu dàng liếm những bậc đá của hòn đảo, anh cũng lặng đi, và quên những phút điên cuồng…
Anh biết không phải chấn song giữ anh lại ở đây… Mà là cái biển xảo trá ấy, khi giận dữ khi dịu dàng, và còn… cái yên lặng ngái ngủ của bờ biển xa, uể oải và đờ đẫn ngủ say trong sương mù của nó…
Cứ thế lại thêm những năm tháng trôi qua, mà giờ anh thấy chỉ như những ngày. Thời gian ngủ thì không tồn tại với ý thức, mà cả cuộc đời anh đã thành một giấc ngủ, đờ đẫn, nặng nề và chẳng để lại dấu vết gì.
Tuy vậy, từ ít lâu nay, trong giấc ngủ ấy lại bắt đầu thấp thoáng những ảo ảnh lạ lùng. Những ngày trời thật sáng, trên bờ bốc lên khói của những đống lửa hay những đám cháy. Trong pháo đài có những chuyển động khác thường: người Tây Ban Nha bắt tay sửa những bức tường cũ. Những chỗ hư hại có từ những năm yên ả được vội vàng trám lại. Những chiếc xuồng máy mang cờ quân đội Tây Ban Nha chạy giữa bờ và đảo nhiều hơn trước. Đôi ba lần, như những tấm lưng nặng nề của quái vật biển, những chiếc tàu bọc sắt có tháp pháo nhô ngay trên mặt nước nặng nhọc trườn qua. Đi-át nhìn chúng bằng ánh mắt đục mờ, đôi khi thoáng vẻ ngạc nhiên. Có một lần anh còn thấy hình như trong khe núi và trên những bậc đá của ngọn núi quen thuộc, hôm ấy rực nắng, có những làn khói trắng của súng bắn bốc lên, nhỏ như đầu đinh ghim, bất chợt nổi lên rõ nét trên nền xanh thẫm rồi lặng lẽ tan vào không khí sáng trong. Có một lần một chiếc tàu bọc sắt dài đen tiến về phía bờ xa, và mấy tiếng nổ ngắn, cụt từ biển dội vào cửa sổ anh. Anh đưa tay nắm chặt chấn song, lắc mạnh. Nó kêu leng keng, rung lên. Đá vụn và vữa rơi lả tả từ những cái hốc nơi những thanh sắt được gắn vào tường…
Nhưng lại mấy ngày nữa qua đi… Bờ biển lại im ắng, lại thiu thiu ngủ. Biển vắng tanh, sóng khe khẽ, trầm ngâm lăn lên nhau, rồi như chẳng biết làm gì, vỗ vào bờ đá… Và anh nghĩ đó lại chỉ là một giấc mơ…
Nhưng hôm ấy, từ sáng biển lại bắt đầu chọc tức anh. Vài con sóng đã tràn qua bờ đê chắn sóng ngăn vịnh, và phía bên trái nghe thấy những hòn đá đang bò từ đáy biển lên sườn bờ… Tới chiều, trong khung cửa sổ vuông chốc chốc lại thấp thoáng những tia bọt lấp lánh. Sóng vỗ bờ cất lên bài hát trầm hùng của nó, bờ đáp lại bằng những tiếng rên và tiếng ầm ầm sâu thẳm.
Đi-át chỉ nhún vai, quyết định đi ngủ sớm. Biển muốn nói gì cứ nói. Còn chiếc thuyền về muộn mà anh thấy qua cửa sổ kia, cứ để nó tự xoay xở ra khỏi đống sóng hỗn loạn ấy. Chiếc thuyền nô lệ từ bờ biển nô lệ… Anh chẳng liên quan gì tới nó, cũng chẳng liên quan gì tới những tiếng nói của biển.
Anh nằm xuống tấm nệm của mình.
Khi người lính gác Tây Ban Nha vào giờ thường lệ mang đèn lồng tới, đặt nó từ ngoài hành lang vào cái lỗ trên cánh cửa khoá kín, ánh sáng soi lên một hình người đang nằm và một gương mặt tái nhợt nhắm mắt. Đi-át có vẻ đang ngủ yên. Chỉ thỉnh thoảng đôi lông mày anh nhíu lại, trên mặt thoáng qua vẻ đau đớn đờ đẫn, như thể tận đáy ý thức đang ngủ có cái gì đó âm ỉ, nặng nề cựa quậy, như những hòn đá ven bờ dưới đáy biển sâu kia…
Nhưng bỗng anh tỉnh hẳn, như có ai vừa gọi tên. Đó là một cơn gió giật vượt nguyên qua bờ đê, đập thẳng vào tường. Ngoài cửa sổ, những mảng bọt lân tinh trắng bay vùn vụt trong bóng tối, và ngay cả khi tiếng ầm đã lặng, xà lim vẫn đầy tiếng rít và tiếng huýt. Những tiếng vọng lọt qua cánh cửa khoá, lao đi khắp các hành lang. Dường như có một cái gì đó dữ dằn có ý thức đã bay qua hòn đảo, rồi đang lặng đi, tắt dần ở phía xa…
Đi-át đứng phắt dậy. Anh có cảm giác mình chỉ vừa ngủ có vài giây, anh nhìn ra cửa sổ, mong vẫn còn thấy cánh buồm trắng nhỏ ở xa. Nhưng ngoài cửa sổ đen kịt, biển cuồng loạn trong bóng tối mịt mùng, và nghe vẳng lại những tiếng gào hỗn độn của cơn gió giật đang chạy xa.
Những cơn bão như thế không thường có, nhưng anh vẫn biết rõ cả tiếng ầm, tiếng rít, tiếng huýt ấy, cả cái rung chuyển ngầm của bờ đá. Nhưng giờ đây, khi tiếng gầm buông thả ấy bắt đầu dịu xuống, bên dưới nó lại nghe thấy một âm thanh mới, một cái gì đó khe khẽ, dịu dàng và xa lạ…
Anh lao tới cửa sổ, lại hai tay nắm lấy chấn song, nhìn vào bóng tối. Biển không hình thù và hoang dại. Bờ xa bị nuốt trọn trong màn sương nặng nề. Chỉ trong vài khoảnh khắc, giữa bờ và đám mây, một vầng trăng đỏ mờ sương trượt qua. Những ánh phản chiếu xa xôi, chập chờn lộn xộn dao động trên đỉnh những con sóng điên cuồng rồi tắt… Chỉ còn lại tiếng gầm, mạnh mẽ, có ý thức một cách hoang dại, hối hả, và vui sướng mời gọi…
Hô-xê Ma-ri-a Mi-gu-en Đi-át cảm thấy mọi thứ trong mình đang run lên, đang xao động như biển. Tâm hồn bừng tỉnh sau giấc ngủ dài, ý thức sáng ra, những khát khao đã tắt từ lâu sống lại… Và bỗng anh nhớ rõ những gì anh đã thấy trên bờ mấy hôm trước… Đó đâu phải giấc mơ! Sao anh lại có thể coi đó là giấc mơ? Đó là sự chuyển động, đó là tiếng súng… Đó là khởi nghĩa!…
Lại một cơn gió giật ập tới, lại những tia bọt lấp lánh bay qua, và lại từ dưới tiếng rít, tiếng vỗ, vang lên âm thanh ấy, xa lạ và dịu dàng. Đi-át lao tới chấn song, trong một cơn phấn chấn lạ lùng, lắc nó thật mạnh. Vữa và đá vụn đã bị bụi nước mặn ăn mòn lại rơi lả tả, vài hòn đá rơi xuống, và cái chấn song tuột ra khỏi lỗ tường.
Còn dưới cửa sổ, trong vịnh, chiếc thuyền đang chao đảo và rít lên…
Trên tường, lúc ấy đúng giờ đổi gác.
— Lạy thánh Giu-se… Lạy Đức Mẹ Ma-ri-a! Người lính gác mới lẩm bẩm, trùm mũ lên đầu rồi nấp vào sau một chỗ tường nhô ra. Khắp mặt biển, trên toàn bộ bề rộng của nó, lúc dâng lúc hạ, ngọn sóng bạc đầu loang loáng trong bóng tối, một cơn gió giật mới đang lao tới. Gió như phát điên, hòn đảo đã run lên và rên rỉ từ trước khi nó tới. Từ đáy biển, như những bóng ma nhợt nhạt, những hòn đá khổng lồ đã nằm dưới sâu hàng năm trời bò lên sườn đảo.
Cơn gió giật ập tới đúng lúc Đi-át nhảy ra khỏi cửa sổ. Nước lập tức trùm lên anh, làm anh choáng váng, quật anh ngã… Vài giây anh nằm đó bất tỉnh, chỉ còn nỗi kinh hoàng trong lòng, lạnh cóng và khốn khổ, còn phía trên anh một cái gì đó khổng lồ, hoang dại, thù địch đang gào rú lao qua…
Khi tiếng ầm ầm dịu đi một chút, anh mở mắt. Trên trời những đám mây đen đang bay, không một kẽ hở, không một đường nét. Cảm thấy được hơn là nhìn thấy sự chuyển động của những khối khổng lồ ấy, vẫn không gì ngăn nổi đang lao về phía tây. Còn ở phía xa, lại đang nổi lên một cái gì đó, không nhìn thấy nhưng dữ dằn, gầm gừ u ám, rợn người, không dứt.
Chỉ có những bức tường đá của pháo đài là đứng im và bình thản giữa muôn sự chuyển động. Trong bóng tối có thể nhận ra những nòng đại bác chìa ra khỏi lỗ châu mai… Từ trại lính phía xa, trong một quãng tương đối lặng gió, vọng lại tiếng kinh chiều, tiếng trống đánh hồi báo giờ nghỉ cuối… Ở đó, sau những bức tường kia, dường như sự yên ổn đã khép kín. Đốm lửa trong ngọn tháp của anh sáng đều đều, không chớp.
Đi-át đứng dậy, rồi như một con chó vừa bị đòn, đi về phía đốm lửa ấy… Không, biển xảo trá và khủng khiếp lắm. Anh sẽ vào lại căn xà lim yên tĩnh của mình, lắp lại chấn song, nằm xuống tấm nệm trong góc của mình, ngủ giấc ngủ nặng nề nhưng an toàn của kiếp tù đày.
Chỉ cần trám kỹ chấn song lại để toán tuần tra không nhận ra… Kẻo người ta lại nghĩ anh muốn trốn trong đêm bão này… Không, anh không muốn trốn… Ra biển là chết…
Anh nắm lấy gờ tường, leo lên tới cửa sổ, rồi dừng lại…
Trong xà lim trống trơn và tương đối yên tĩnh. Ánh đèn lồng vàng vọt đều đều rọi lên tường, lên nền nhà bị dẫm mòn, lên tấm nệm nằm trong góc… Phía trên chỗ đầu nằm, khắc sâu vào đá, hiện lên một dòng chữ:
“Khu-an Ma-ri-a Hô-xê Mi-gu-en Đi-át, nghĩa quân. Tự do muôn năm!”
Và khắp các bức tường, chữ to chữ nhỏ, khắc sâu hay chỉ mới vạch qua, đâu đâu cũng thấp thoáng những dòng chữ ấy:
“Khu-an Mi-gu-en Đi-át… Mi-gu-en Đi-át…” Và những con số…
Thoạt đầu anh đánh dấu thời gian bằng ngày, bằng tuần, rồi bằng tháng… “Lạy Đức Mẹ, đã hai năm rồi”… “Ba năm… Lạy Chúa, xin giữ cho con trí khôn… Đi-át… Đi-át…”
Năm thứ mười chỉ đánh dấu bằng một con số, không có lời than nào… Sau đó thì thôi đếm… Chỉ có cái tên là vẫn còn thấp thoáng, khắc bằng một bàn tay đã yếu đi và lười nhác… Và trên tất cả những thứ ấy, ánh đèn lồng vàng vọt rọi xuống, dửng dưng và đều đặn…
Và bỗng Đi-át có cảm giác trên giường anh có một người đang nằm, ngủ giấc ngủ nặng nề. Lồng ngực phập phồng khe khẽ, với một sự bình thản đờ đẫn… Đó là anh ư? Cái anh Đi-át đã bước vào đây đầy sức sống và tình yêu đời, yêu tự do ấy ư?…
Một cơn gió giật mới gào rú, ầm ầm lao tới hòn đảo… Đi-át buông tay, lại nhảy xuống bờ. Cơn gió giật lao qua rồi bắt đầu lặng… Đốm lửa đều đặn lại rọi từ cửa sổ ra bóng tối.
Người lính gác trên tường quay lưng về phía gió, hai tay ôm chặt khẩu súng kẻo bão giật mất, đang lầm rầm đọc kinh, vừa nghe tiếng gầm như địa ngục của biển và tiếng gió rít điên cuồng. Bầu trời càng tối hơn. Dường như cả thế giới đã bị bóng tối không hình thù ấy nuốt trọn, bóng tối trùm lên như nhau cả mây, cả không khí, cả biển. Chỉ thỉnh thoảng giữa tiếng ồn, tiếng ầm ầm, tiếng vỗ, những ngọn sóng bạc đầu bất chợt hiện ra đến giật mình, và con sóng lao vào hòn đảo, hắt bụi nước bay xa qua những bức tường thấp.
Đọc hết những bài kinh mình biết, người lính gác quay ra phía biển, rồi sững người kinh ngạc. Dọc theo vịnh, giữa một khoảng tương đối lặng sóng, khó khăn lắm mới nhận ra trong bóng tối, một chiếc thuyền đang di chuyển, tiến tới chỗ biển không còn được che gió, đang sôi sục và vùng vẫy trong đêm đen. Bỗng cánh buồm trắng vụt giương lên, căng phồng gió. Chiếc thuyền chao đi, nhô lên, rồi biến mất…
Đúng khoảnh khắc ấy Đi-át ngoái nhìn lại, và anh có cảm giác hòn đảo nhỏ tối sẫm chao đi rồi rơi xuống vực sâu, cùng với đốm lửa đều đặn đã dõi theo anh bằng thứ ánh sáng chết chóc của nó cho tới tận khoảnh khắc ấy. Phía trước chỉ còn hỗn mang và bão tố. Một niềm hân hoan sôi sục tràn ngập tâm hồn đã đông cứng của anh. Anh nắm chặt bánh lái, căng buồm, và hét to lên… Đó là tiếng hét của niềm vui không gì kìm nổi, của nỗi hân hoan không bờ bến, của sự sống đã thức dậy và nhận ra chính mình… Sau lưng vang lên một tiếng súng trường nghẹt tiếng, rồi tiếng đại bác ầm ầm vọng đi xa, bị cơn bão xé tan, thổi tung. Bên sườn, một cơn gió giật lao tới, nhấc con thuyền lên… Nó nhô lên, nhô lên mãi… như cả một thiên thu… Hô-xê Ma-ri-a Mi-gu-en Đi-át nhíu chặt đôi mày, ánh mắt cương quyết chỉ nhìn về phía trước, và niềm hân hoan ấy vẫn tràn ngập lồng ngực anh… Anh biết mình đã tự do, biết rằng giờ đây trên khắp thế gian không ai sánh được với anh, vì mọi người đều muốn sống… Còn anh… Anh chỉ muốn tự do.
Con thuyền đứng trên tận đỉnh con sóng, rung lên, chao đi, rồi bắt đầu hạ xuống… Từ trên tường người ta thấy nó lần cuối… Nhưng hồi lâu sau, pháo đài nhỏ vẫn còn bắn từng phát, từng phát một vào biển cả đang gào thét…
Sáng ra, mặt trời lại mọc giữa nền trời xanh trong. Những mảnh mây cuối cùng còn bay lộn xộn trên trời. Biển dịu lại, còn dập dềnh, như đang ngượng ngùng vì cơn cuồng loạn đêm qua… Những con sóng xanh nặng nề mỗi lúc một khẽ khàng đập vào đá, bắn lên những tia nước rực rỡ, vui tươi lấp lánh dưới nắng.
Bờ xa, được cơn giông làm cho tươi mát và gột rửa, hiện rõ trong không khí trong veo. Khắp nơi sự sống thức dậy sau đêm bão đang mỉm cười.
Một chiếc tàu hơi nước nhỏ chạy tuần dọc bờ, kéo trên sóng một cái đuôi khói nâu dài. Một nhóm người Tây Ban Nha dõi theo nó từ trên tường pháo đài.
— Chắc chắn chết rồi, một người nói… Đó là một sự điên rồ thuần tuý… Ngài nghĩ sao, thưa ngài Phéc-nan-đô?
Viên sĩ quan trẻ quay về phía người vừa nói một khuôn mặt trầm ngâm.
— Phải, có lẽ đã chết, anh nói. Mà cũng có thể giờ đây anh ta đang từ trên những ngọn núi kia nhìn về nhà tù của mình. Dù sao đi nữa, biển cũng đã cho anh ta được vài khoảnh khắc tự do. Mà ai biết được, một khoảnh khắc sống thật có khi chẳng đáng giá bằng cả những năm dài sống lay lắt hay sao!…
— Nhưng cái gì kia? Các ông nhìn xem…
Viên sĩ quan chỉ về mũi đất phía nam của bờ biển nhiều núi. Trên một trong những mũi đất xa nhất, nơi nghĩa quân đóng trại, trong dải núi xanh lam thấp thoáng từng cụm những làn khói trắng loé lên. Không nghe thấy tiếng, chỉ có những làn khói nhỏ hối hả hiện ra rồi tắt, làm những khe núi vắng vẻ sống động lạ lùng. Từ ngoài biển đáp lại một tiếng đại bác cụt lủn, và khi khói đã sà hết xuống những con sóng lấp lánh ánh vàng, mọi thứ lại lặng im. Cả bờ lẫn biển đều im lặng…
Các sĩ quan nhìn nhau… Sự sôi động khó hiểu ấy ở những vị trí của người bản xứ khởi nghĩa có nghĩa là gì?… Phải chăng đó là câu trả lời về số phận của người vượt ngục?… Hay chỉ là một cuộc đọ súng vì một cơn báo động bất ngờ?…
Không có câu trả lời…
Những con sóng lấp lánh bí ẩn mỉm cười, chạy lên bờ, vỡ tan lanh lảnh trên đá…
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn