Hôm ấy, lúc bốn giờ, như mọi ngày, A-lếch-xăng đưa đến trước cửa ngôi nhà nhỏ của vợ chồng Ma-răng-ban chiếc xe ba bánh của người bại liệt, chiếc xe mà theo y lệnh của bác sĩ, ngày nào lão cũng đẩy bà chủ già và tàn tật của mình đi dạo cho tới sáu giờ.
Khi đã đặt cỗ xe nhẹ ấy sát bậc thềm, đúng chỗ có thể dễ dàng đỡ bà chủ to béo lên, lão đi vào nhà, và chẳng mấy chốc người ta nghe từ bên trong một giọng giận dữ, một giọng khàn khàn của lính già, đang chửi rủa ầm ĩ. Đó là giọng của ông chủ, cựu đại uý bộ binh đã về hưu, ông Giô-dép Ma-răng-ban.
Rồi là tiếng cửa đóng sầm, tiếng ghế bị xô đẩy, tiếng bước chân hấp tấp, rồi chẳng còn gì nữa. Một lát sau A-lếch-xăng lại xuất hiện ở ngưỡng cửa ra phố, dồn hết sức đỡ bà Ma-răng-ban đã mệt lả vì xuống cầu thang. Khi bà đã ngồi được vào chiếc ghế lăn, chẳng dễ dàng gì, A-lếch-xăng vòng ra phía sau, cầm lấy thanh gỗ tiện dùng để đẩy xe, và đưa nó lên đường về phía bờ sông.
Ngày nào họ cũng đi qua thị trấn nhỏ như thế, giữa những lời chào kính cẩn có lẽ dành cho người đầy tớ cũng nhiều như cho bà chủ. Vì nếu bà được mọi người quý mến và kính trọng, thì lão, cái ông lính già râu bạc ấy, bộ râu của một vị trưởng lão, được coi là mẫu mực của những người đầy tớ.
Nắng tháng Bảy đổ xuống con phố một cách tàn bạo, nhấn chìm những ngôi nhà thấp trong thứ ánh sáng buồn bã vì quá gay gắt và chói chang. Những con chó nằm ngủ trên vỉa hè trong vệt bóng râm của các bức tường, và A-lếch-xăng, hơi thở dốc, rảo bước để đến nhanh hơn con đường dẫn ra bờ nước.
Bà Ma-răng-ban đã thiu thiu ngủ dưới chiếc dù trắng, cái chóp dù bị bỏ mặc thỉnh thoảng lại tì vào khuôn mặt điềm nhiên của người đàn ông.
Khi họ đã tới lối đi Cây Đoạn, bà tỉnh hẳn dưới bóng cây, và nói bằng một giọng hiền hậu:
- Đi chậm lại thôi, anh tội nghiệp của tôi, trời nóng thế này anh chết mất.
Bà cụ hiền lành chẳng hề nghĩ, trong cái ích kỷ ngây thơ của mình, rằng nếu bây giờ bà muốn đi chậm lại, ấy chính là vì bà vừa tới được chỗ có lá che.
Bên con đường được những cây đoạn già cắt tỉa thành vòm che phủ ấy, sông Na-vét chảy quanh co giữa hai hàng liễu. Tiếng róc rách của những xoáy nước, của những lần nước nhảy qua đá, của những khúc ngoặt đột ngột của dòng chảy, rải suốt dọc con đường dạo một khúc hát êm đềm của nước và một làn không khí ẩm mát lành.
Sau khi đã hít thở và tận hưởng rất lâu vẻ quyến rũ ẩm mát của chốn này, bà Ma-răng-ban thì thầm:
- Thôi, đỡ hơn rồi. Nhưng hôm nay ông ấy dậy không vui.
A-lếch-xăng đáp:
- Ôi, không vui, thưa bà.
Đã ba mươi lăm năm lão phục vụ đôi vợ chồng này, thoạt đầu làm lính hầu cho viên sĩ quan, rồi làm người hầu bình thường không muốn rời chủ. Và đã sáu năm nay, chiều nào lão cũng đẩy bà chủ đi khắp những con đường hẹp quanh thị trấn.
Từ những năm dài phục vụ tận tuỵ ấy, rồi từ những buổi chỉ có hai người với nhau hằng ngày, giữa bà cụ và người đầy tớ đã nảy sinh một thứ thân tình, trìu mến ở phía bà, kính cẩn ở phía lão.
Họ bàn chuyện nhà như những người ngang hàng vẫn bàn. Vả lại đề tài trò chuyện và lo lắng chính của họ là tính khí xấu của ông đại uý, người đã trở nên cay cú vì một sự nghiệp dài bắt đầu rực rỡ, rồi trôi qua chẳng được thăng chức, và kết thúc chẳng chút vinh quang.
Bà Ma-răng-ban nói tiếp:
- Dậy không vui thì đúng là không vui thật. Từ khi ông ấy thôi phục vụ, chuyện ấy xảy ra thường quá.
Và A-lếch-xăng, thở dài một tiếng, nói nốt ý nghĩ của bà chủ:
- Ôi, bà có thể nói là ngày nào cũng thế, và cả trước khi ông ấy rời quân ngũ cũng thế.
- Cái đó thì đúng. Nhưng ông ấy cũng chẳng gặp may, cái ông ấy. Ông ấy khởi đầu bằng một hành động dũng cảm, hai mươi tuổi đã được tặng huân chương, rồi từ hai mươi đến năm mươi chẳng lên được quá đại uý, trong khi lúc đầu ông ấy những tưởng lúc về hưu ít ra cũng phải là đại tá.
- Bà còn có thể nói rằng rốt cuộc đó là lỗi tại ông ấy. Giá ông ấy không lúc nào cũng hiền như cái roi ngựa, thì cấp trên đã quý ông ấy hơn và nâng đỡ ông ấy hơn. Chẳng được gì khi cứ cứng rắn, phải làm vừa lòng người ta thì người ta mới quý.
Rồi lão nói thêm:
- Ông ấy đối xử với chúng ta như thế, thì cũng là lỗi tại chúng ta nữa, vì chúng ta thích ở lại với ông ấy. Nhưng với người khác thì lại khác.
Bà Ma-răng-ban suy nghĩ. Ôi, đã bao năm, bao năm nay, ngày nào bà cũng nghĩ như thế về sự thô bạo của chồng, người mà ngày xưa, đã lâu lắm rồi, bà lấy vì ông là một sĩ quan đẹp trai, trẻ tuổi đã được tặng huân chương, và người ta bảo là có tương lai lắm. Ở đời người ta lầm lẫn biết bao!
Bà thì thầm:
- Ta dừng lại một chút đi, A-lếch-xăng tội nghiệp của tôi, anh ngồi nghỉ trên cái ghế của anh đi.
Đó là một chiếc ghế băng gỗ nhỏ đã mục một nửa, đặt ở khúc quanh của lối đi cho những người dạo chơi ngày chủ nhật. Mỗi lần đi về phía này, A-lếch-xăng lại quen ngồi nghỉ mấy phút trên chiếc ghế ấy.
Lão ngồi xuống, và với một cử chỉ quen thuộc đầy tự hào, lão nắm bằng cả hai tay bộ râu bạc đẹp đẽ đang xoè ra như cái quạt, bóp lại rồi vuốt dọc xuống, khép dần các ngón tay đến tận chóp, giữ cái chóp ấy một lúc trên chỗ trũng của dạ dày như để đặt nó vào đó và một lần nữa xác nhận cái thảm thực vật ấy dài đến thế nào.
Bà Ma-răng-ban nói tiếp:
- Tôi thì tôi đã lấy ông ấy, tôi chịu đựng những sự bất công của ông ấy là đúng lẽ và tự nhiên. Nhưng điều tôi không hiểu là sao anh cũng chịu đựng được, anh A-lếch-xăng tốt bụng của tôi!
Lão nhún vai một cái mơ hồ, và chỉ nói:
- Ôi, tôi ấy à, thưa bà.
Bà nói thêm:
- Đúng thế. Tôi đã nghĩ đến chuyện ấy nhiều lần. Hồi tôi lấy ông ấy thì anh là lính hầu của ông ấy, anh khó mà làm khác được ngoài việc chịu đựng ông ấy. Nhưng từ đó đến giờ, sao anh lại ở lại với chúng tôi, những người trả anh ít ỏi thế, đối xử với anh tệ thế, trong khi anh có thể làm như mọi người, lập nghiệp, lấy vợ, có con, gây dựng một gia đình?
Lão nhắc lại:
- Ôi, tôi ấy à, thưa bà, khác chứ.
Rồi lão im lặng. Nhưng lão giật giật bộ râu như đang kéo một cái chuông vang lên trong người lão, như đang cố bứt nó ra, và lão đảo đôi mắt hốt hoảng của một người đang lâm vào thế bí.
Bà Ma-răng-ban theo đuổi ý nghĩ của mình.
- Anh đâu phải nông dân. Anh có học hành...
Lão ngắt lời bà, đầy tự hào:
- Tôi đã học để làm nhân viên đo đạc địa chính, thưa bà.
- Thế thì sao anh lại ở lại bên chúng tôi mà phí hoài cuộc đời mình?
Lão lắp bắp:
- Thì thế đấy! Thì thế đấy! Lỗi tại bản tính của tôi.
- Sao lại tại bản tính của anh?
- Vâng, khi tôi đã gắn bó, là tôi gắn bó, thế là xong.
Bà bật cười.
- Thôi nào, anh đừng bắt tôi tin rằng những cách cư xử tử tế và sự hiền lành của ông Ma-răng-ban đã giữ chân anh suốt đời đấy chứ.
Lão nhấp nhổm trên ghế, rõ ràng là rối trí, rồi lão lẩm bẩm vào bộ ria dài:
- Đâu phải ông ấy, là bà cơ!
Bà cụ có một khuôn mặt rất hiền, giữa trán và nếp tóc là một đường tóc xoăn trắng như tuyết, ngày nào cũng được cuộn giấy cẩn thận, óng ánh như lông thiên nga. Bà cựa mình trên xe và nhìn người đầy tớ bằng đôi mắt rất ngạc nhiên.
- Tôi à, anh A-lếch-xăng tội nghiệp của tôi. Sao lại thế?
Lão bắt đầu nhìn lên trời, rồi nhìn sang bên, rồi nhìn ra xa, quay đầu đi, như những người đàn ông nhút nhát buộc phải thú nhận những bí mật xấu hổ. Rồi lão tuyên bố với lòng can đảm của một người lính được lệnh xông vào lửa đạn:
- Thì thế đấy. Lần đầu tiên tôi mang cho cô một bức thư của ông trung uý, và cô cho tôi hai mươi xu, mỉm cười với tôi, thế là mọi chuyện đã được quyết định như thế.
Bà gặng hỏi, chưa hiểu rõ:
- Thôi nào, anh nói rõ ra xem.
Thế là lão buột ra, với nỗi kinh hoàng của một kẻ khốn khổ đang thú nhận một tội ác và tự huỷ hoại mình:
- Tôi đã có một tình cảm với bà. Thế đấy!
Bà không đáp, thôi nhìn lão, cúi đầu xuống mà suy nghĩ. Bà là người tốt, ngay thẳng, hiền hậu, biết điều và nhạy cảm.
Trong một giây, bà nghĩ đến sự tận tuỵ mênh mông của con người tội nghiệp đã từ bỏ tất cả để sống bên bà, không nói một lời. Và bà muốn khóc.
Rồi với một vẻ mặt hơi nghiêm, nhưng không hề giận, bà bảo:
- Ta về thôi.
Lão đứng dậy, vòng ra sau chiếc ghế lăn, và lại đẩy nó đi.
Khi họ gần về đến thị trấn, họ thấy giữa đường đại uý Ma-răng-ban đang đi về phía họ.
Vừa đến chỗ hai người, ông đã hỏi vợ, với một mong muốn nổi cáu lộ rõ:
- Tối nay ăn gì?
- Một con gà giò nhỏ và đậu cô ve.
Ông nổi nóng.
- Gà, lại gà, lúc nào cũng gà, mẹ kiếp! Tôi ngấy món gà của bà lắm rồi. Bà không có lấy một ý gì trong đầu hay sao mà ngày nào cũng bắt tôi ăn mãi một thứ?
Bà đáp, cam chịu:
- Nhưng mình ơi, mình biết là bác sĩ dặn thế mà. Đó vẫn là thứ tốt nhất cho dạ dày của mình. Nếu mình không đau dạ dày, em đã cho mình ăn bao nhiêu món mà em không dám dọn ra.
Thế là ông đứng sững lại, giận dữ, trước mặt A-lếch-xăng.
- Tôi đau dạ dày là tại cái thằng súc vật này đấy. Ba mươi lăm năm nay nó đầu độc tôi bằng cái món nấu bẩn thỉu của nó.
Bà Ma-răng-ban đột ngột quay đầu lại, gần như quay hẳn ra sau để nhìn thấy người đầy tớ già. Thế là mắt họ gặp nhau, và chỉ trong ánh mắt ấy, cả hai cùng nói với nhau: "Cảm ơn."
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn