Vậy các vị muốn tôi kể thêm về ông nội à? Thì sao lại không mua vui bằng một câu chuyện nhỉ? Chà, chuyện xưa, chuyện xưa! Lòng mới vui sướng, mới phơi phới làm sao khi được nghe những chuyện đã xảy ra trên đời từ lâu lắm, lâu tới mức chẳng còn tính được năm tháng! Mà nếu lại dính vào một người họ hàng nào đó, ông nội hay ông cố, thì thôi rồi: cho tôi nghẹn giữa lúc đọc kinh thánh nữ Va-va-ra, nếu tôi không tưởng như chính mình đang làm tất cả những việc ấy, như thể mình chui vào linh hồn ông cố, hay linh hồn ông cố đang nghịch ngợm trong mình… Không, tôi ngại nhất là đám con gái với các cô vợ trẻ làng mình. Cứ ló mặt ra là: “Ông Phô-ma Gri-gô-ri-ê-vích, ông Phô-ma Gri-gô-ri-ê-vích! Kể một chuyện ma đáng sợ đi! Kể đi, kể đi!…” Thế là ta ta ta, ta ta ta, nói mãi, nói mãi… Kể thì tất nhiên chẳng tiếc, nhưng các vị cứ ngó xem họ ra sao lúc lên giường. Tôi biết cô nào cũng run cầm cập dưới chăn như lên cơn sốt, chỉ mong chui được cả đầu vào áo lông. Con chuột cào vào cái nồi, hay chính mình vô tình chạm chân vào cái que cời lò, là lạy Chúa! hồn vía lên mây. Thế mà hôm sau lại như chẳng có chuyện gì, lại nài nỉ lần nữa: kể chuyện ma đi, thế thôi.
Kể cho các vị nghe chuyện gì nhỉ? Bỗng dưng chẳng nghĩ ra… À, tôi kể các vị nghe chuyện lũ phù thuỷ đánh bài với ông nội quá cố của tôi thế nào. Có điều tôi xin các vị trước, đừng làm tôi rối trí, không thì sẽ thành một nồi cháo mà đến cho vào miệng cũng thấy ngượng.
Ông nội quá cố của tôi, phải nói với các vị, hồi ấy không phải hạng Cô-dắc tầm thường. Ông biết chữ, biết chắc chắn, đến cả dấu viết tắt trên chữ cũng biết đặt. Ngày lễ ông đọc sách Thánh Tông Đồ trơn tru tới mức bây giờ đến cả con trai cha xứ cũng phải lẩn đi. Mà các vị biết đấy, thời ấy, gom hết những người biết chữ ở cả thành Ba-tu-rin, thì chẳng cần đưa mũ ra hứng, một nắm tay là đủ chứa hết. Vậy nên cũng chẳng lạ gì khi ai gặp ông cũng cúi chào gần sát thắt lưng.
Có một lần, ngài tướng quân Cô-dắc cao quý nảy ý gửi một lá thư lên Nữ hoàng về chuyện gì đó. Viên thư ký trung đoàn hồi ấy, ma bắt hắn đi, tên hắn tôi chẳng nhớ nổi… Vi-xcri-ác chẳng phải Vi-xcri-ác, Mô-tu-dốt-ca chẳng phải Mô-tu-dốt-ca, Gô-lô-pu-xéc chẳng phải Gô-lô-pu-xéc… chỉ biết là cái họ khó đọc ấy bắt đầu một cách lạ lùng, gọi ông nội tới mà bảo rằng chính ngài tướng quân sai ông làm sứ giả mang thư lên Nữ hoàng.
Ông nội chẳng thích sửa soạn lâu: ông khâu lá thư vào trong mũ, dắt ngựa ra, hôn vợ và hai đứa “lợn con” của mình, như chính ông vẫn gọi, mà một trong hai đứa là cha đẻ của chính kẻ hèn này, rồi tung lên sau lưng một đám bụi như thể mười lăm thằng nhóc định chơi trò nấu cháo giữa đường. Hôm sau, gà chưa gáy lần thứ tư, ông nội đã tới Cô-nô-tốp.
Hồi ấy ở đó đang có hội chợ: người đổ ra phố đông tới hoa cả mắt. Nhưng vì còn sớm nên ai cũng còn ngái ngủ, nằm dài trên đất. Cạnh con bò có một anh chàng ăn chơi nằm, mũi đỏ như chim sẻ ức đỏ. Xa hơn chút, một bà buôn ngồi ngáy, bên cạnh là đá lửa, phẩm xanh, đạn ghém với bánh vòng. Dưới gầm xe có một người Di-gan nằm. Trên xe cá có một bác buôn muối. Ngay giữa đường, một gã lính Nga râu xồm bán thắt lưng với găng tay nằm dạng chân… Thôi thì đủ hạng người, như ở hội chợ nào cũng thế. Ông nội dừng lại ngắm cho kỹ. Trong khi ấy trong các lều bắt đầu dần dần cựa quậy: mấy bà chủ quán bắt đầu khua lanh canh những cái bình, khói cuộn tròn bốc lên chỗ này chỗ kia, và mùi bánh rán ngọt nóng hổi bay khắp khu trại.
Ông nội sực nhớ ra mình chẳng có sẵn hộp đánh lửa lẫn thuốc lá: thế là ông đi lang thang khắp hội chợ. Chưa đi được hai mươi bước thì gặp một người Da-pô-rốt. Một tay ăn chơi, nhìn mặt là biết! Quần ống rộng đỏ như than hồng, áo chẽn xanh, thắt lưng màu sặc sỡ, bên hông đeo gươm, cái tẩu treo dây xích đồng dài chấm gót, đúng là người Da-pô-rốt, chẳng lẫn đi đâu được! Chà, cái giống người ấy! Đứng lên, vươn mình, vuốt bộ ria ngang tàng, gõ gót giày đóng móng, rồi lao vào nhảy! Mà nhảy thế nào: chân nhảy như con suốt trong tay đàn bà, nhanh như gió quét tay qua mọi dây đàn băn-đu-ra, rồi ngay đó chống nạnh nhảy ngồi xổm, cất giọng hát là lòng như bay bổng!… Không, thời ấy qua rồi: chẳng bao giờ còn thấy người Da-pô-rốt nữa!
Phải: thế là hai người gặp nhau. Câu qua câu lại, làm quen có lâu gì đâu? Họ tán chuyện, tán chuyện mãi, tới mức ông nội suýt quên khuấy chuyến đi của mình. Cuộc nhậu mở ra như đám cưới trước mùa chay lớn. Có điều hẳn cuối cùng họ cũng chán đập nồi và vung tiền vào đám đông, mà hội chợ cũng đâu kéo dài mãi được! Thế là hai người bạn mới hẹn nhau đừng rời nhau, cùng đi một đường.
Chiều đã muộn khi họ ra tới cánh đồng. Mặt trời đã đi nghỉ. Đây đó thay cho nó còn cháy những vệt đỏ đỏ. Khắp cánh đồng lổ đổ những thửa ruộng như những chiếc váy quấn ngày lễ của các cô vợ trẻ lông mày đen. Anh chàng Da-pô-rốt của chúng ta bị cơn lắm lời ám tới mức khủng khiếp. Ông nội và một tay ăn chơi khác lẽo đẽo theo họ đã nghĩ, phải chăng có con quỷ nào nhập vào anh ta, chẳng biết lấy đâu ra lắm chuyện thế. Những câu chuyện, những lời bông đùa lạ lùng tới mức ông nội mấy lần phải ôm bụng, suýt vỡ bụng vì cười. Nhưng cánh đồng càng lúc càng tối, và lời lẽ ngang tàng cũng càng lúc càng rời rạc. Cuối cùng người kể chuyện của chúng ta im hẳn, giật mình mỗi khi có tiếng động nhỏ nhất.
— Ê ê, ông bạn! Hoá ra cậu đếm cú thật đấy. Hẳn đang nghĩ làm sao về nhà mà leo lên bệ lò!
— Trước các anh tôi chẳng giấu làm gì, anh ta nói, bỗng quay lại, chằm chằm nhìn họ. Các anh có biết linh hồn tôi đã bán cho quỷ từ lâu rồi không.
— Lạ gì chuyện ấy! Đời ai mà chẳng có lúc dây dưa với ma quỷ? Thế thì càng phải ăn chơi, như người ta nói, cho tới khi tan tành.
— Chà, các anh ơi! Ăn chơi thì ăn chơi, nhưng đêm nay là tới hạn của tôi rồi! Này các anh em, anh ta nói, đập tay họ, này, đừng bỏ tôi! Đừng ngủ một đêm nay thôi! Cả đời tôi không quên tình bạn của các anh!
Sao lại không giúp một người trong cảnh khổ như thế? Ông nội tuyên bố thẳng rằng ông thà để người ta cắt chỏm tóc trên đầu mình, còn hơn để con quỷ đưa cái mõm chó của nó ngửi linh hồn người có đạo.
Mấy người Cô-dắc của chúng ta có khi còn đi xa hơn nữa, nếu bóng đêm không phủ kín cả bầu trời như tấm vải bố đen, khiến ngoài đồng tối như dưới cái áo lông cừu. Chỉ xa xa thấp thoáng một đốm lửa, và mấy con ngựa, đánh hơi thấy chuồng gần, vội vã bước nhanh, vểnh tai, mắt dán chặt vào bóng tối. Đốm lửa như lao tới đón họ, và trước mặt mấy người Cô-dắc hiện ra một quán rượu nghiêng hẳn sang một bên, như bà nào đó đi đường về từ một lễ rửa tội vui vẻ.
Thời ấy quán rượu chẳng như bây giờ. Người tử tế chẳng những không có chỗ mà vung vẩy, mà nhảy điệu chim cu hay điệu hô-pắc, mà đến chỗ nằm cũng chẳng có, khi hơi men đã lên đầu và chân bắt đầu viết chữ ngoằn ngoèo. Sân thì đầy xe của dân buôn muối. Dưới mái hiên, trong máng cỏ, ở gian ngoài, người thì cuộn tròn, người thì duỗi thẳng, ngáy như mèo. Chỉ có ông chủ quán ngồi một mình trước ngọn đèn dầu mỡ, khắc vạch lên một cái que xem những cái đầu dân buôn muối đã nốc cạn bao nhiêu lít, bao nhiêu chén.
Ông nội gọi một phần ba xô cho cả ba, rồi đi vào kho. Cả ba nằm cạnh nhau. Có điều ông chưa kịp trở mình đã thấy hai ông bạn đồng hương ngủ say như chết. Đánh thức tay Cô-dắc thứ ba đã nhập bọn, ông nội nhắc anh ta lời đã hứa với người bạn. Anh ta nhổm dậy, dụi mắt, rồi lại ngủ. Chẳng làm gì được, đành phải canh một mình. Để xua cơn buồn ngủ, ông đi xem khắp các xe, ghé thăm mấy con ngựa, châm tẩu, rồi quay về ngồi cạnh mấy người bạn. Mọi thứ im ắng tới mức hình như không một con ruồi nào bay qua. Rồi ông thấy như từ sau chiếc xe bên cạnh có cái gì xám xám thò ra đôi sừng… Đến đây mắt ông bắt đầu díp lại, tới mức chốc chốc ông phải lấy nắm tay dụi mắt, lấy chỗ rượu còn lại mà rửa. Nhưng vừa tỉnh táo được một chút thì mọi thứ lại biến mất. Rồi một lát sau, con quái vật lại ló ra từ dưới gầm xe… Ông nội trợn mắt hết cỡ, nhưng cơn buồn ngủ khốn kiếp cứ làm mờ mọi thứ trước mặt. Tay ông cứng đơ, đầu gục xuống, và giấc ngủ say tóm lấy ông chặt tới mức ông đổ vật ra như người bị giết.
Ông nội ngủ lâu lắm, tới khi mặt trời đã nướng khá nóng cái chỏm đầu cạo trọc của ông mới bật dậy. Vươn vai hai lần, gãi lưng, ông để ý thấy xe chẳng còn nhiều như chiều qua. Dân buôn muối hẳn đã lên đường từ trước khi trời sáng. Ông tới chỗ bạn mình: tay Cô-dắc vẫn ngủ, còn người Da-pô-rốt thì không còn. Hỏi han, chẳng ai biết gì. Chỉ có cái áo khoác ngoài nằm lại chỗ ấy. Ông nội vừa sợ vừa suy nghĩ. Ông đi xem ngựa, chẳng thấy con của mình, cũng chẳng thấy con của người Da-pô-rốt! Thế là sao? Cứ cho là ma quỷ bắt người Da-pô-rốt đi, thì ai bắt ngựa? Suy xét đủ đường, ông nội kết luận rằng hẳn con quỷ tới đây đi bộ, mà đường về địa ngục thì chẳng gần, nên nó thó luôn ngựa của ông. Ông đau lòng lắm vì đã không giữ được lời hứa của người Cô-dắc.
“Thôi”, ông nghĩ, “đành vậy, mình đi bộ, may ra dọc đường gặp được tay lái ngựa nào từ hội chợ về, mua tạm một con.”
Vừa đưa tay lên sờ mũ thì mũ cũng chẳng còn. Ông nội quá cố vỗ hai tay vào nhau khi nhớ ra rằng hôm qua ông với người Da-pô-rốt đã đổi mũ cho nhau một lúc. Ai lấy được nữa, nếu không phải ma quỷ. Thế là sứ giả của quan tướng quân! Thế là mang thư lên dâng Nữ hoàng!
Đến đây ông nội bắt đầu chiêu đãi con quỷ những biệt danh mà tôi nghĩ hồi ấy nó phải hắt hơi không chỉ một lần ở dưới địa ngục. Nhưng chửi thì chẳng giúp được mấy, còn gãi gáy bao nhiêu thì ông nội cũng chẳng nghĩ ra cách gì. Làm sao đây? Ông lao đi mượn trí khôn người khác: gom hết những người tử tế đang ở quán lúc ấy, dân buôn muối và khách qua đường, kể rằng thế này thế này, đã xảy ra tai hoạ như thế. Dân buôn muối lấy roi chống cằm nghĩ hồi lâu, lắc đầu, rồi bảo chưa từng nghe chuyện lạ như thế trên cõi đời có đạo, chuyện con quỷ thó lá sắc thư của quan tướng quân. Mấy người khác nói thêm rằng một khi quỷ với lính mà đã ăn cắp cái gì, thì đừng hòng tìm lại. Chỉ có ông chủ quán ngồi im trong góc. Ông nội liền tới bên ông ta. Một khi người ta im lặng, hẳn là trong đầu có nhiều mưu trí lắm. Có điều ông chủ quán không rộng rãi lời lẽ cho lắm, và nếu ông nội không thò tay vào túi lấy năm đồng tiền, thì có đứng trước mặt ông ta cũng uổng công.
— Tôi sẽ chỉ cho anh cách tìm lại lá thư, ông ta nói, dẫn ông nội ra một bên.
Lòng ông nội nhẹ hẳn đi.
— Nhìn mắt là tôi thấy anh là người Cô-dắc, chứ chẳng phải đàn bà. Nghe đây! Gần quán có một chỗ rẽ phải vào rừng. Ngoài đồng vừa nhá nhem là anh phải sẵn sàng. Trong rừng có mấy người Di-gan sống, họ chui ra khỏi hang để rèn sắt vào những đêm mà chỉ có phù thuỷ cưỡi que cời lò đi lại. Thật ra họ làm nghề gì thì anh chẳng cần biết. Khắp rừng sẽ có nhiều tiếng gõ, nhưng anh đừng đi về phía có tiếng gõ. Trước mặt anh sẽ có một con đường mòn nhỏ, đi qua một cái cây cháy, anh cứ theo con đường ấy mà đi, đi, đi… Bụi gai có cào anh, bụi phỉ rậm có chắn đường, anh cứ đi, và chỉ khi tới một con sông nhỏ mới được dừng. Ở đó anh sẽ gặp người cần gặp. Mà đừng quên nhét đầy túi cái thứ mà người ta làm ra túi để đựng… Anh hiểu chứ, thứ của cải ấy cả quỷ lẫn người đều thích.
Nói xong, ông chủ quán đi vào cái ổ của mình, không chịu nói thêm một lời nào nữa.
Ông nội quá cố không phải hạng nhát gan. Có khi gặp sói, ông túm thẳng lấy đuôi. Đi tay không giữa đám Cô-dắc, ai nấy đổ rạp xuống đất như những quả lê. Thế nhưng ông vẫn thấy rờn rợn sống lưng khi bước vào rừng giữa một đêm tối như thế. Giá có một ngôi sao trên trời. Tối và im ắng như trong hầm rượu. Chỉ nghe xa xa, xa tít trên đầu, gió lạnh dạo qua những ngọn cây, và cây cối như những cái đầu Cô-dắc chếnh choáng, lắc lư phóng túng, lá cây thì thào những lời say sưa. Rồi một luồng lạnh thổi tới, tới mức ông nội nhớ cả tới cái áo lông cừu của mình, và bỗng như có trăm cái búa nện khắp khu rừng, ầm ầm tới mức đầu ông ong ong. Như có chớp, cả khu rừng sáng lên trong một phút. Ông nội lập tức thấy con đường mòn len giữa những bụi cây thấp. Kia là cái cây cháy và bụi gai! Đúng, đúng hệt như người ta bảo. Không, ông chủ quán không lừa ông.
Tuy vậy, chen qua những bụi gai thì chẳng vui vẻ gì. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ ông chưa từng thấy gai với cành khốn kiếp nào cào đau tới thế: gần như cứ mỗi bước là phải kêu lên. Dần dần ông ra tới một chỗ rộng rãi, và theo chỗ ông nhận ra, cây cối thưa dần, càng đi càng to, to tới mức bên kia Ba Lan ông cũng chưa từng thấy. Nhìn ra, giữa những thân cây thấp thoáng con sông nhỏ, đen như thép nhuộm. Ông nội đứng bên bờ hồi lâu, nhìn khắp mọi phía. Bờ bên kia có một đống lửa đang cháy, tưởng như sắp tắt, rồi lại hắt bóng xuống dòng sông đang run lên như gã quý tộc Ba Lan trong tay người Cô-dắc. Kia là cây cầu nhỏ! Chỗ này chắc chỉ có cái xe ngựa của quỷ đi qua nổi. Tuy vậy ông nội mạnh dạn bước lên, và nhanh hơn cả thời gian người khác kịp lấy cái tù và ra hít thuốc, ông đã sang bờ bên kia.
Đến lúc ấy ông mới nhìn rõ quanh đống lửa có người ngồi, những bộ mặt xinh đẹp tới mức lúc khác thì có trời mới biết ông sẵn lòng đổi gì để tránh được cuộc làm quen này. Nhưng giờ thì chẳng làm gì được, phải bắt chuyện. Thế là ông nội cúi chào gần sát thắt lưng:
— Cầu Chúa giúp các vị, những người tốt bụng!
Chẳng ai gật đầu lấy một cái. Cứ ngồi im, rắc cái gì đó vào lửa. Thấy có một chỗ trống, ông nội chẳng rào đón gì cũng ngồi xuống. Mấy bộ mặt xinh đẹp chẳng nói gì, ông nội cũng chẳng nói gì. Ngồi im hồi lâu. Ông nội đã thấy chán. Ông bắt đầu lục túi, lôi cái tẩu ra, nhìn quanh: chẳng ai nhìn ông.
— Thưa quý vị, xin quý vị làm ơn, làm sao mà, nói ví dụ thế, cái ấy…
Ông nội đã sống ở đời không ít, đã biết cách ăn nói khéo léo, có khi trước mặt vua cũng chẳng bẽ mặt.
— Làm sao mà, nói ví dụ thế, vừa không quên mình, vừa không làm phật lòng quý vị, cái tẩu thì tôi có đây, nhưng cái để châm lửa thì quỷ biết đâu mà có.
Nói thế mà chẳng được lấy một lời. Chỉ có một bộ mặt dí một que củi đang cháy thẳng vào trán ông nội, đến nỗi nếu ông không né sang một chút, có khi đã vĩnh biệt một con mắt. Thấy rằng thời gian cứ trôi uổng, cuối cùng ông quyết, cái lũ ma quỷ ấy có nghe hay không thì nghe, kể ra sự việc. Mấy bộ mặt vểnh tai lên, chìa vuốt ra. Ông nội hiểu ý, vốc hết số tiền mình có trong tay, ném vào giữa họ như ném cho chó. Vừa ném tiền xong, mọi thứ trước mặt ông đảo lộn, đất rung chuyển, và chính ông cũng chẳng kể lại được thế nào, ông rơi gần như tận giữa địa ngục.
“Ối trời đất ơi!” ông nội kêu lên khi nhìn kỹ. “Toàn quái vật gì thế này!” Mặt chồng lên mặt, như người ta nói, chẳng thấy đâu là mặt. Phù thuỷ thì nhiều như tuyết rơi đôi khi vào dịp lễ Giáng sinh: diện, trát phấn như các tiểu thư ở hội chợ. Và tất cả, có bao nhiêu ở đó, như say rượu, đang nhảy một điệu nhảy quỷ quái nào đó. Bụi bốc lên, lạy Chúa, ghê lắm! Người có đạo chỉ nhìn cái lũ quỷ nhảy cao ngần ấy cũng đủ run rẩy. Ông nội, mặc cho nỗi sợ, cũng phải bật cười khi thấy những con quỷ mặt chó, chân thon như chân người Đức, ve vẩy đuôi, lượn quanh lũ phù thuỷ như trai làng lượn quanh các cô gái đẹp, còn bọn nhạc công thì lấy nắm tay đấm vào má như đánh trống lục lạc, lấy mũi mà thổi như thổi kèn đồng. Vừa thấy ông nội, cả bọn ùa tới như một đoàn quân. Mõm lợn, mõm chó, mõm dê, mõm chim ô tác, mõm ngựa, tất cả vươn ra, chực xông vào hôn. Ông nội nhổ toẹt, ghê tởm quá! Cuối cùng chúng tóm lấy ông, đặt ông ngồi vào một cái bàn dài có khi bằng quãng đường từ Cô-nô-tốp tới Ba-tu-rin.
“Thế này thì còn chưa đến nỗi tệ lắm”, ông nội nghĩ, khi thấy trên bàn có thịt lợn, xúc xích, hành thái trộn bắp cải, và đủ thứ đồ ngọt. “Hẳn cái lũ quỷ hạ lưu này chẳng giữ chay.”
Ông nội, các vị cũng nên biết, gặp dịp thì chẳng bỏ lỡ chuyện đưa cái này cái kia lên răng. Ông cụ ăn ngon miệng lắm, nên chẳng kể lể dông dài, kéo về phía mình cái bát mỡ thái lát với cái đùi lợn muối, cầm một cái dĩa chẳng nhỏ hơn mấy cái chĩa ba nông dân xúc cỏ là mấy, xiên lấy miếng to nhất, lấy một mẩu bánh mì đỡ dưới, rồi nhìn ra, thì miếng ấy đã vào miệng kẻ khác. Ngay sát bên tai, còn nghe thấy cái mõm nào đó đang nhai, nghiến răng vang khắp bàn. Ông nội chẳng sao. Ông xiên miếng khác, tưởng đã chạm tới môi, mà lại không vào cổ mình. Lần thứ ba, lại trượt. Ông nội nổi điên, quên cả sợ, quên cả mình đang nằm trong vuốt của ai. Ông xông tới lũ phù thuỷ:
— Lũ giống nhà Hê-rốt các người định cười nhạo ta đấy à? Nếu không trả ngay lập tức cái mũ Cô-dắc của ta, thì ta là đồ ngoại đạo nếu không vặn ngược mấy cái mõm lợn của các người ra sau gáy!
Ông chưa kịp nói hết câu cuối, cả lũ quái vật đã nhe răng, cười ầm lên tới mức lòng ông nội lạnh toát.
— Được! Một mụ phù thuỷ rít lên, mụ mà ông nội cho là đứng đầu cả bọn, vì bộ mặt mụ gần như đẹp nhất. Mũ thì sẽ trả cho mày, nhưng phải đợi mày chơi với bọn tao ba ván bài thằng ngốc đã!
Biết làm sao? Người Cô-dắc mà ngồi chơi bài thằng ngốc với lũ đàn bà! Ông nội chối mãi, chối mãi, cuối cùng cũng ngồi. Người ta mang bài tới, những quân bài nhờn mỡ như loại chỉ có con gái cha xứ ở chỗ ta dùng để bói xem chồng tương lai.
— Nghe đây! Mụ phù thuỷ sủa lần nữa. Thắng được dù chỉ một ván là mũ của mày. Còn nếu cả ba ván đều làm thằng ngốc, thì đừng giận, chẳng những mất mũ, có khi chẳng còn thấy ánh sáng nữa!
— Chia đi, chia đi, mụ già! Cái gì tới thì tới.
Thế là bài chia xong. Ông nội cầm bài lên, chẳng muốn nhìn, toàn bài rác: đến một quân chủ bài để làm trò cười cũng không có. Cao nhất trong bộ là con mười, đến một đôi cũng không. Còn mụ phù thuỷ cứ dồn dập đánh ra từng năm quân một. Đành làm thằng ngốc! Ông nội vừa thành thằng ngốc, thì từ khắp mọi phía, những cái mõm hí lên, sủa lên, ụt ịt:
— Thằng ngốc! Thằng ngốc! Thằng ngốc!
— Cho lũ quỷ chúng mày nổ tung ra! Ông nội hét, lấy ngón tay bịt tai.
“Thôi”, ông nghĩ, “mụ phù thuỷ gian bài rồi. Giờ ta tự chia.”
Ông chia. Lật quân chủ bài lên. Nhìn bài trong tay: hoa nào cũng được, lại có chủ bài. Thoạt đầu mọi việc trôi chảy không thể hơn. Có điều mụ phù thuỷ đánh ra năm quân với mấy con vua! Trong tay ông nội toàn chủ bài. Chẳng nghĩ ngợi gì lâu, ông vả hết mấy con vua bằng chủ bài.
— Ê ê! Thế không phải lối Cô-dắc! Mày chặn bằng gì thế, ông bạn?
— Bằng gì à? Bằng chủ bài!
— Có khi theo lối của mày đấy là chủ bài, chứ theo lối bọn tao thì không!
Nhìn lại thì quả thật chỉ là bài thường. Quỷ quái gì thế này! Lại phải làm thằng ngốc lần thứ hai, và lũ quỷ lại bắt đầu gào rách cổ:
— Thằng ngốc! Thằng ngốc!
Tới mức cái bàn rung lên, những quân bài nhảy tưng tưng trên bàn.
Ông nội nóng mặt. Chia lần cuối. Lại trôi chảy. Mụ phù thuỷ lại đánh năm quân. Ông nội chặn, rồi bốc từ cỗ bài được cả một tay toàn chủ bài.
— Chủ bài! Ông hét lên, đập quân bài xuống bàn mạnh tới mức nó cong như cái hộp. Mụ ta chẳng nói chẳng rằng, chặn bằng một con tám thường.
— Thế mày chặn bằng cái gì, con quỷ già!
Mụ phù thuỷ lật quân bài lên: bên dưới là một con sáu thường.
— Ra cái trò quỷ quái lừa người ta! Ông nội nói, rồi tức quá đấm hết sức xuống bàn.
May mà mụ phù thuỷ có bài dở. Còn ông nội, như cố ý, lúc ấy lại có đôi. Ông bắt đầu bốc bài trong cỗ, mà chẳng còn sức nữa: toàn rác rưởi, tới mức ông nội buông thõng hai tay. Cỗ bài chẳng còn quân nào. Ông cứ thế, chẳng nhìn, đánh ra một con sáu thường. Mụ phù thuỷ nhận.
“Thế là thế nào! Cái gì thế này? Ê ê, hẳn có cái gì đó không ổn!”
Thế là ông nội khẽ khàng đưa bài xuống gầm bàn, làm dấu thánh. Nhìn lại thì trong tay ông là con át, con vua, con bồi chủ bài, mà thay vì con sáu thì ông đã đánh ra con đầm.
— Chà, ta đúng là thằng ngốc! Ta đúng là thằng ngốc! Vua chủ bài đây! Sao! Nhận chưa? Hả? Đồ giống mèo!… Còn con át thì sao? Át! Bồi!…
Sấm nổ khắp địa ngục. Mụ phù thuỷ lên cơn co giật, và chẳng biết từ đâu, cái mũ bịch một cái rơi thẳng vào mặt ông nội.
— Không, thế còn chưa đủ! Ông nội hét, đã vững dạ, đội mũ lên. Nếu ngay lúc này con ngựa ngang tàng của ta không đứng trước mặt ta, thì sét đánh chết ta ngay tại chỗ ô uế này, nếu ta không làm dấu thánh giá cho tất cả chúng mày!
Ông đã giơ tay lên, thì bỗng trước mặt ông kêu lạo xạo một đống xương ngựa.
— Ngựa của mày đây!
Ông cụ tội nghiệp oà khóc nhìn đống xương như đứa trẻ dại. Thương người bạn già lắm!
— Thế thì cho ta con ngựa nào cũng được, để ra khỏi cái ổ của chúng mày!
Một con quỷ quất roi đánh đét, một con ngựa như lửa chồm lên dưới mông ông, và ông nội như chim vụt bay lên phía trên.
Tuy vậy, giữa đường ông lại sợ, khi con ngựa, chẳng nghe tiếng quát, chẳng nghe dây cương, cứ phi qua vực qua đầm. Ông đã qua những nơi nào, chỉ kể lại thôi đã run rồi. Có lúc ông nhìn xuống chân, càng sợ hơn: vực thẳm! Dốc đứng khủng khiếp! Thế mà cái con vật của quỷ chẳng cần biết, cứ lao thẳng qua. Ông nội cố bám lấy: chẳng được. Qua gốc cây, qua mô đất, ông lộn cổ lao xuống vực, đập xuống đáy mạnh tới mức hình như hồn cũng văng ra khỏi xác. Ít ra thì những gì xảy ra với ông lúc ấy, ông chẳng nhớ gì. Khi hơi tỉnh lại, nhìn quanh, trời đã sáng hẳn. Trước mặt ông thấp thoáng những chốn quen thuộc, và ông đang nằm trên mái nhà của chính mình.
Ông nội làm dấu thánh khi leo xuống. Quỷ quái thật! Ra cái chuyện gì thế này, con người gặp những chuyện lạ lùng làm sao! Nhìn tay, đầy máu. Ông soi vào cái thùng nước dựng đứng, mặt cũng thế. Rửa ráy kỹ càng để khỏi làm bọn trẻ sợ, ông khẽ khàng vào nhà. Nhìn ra thì lũ trẻ đang lùi lùi về phía ông, sợ hãi chỉ tay mà nói:
— Nhìn kìa, nhìn kìa, mẹ nhảy như người dở hơi!
Mà quả thật, bà vợ đang ngồi ngủ gật trước cái khung chải sợi, tay cầm con suốt, đang ngủ mà nhảy tưng tưng trên ghế dài. Ông nội khẽ cầm tay bà đánh thức:
— Chào bà nó! Bà có khoẻ không?
Bà trợn mắt nhìn hồi lâu, cuối cùng mới nhận ra ông nội, rồi kể rằng bà mơ thấy cái lò sưởi chạy khắp nhà, lấy xẻng đuổi hết nồi niêu, chậu thau và quỷ biết còn những gì nữa ra ngoài.
— Thôi, ông nội nói, bà thì trong mơ, tôi thì ngoài đời thật. Xem ra phải làm phép thánh cho căn nhà mình. Còn tôi, giờ chẳng còn gì phải chần chừ nữa.
Nói xong, nghỉ ngơi một chút, ông nội kiếm ngựa rồi đi, chẳng dừng lại cả ngày lẫn đêm, cho tới khi tới nơi và trao lá thư tận tay Nữ hoàng. Ở đó ông nội được thấy những điều kỳ lạ đủ để sau này kể mãi. Người ta dẫn ông vào những cung điện cao tới mức nếu đặt mười ngôi nhà chồng lên nhau, có khi cũng chẳng tới. Ông ngó vào một phòng, không có. Sang phòng thứ hai, không có. Sang phòng thứ ba, vẫn không. Phòng thứ tư cũng không. Mà sang phòng thứ năm thì nhìn ra, chính bà đang ngồi, đội vương miện vàng, mặc áo choàng xám mới tinh, đi ủng đỏ, đang ăn những viên bánh mì bằng vàng. Rồi bà sai đổ tiền năm rúp vào đầy mũ ông ra sao, rồi thế nào… chẳng nhớ hết được. Chuyện quần nhau với lũ quỷ, ông nội quên khuấy, và nếu có ai nhắc tới, ông nội cứ im lặng như chẳng phải chuyện của mình, phải nài nỉ khổ sở lắm ông mới chịu kể lại đầu đuôi.
Mà có lẽ để phạt ông vì đã không vội làm phép thánh cho căn nhà ngay sau đó, nên cứ đúng mỗi năm một lần, mà đúng vào thời điểm ấy, bà vợ ông lại gặp chuyện lạ: cứ thế mà nhảy, thế thôi. Làm việc gì, chân cũng tự bày trò của chúng, cứ giật giật bắt nhảy điệu ngồi xổm.
— Hết —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ