Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Lão keo kiệt I-li-xa

của Kinh Bổn Sinh (Jataka)

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 19.512 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Thuở đức Phật ở tinh xá Kỳ Viên, Ngài…
  2. 1:48Lo cho họ làm gì? Họ phải tự làm…
  3. 3:51Đi tới đi lui thì được gì? Ông quan…
  4. 5:58Nhưng thưa thầy, lúc này đức Phật đang ở…
  5. 8:38Rồi Ngài kể lại chuyện ngày xưa.
  6. 11:40Không cần đâu, quan giữ kho ạ. Kho báu…
  7. 13:54Anh nhà quê nhảy xuống xe, giận dữ quát:
  8. 16:31Vậy thì xem đầu cả hai đi, nhà vua…

Thuở đức Phật ở tinh xá Kỳ Viên, Ngài kể chuyện này về một ông quan giữ kho keo kiệt.

Gần thành Vương Xá, có một thị trấn tên là Xác-ca-ra. Ở đó có một ông quan giữ kho giàu có bậc nhất, người ta gọi là ông Triệu Phú Keo Kiệt. Ông có tới tám trăm triệu đồng vàng. Vậy mà một giọt dầu nhỏ xíu, nhỏ bằng giọt dính trên đầu ngọn cỏ, ông cũng không đem cho ai, cũng chẳng dùng cho chính mình. Của cải bao nhiêu, ông không tiêu cho vợ con, cũng chẳng cúng dường các bậc tu hành. Nó cứ nằm đó, chẳng ai được hưởng, như một cái ao có quỷ ám, không ai dám tới uống.

Một hôm, ông quan vào cung chầu vua, trên đường về thì trông thấy một anh nhà quê bụng đói meo đang ngồi ăn một chiếc bánh nhân cháo ngọt. Trông thấy thế, ông thèm quá! Nhưng về tới nhà, ông nghĩ bụng:

"Nếu mình bảo mình muốn ăn bánh, thì cả một lũ sẽ đòi ăn cùng. Thế là tốn bao nhiêu gạo, bao nhiêu bơ, bao nhiêu đường. Không được hé răng với ai hết."

Thế là ông cứ đi tới đi lui, cố nén cơn thèm. Giờ này qua giờ khác, mặt ông mỗi lúc một vàng ra, gân xanh nổi lên như sợi dây trên thân hình gầy guộc. Cuối cùng, không chịu nổi nữa, ông vào phòng nằm ôm lấy giường. Nhưng ông vẫn không chịu nói với ai một lời, chỉ vì sợ tốn của.

Bà vợ vào, xoa lưng cho ông, hỏi:

— Ông làm sao thế?

— Có làm sao đâu.

— Hay là nhà vua quở trách ông?

— Không có.

— Hay là con cái, đầy tớ làm điều gì phật ý ông?

— Cũng chẳng phải.

— Thế thì ông thèm cái gì à?

Ông vẫn không nói, chỉ vì cái nỗi sợ tốn của vô lý ấy, cứ nằm im trên giường.

— Ông nói đi chứ, bà vợ giục. Ông thèm cái gì thì nói cho tôi biết.

— Ừ, ông nuốt nước bọt đáp, tôi đang thèm một thứ.

— Thứ gì thế, ông?

— Tôi muốn ăn một cái bánh có nhân!

— Thế sao ông không nói ngay? Nhà mình giàu thế cơ mà! Để tôi làm bánh đãi cả thị trấn Xác-ca-ra.

— Lo cho họ làm gì? Họ phải tự làm lấy mà ăn chứ.

— Thế thì tôi làm đủ cho cả phố nhà mình thôi.

— Bà giàu quá nhỉ!

— Vậy tôi làm đủ cho người trong nhà thôi.

— Bà hoang phí quá!

— Thôi được, tôi chỉ làm cho con cái nhà mình.

— Lo cho chúng nó làm gì?

— Thôi được, vậy tôi chỉ làm cho hai vợ chồng mình.

— Bà thì việc gì phải ăn?

— Thế thì tôi làm vừa đủ cho một mình ông vậy.

— Khẽ chứ! Ông quan bảo. Ở đây khối kẻ rình xem nhà nào nổi lửa nấu nướng. Bà hãy nhặt chỗ gạo tấm thôi, nhớ chừa gạo nguyên hạt ra, rồi mang theo một cái lò than, mấy cái nồi, một chút xíu sữa, bơ, mật ong và đường, leo lên tầng thứ bảy của ngôi nhà mà nấu ở trên ấy. Tôi sẽ ngồi đó mà ăn một mình, không ai quấy rầy.

Bà vợ vâng lời, cho người khuân hết đồ lên, tự mình leo lên tận trên cùng, cho đầy tớ lui hết, rồi sai người báo ông quan lên. Ông leo lên, cứ qua mỗi tầng lại đóng một cánh cửa, cài then cẩn thận. Lên tới tầng thứ bảy, ông đóng nốt cánh cửa ấy, rồi ngồi xuống. Bà vợ nhóm lửa trong lò, bắc nồi lên, bắt đầu làm bánh.

Sáng sớm hôm ấy, ở tinh xá Kỳ Viên, đức Phật đã bảo trưởng lão Mục-kiền-liên:

— Này Mục-kiền-liên, ở thị trấn Xác-ca-ra gần thành Vương Xá có lão triệu phú keo kiệt muốn ăn bánh, mà sợ người khác biết, nên bắt vợ lên tận tầng thứ bảy làm bánh cho mình. Thầy hãy tới đó, dạy lão biết bố thí, rồi dùng thần thông đưa cả hai vợ chồng cùng bánh, sữa, bơ và mọi thứ về đây. Hôm nay ta cùng năm trăm vị tỳ kheo sẽ ở nhà, và ta sẽ dùng chỗ bánh ấy làm bữa ăn cho mọi người.

Vâng lời đức Phật, trưởng lão dùng thần thông bay tới thị trấn Xác-ca-ra, đứng lơ lửng giữa không trung, ngay trước cửa sổ căn phòng, áo xống chỉnh tề, sáng rực như một pho tượng nạm ngọc.

Bất ngờ trông thấy vị trưởng lão, ông quan run bắn lên. Ông nghĩ bụng: "Mình leo lên tận đây là để tránh mấy vị khách như thế này, thế mà giờ lại có một vị ngay ngoài cửa sổ!"

Rồi ông tức sôi lên, xèo xèo như muối với đường ném vào lửa, buột miệng nói:

— Này thầy tu, thầy đứng giữa trời như thế thì được cái gì? Thầy có đi tới đi lui cho tới khi vạch được cả một con đường giữa trời, thì thầy cũng chẳng được gì đâu.

Vị trưởng lão liền đi tới đi lui giữa không trung!

— Đi tới đi lui thì được gì? Ông quan nói. Thầy có ngồi xếp bằng giữa trời mà thiền định, thì cũng chẳng được gì đâu.

Vị trưởng lão liền ngồi xếp bằng!

— Ngồi đó thì được gì? Thầy có lại đứng trên bậu cửa sổ, thì cũng chẳng được gì đâu.

Vị trưởng lão liền đứng lên bậu cửa sổ.

— Đứng trên bậu cửa sổ thì được gì? Thầy có phun khói ra, thì cũng chẳng được gì đâu!

Vị trưởng lão liền phun khói, khói tuôn ra mù mịt khắp cả toà nhà. Mắt ông quan cay xè như bị kim châm. Ông đã định nói tiếp: "Thầy có bốc cháy lên, thì cũng chẳng được gì đâu," nhưng sợ cháy mất nhà, nên ông vội nuốt câu ấy lại. Ông nghĩ bụng: "Ông thầy tu này lì thật! Không được gì thì ông ta không chịu đi đâu. Đành phải cho ông ta một cái bánh vậy."

Ông bảo vợ:

— Bà làm một cái bánh nhỏ thôi, cho ông thầy tu cho xong chuyện.

Bà vợ nhào một chút bột vào cái bình. Nhưng bột cứ nở mãi, nở mãi, đầy cả bình, thành một cái bánh to tướng!

— Bà cho nhiều bột quá đấy! Ông quan kêu lên.

Ông tự mình lấy đầu thìa xúc một tí bột, cho vào lò nướng. Nhưng chỗ bột tí xíu ấy lại nở to hơn cả cục bột đầu. Cứ mỗi lần ông lấy một tí bột, nó lại nở thành to tướng. Ông nản lòng, bảo vợ:

— Thôi, bà đưa cho ông ta một cái bánh đi.

Nhưng bà vợ vừa nhấc một cái bánh trong rổ ra thì tất cả những cái bánh khác đều dính chặt vào cái ấy. Bà kêu lên với chồng rằng bánh dính hết vào nhau, bà không tách ra được.

— Để tôi tách cho! Ông nói. Nhưng ông cũng không tách được.

Thế là hai vợ chồng mỗi người nắm một góc, cố kéo cho bánh rời ra. Nhưng kéo thế nào, hai người cũng chẳng làm được gì hơn một người. Đang kéo bánh, ông quan vã cả mồ hôi, và cơn thèm bánh biến đâu mất. Ông bảo vợ:

— Tôi chẳng thèm bánh nữa. Đưa cả rổ cho ông thầy tu ấy đi.

Bà vợ cầm rổ bánh tới chỗ vị trưởng lão. Bấy giờ trưởng lão giảng đạo cho hai vợ chồng nghe, nói về Phật, Pháp, Tăng. Trưởng lão giảng rằng bố thí mới thật là dâng cúng, làm cho phúc quả của việc bố thí và các việc lành sáng rực lên như trăng rằm trên trời. Nghe những lời ấy, ông quan cảm phục, nói:

— Thưa thầy, xin mời thầy vào đây, ngồi lên chiếc giường này mà dùng bánh.

— Thưa ông, vị trưởng lão đáp, đức Phật toàn trí cùng năm trăm vị tỳ kheo đang ngồi trong tinh xá chờ bữa bánh. Nếu ông bằng lòng, xin ông hãy đưa bà nhà và chỗ bánh này cùng tôi tới gặp đức Phật.

— Nhưng thưa thầy, lúc này đức Phật đang ở đâu?

— Cách đây bốn mươi lăm do-tuần, ở tinh xá Kỳ Viên.

— Thưa thầy, xa thế thì làm sao mà tới được, đi đường mất bao lâu?

— Nếu ông bằng lòng, tôi sẽ dùng thần thông đưa ông tới đó. Đầu cầu thang nhà ông sẽ vẫn ở đây, nhưng chân cầu thang sẽ ở ngay cổng lớn tinh xá Kỳ Viên. Chỉ bằng thời gian ông bước xuống hết cầu thang, tôi đã đưa ông tới chỗ đức Phật.

— Xin được như vậy, thưa thầy.

Vị trưởng lão giữ nguyên đầu cầu thang ở chỗ cũ, rồi phán:

— Chân cầu thang hãy ở ngay cổng lớn tinh xá Kỳ Viên!

Và quả nhiên đúng như vậy! Hai vợ chồng ông quan chưa kịp bước xuống hết cầu thang thì đã tới Kỳ Viên.

Hai vợ chồng tới trước đức Phật, thưa rằng đã tới giờ dùng bữa. Đức Phật vào trai đường, ngồi lên toà sen đã dọn sẵn, các vị tỳ kheo ngồi quây quanh. Ông quan rót nước cúng dường lên tay các vị tỳ kheo, bắt đầu từ đức Phật. Bà vợ đặt một chiếc bánh vào bát của đức Thế Tôn. Ngài dùng vừa đủ để nuôi thân, năm trăm vị tỳ kheo cũng vậy. Rồi ông quan đi một vòng, dâng sữa pha bơ, mật ong và đường. Đức Phật và các vị tỳ kheo dùng bữa xong. Cuối cùng, hai vợ chồng ông quan cũng ăn no nê, mà bánh vẫn không hết. Cả các vị tỳ kheo lẫn những người ăn xin quanh tinh xá đều được chia phần, mà bánh vẫn chẳng thấy vơi. Người ta tới thưa với đức Phật:

— Bạch Thế Tôn, bánh không vơi đi chút nào cả.

— Vậy thì đem đổ bên cổng lớn tinh xá.

Người ta đem đổ chỗ bánh vào một cái hang không xa cổng tinh xá. Cho tới ngày nay, cuối cái hang ấy vẫn còn một chỗ người ta chỉ cho nhau, gọi là chỗ Bánh Bình.

Hai vợ chồng ông quan tới đứng trước đức Phật. Ngài nói lời cảm tạ, và khi Ngài nói xong, cả hai vợ chồng đều chứng được quả thánh đầu tiên. Rồi hai người từ biệt đức Phật, bước lên cầu thang ở cổng lớn, và lại thấy mình đang ở trong nhà mình. Về sau, ông quan đem hết tám trăm triệu đồng vàng ra làm việc phúc, cúng dường cho giáo pháp của đức Phật.

Ngày hôm sau, chiều tối, các vị tỳ kheo tụ họp trong giảng đường, trầm trồ:

— Thần thông của trưởng lão Mục-kiền-liên lớn thật! Chỉ trong chốc lát mà trưởng lão đã làm cho một lão keo kiệt biết bố thí, đưa lão cùng chỗ bánh tới Kỳ Viên, tới trước đức Phật, và giúp lão bước vào đạo. Thần thông của trưởng lão lớn thật!

Đang lúc mọi người bàn tán như thế thì đức Phật bước vào. Hỏi ra, Ngài biết các vị đang nói chuyện gì. Ngài bảo:

— Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo tới cảm hoá một gia đình, phải tới mà không làm phiền, không làm khó chịu cho gia đình ấy, như con ong hút mật trong hoa mà chẳng hề làm hại hương sắc của hoa, chỉ mang mật bay đi. Người tu đi vào làng cũng nên như thế.

Rồi để ngợi khen trưởng lão Mục-kiền-liên thêm nữa, Ngài nói:

— Này các tỳ kheo, không phải bây giờ Mục-kiền-liên mới cảm hoá được lão quan keo kiệt. Ngày xưa, chính trưởng lão cũng đã cảm hoá lão, và dạy cho lão biết việc mình làm thì mình phải chịu quả của nó.

Rồi Ngài kể lại chuyện ngày xưa.

Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, có một ông quan giữ kho tên là I-li-xa, giàu tới tám trăm triệu đồng vàng, nhưng mang đủ mọi tật xấu trên đời. Lão vừa què, vừa gù, lại vừa lác mắt. Lão chẳng tin đạo lý gì, lại keo kiệt hết mức, chẳng cho ai cái gì, cũng chẳng dám tiêu cho mình. Nhà lão cũng như một cái ao có quỷ ám vậy.

Vậy mà suốt bảy đời, tổ tiên lão đều là những người hào phóng, đem những thứ tốt nhất của mình ra bố thí. Tới khi lão lên làm quan giữ kho, lão phá bỏ nếp nhà. Lão đốt trụi nhà phát chẩn, đánh đuổi người nghèo ra khỏi cổng, rồi cứ thế mà tích của.

Một hôm, đi chầu vua về, lão trông thấy một anh nhà quê đi đường xa mệt mỏi đang ngồi trên ghế, rót rượu nặng từ cái vò ra cốc, uống một hơi, nhắm với miếng cá khô thơm lừng. Trông thấy thế, lão thèm rượu quá. Nhưng lão nghĩ bụng: "Nếu mình uống, thì người khác sẽ đòi uống cùng. Thế thì tốn kém lắm."

Thế là lão cứ đi tới đi lui, cố nén cơn thèm. Nhưng càng lâu càng không nén nổi. Mặt lão vàng như bông cũ, gân nổi lên trên thân hình gầy guộc. Một hôm, lão vào phòng nằm ôm lấy giường. Bà vợ vào, xoa lưng cho lão, hỏi:

— Ông nhà tôi có chuyện gì thế?

Rồi cũng y như chuyện ông triệu phú thèm bánh: bà vợ hỏi có phải nhà vua quở trách, có phải con cái đầy tớ làm phật ý, lão đều lắc đầu. Mãi sau lão mới chịu nhận là lão thèm rượu. Bà vợ bảo nấu rượu đãi cả thành, lão chê bà giàu. Bà bảo nấu cho cả phố, cho cả nhà, cho con cái, cho hai vợ chồng, lão đều gạt đi. Cuối cùng bà nói:

— Thế thì tôi chỉ nấu vừa đủ cho một mình ông thôi.

— Nấu rượu trong nhà thì khối kẻ rình, lão bảo. Còn sai người đi mua rượu về rồi ngồi uống ở đây thì càng không được.

Thế là lão lấy ra đúng một đồng xu, sai một tên đầy tớ ra quán mua về một vò rượu. Tên đầy tớ mua về, lão lại bắt nó mang ra khỏi thành, xuống tận bờ sông, đặt vò rượu vào một bụi rậm khuất nẻo.

— Giờ thì đi đi! Lão bảo.

Lão bắt tên đầy tớ đứng chờ ở đằng xa, rồi một mình rót rượu ra cốc mà uống.

Cha của lão quan giữ kho, nhờ bố thí và làm nhiều việc lành, đã được sinh lên cõi trời làm Đế Thích, vua các vị thần. Lúc ấy, Đế Thích đang tự hỏi không biết việc bố thí của mình ở trần gian có còn được giữ không. Ngài nhìn xuống, thấy việc bố thí đã bị bỏ, thấy cả việc làm của con trai mình. Ngài thấy con mình phá bỏ nếp nhà, đốt trụi nhà phát chẩn, đánh đuổi người nghèo ra khỏi cổng, rồi vì keo kiệt, sợ phải chia cho người khác, đã lén ra bụi rậm uống rượu một mình. Động lòng, Đế Thích nói:

— Ta sẽ xuống đó, cho con ta thấy việc mình làm thì mình phải chịu quả. Ta sẽ cảm hoá nó, làm cho nó biết bố thí, để nó xứng đáng được sinh lên cõi trời.

Thế là Ngài xuống trần gian, lại đi trên những con đường của loài người. Ngài hoá thành lão quan giữ kho I-li-xa, cũng què, cũng gù, cũng lác y hệt. Trong hình dạng ấy, Ngài vào kinh thành, tới cổng cung điện, nhờ người vào tâu vua là mình xin vào chầu.

— Cho vào! Nhà vua phán.

Ngài bước vào, cung kính chào vua.

— Có việc gì mà quan giữ kho tới vào giờ này? Nhà vua hỏi.

— Tâu bệ hạ, thần tới vì trong nhà thần có tám trăm triệu đồng vàng. Xin bệ hạ cho người khuân về, sung vào kho của triều đình.

— Không cần đâu, quan giữ kho ạ. Kho báu trong cung của ta còn nhiều hơn thế.

— Nếu bệ hạ không lấy thì thần sẽ đem cho bất cứ ai thần muốn.

— Cứ việc, quan giữ kho ạ.

— Xin vâng, tâu bệ hạ.

Người mang hình dạng I-li-xa ấy cung kính chào vua, rồi đi về nhà lão quan giữ kho. Đầy tớ xúm lại quanh Ngài, chẳng một ai nhận ra đây không phải ông chủ thật của mình. Ngài bước vào, đứng ở ngưỡng cửa, gọi người gác cổng tới, dặn:

— Nếu có kẻ nào giống ta tới đây, tự xưng là chủ nhà này, thì cứ việc lấy gậy mà nện cho một trận, rồi quăng ra ngoài.

Rồi Ngài lên lầu trên, ngồi xuống một chiếc giường lộng lẫy, cho gọi vợ lão I-li-xa tới. Khi bà tới, Ngài mỉm cười bảo:

— Bà ơi, chúng ta hãy làm phúc đi.

Nghe thế, vợ con và đầy tớ đều nghĩ bụng: "Đã lâu lắm rồi mới thấy ông ấy nghĩ thế. Chắc hôm nay ông uống rượu nên mới hiền lành, rộng rãi thế này." Bà vợ đáp:

— Ông muốn làm phúc bao nhiêu thì cứ làm.

— Bà cho gọi người mõ tới, Ngài bảo, sai đi đánh trống rao khắp thành: ai muốn vàng, bạc, kim cương, ngọc trai và những thứ khác thì hãy tới nhà quan giữ kho I-li-xa.

Bà vợ làm theo. Chẳng mấy chốc, cả một đám đông mang theo thúng, mang theo bao, kéo tới trước cửa. Đế Thích cho mở toang các kho báu, nói to:

— Đây là quà ta tặng các người. Muốn lấy gì thì cứ lấy, rồi đi đi.

Đám đông ùa vào khuân châu báu, đổ thành đống trên sàn, rồi nhét đầy bao, đầy thúng mang theo, khệ nệ ra về.

Trong đám ấy có một anh nhà quê. Anh ta lấy đôi bò của lão I-li-xa thắng vào cỗ xe của lão I-li-xa, chất đầy bảy thứ báu lên, rồi đánh xe ra khỏi thành theo đường cái. Đi tới gần bụi rậm, anh ta cất tiếng hát ca ngợi ông quan giữ kho:

— Cầu cho ông sống trăm tuổi, ông I-li-xa nhân đức của tôi ơi! Những gì hôm nay ông làm cho tôi đủ để tôi sống trọn đời không phải làm lụng gì nữa. Đôi bò này là của ai? Của ông. Cỗ xe này là của ai? Của ông. Của cải trên xe là của ai? Cũng của ông nốt. Chẳng phải cha mẹ nào cho tôi những thứ này, mà chỉ có ông thôi, ông ơi.

Nghe thấy những lời ấy, lão quan giữ kho run lên vì sợ. Lão nghĩ bụng: "Ơ kìa, thằng cha này lại nhắc tên mình. Hay là nhà vua đem của cải của mình chia cho dân rồi?"

Vừa nghĩ tới đó, lão đã nhảy phắt ra khỏi bụi rậm. Nhận ra đôi bò và cỗ xe của mình, lão chộp lấy sợi dây buộc bò, hét lên:

— Đứng lại, thằng kia! Đôi bò này, cỗ xe này là của tao!

Anh nhà quê nhảy xuống xe, giận dữ quát:

— Đồ đểu! Quan giữ kho I-li-xa đang đem của cải cho cả thành đây này. Mày thì làm sao?

Nói rồi anh ta xông vào lão, giáng một cú vào lưng lão như sét đánh, rồi đánh xe đi. Lão I-li-xa lồm cồm bò dậy, run lẩy bẩy, phủi bùn đất, rồi vội vã đuổi theo, níu lấy cỗ xe. Anh nhà quê lại nhảy xuống, túm tóc lão, bẻ gập người lão lại, nện vào đầu lão một hồi. Rồi anh ta bóp cổ lão, quăng lão ngược trở lại con đường lão vừa tới, xong đánh xe đi thẳng.

Bị đánh một trận nên thân, lão I-li-xa tỉnh hẳn rượu, vội vã chạy về nhà. Tới nơi, thấy người ta đang khuân của cải đi, lão chộp lấy người này, túm lấy người kia, kêu thất thanh:

— Ơ kìa! Thế này là thế nào? Nhà vua cướp của tôi đấy à?

Lão chộp lấy ai, người ấy đều cho lão một cú ngã lăn. Thâm tím mình mẩy, đau rát khắp người, lão định chạy vào nhà mình lánh nạn, thì bọn gác cổng chặn lại:

— Ê, thằng đểu kia! Mày định đi đâu thế?

Chúng lấy gậy tre nện cho lão một trận nên thân, rồi túm cổ ông chủ của mình quăng ra ngoài cửa.

— Giờ chỉ còn nhà vua là đòi lẽ phải cho mình được thôi, lão I-li-xa rên rỉ, rồi lết vào cung.

— Tâu bệ hạ, sao bệ hạ lại cướp của thần thế này?

— Đâu phải ta, quan giữ kho ạ, nhà vua đáp. Chẳng phải chính ngươi đã tới đây, nói rằng nếu ta không nhận thì ngươi sẽ đem của cải cho người khác đó sao? Rồi chẳng phải ngươi đã sai mõ đi rao, làm đúng như lời ngươi nói đó sao?

— Ôi tâu bệ hạ, thật không phải thần tới tâu với bệ hạ như thế đâu. Bệ hạ biết đấy, thần chặt chẽ, dè sẻn thế nào, ngay một giọt dầu dính đầu ngọn cỏ thần cũng chẳng bao giờ cho ai. Xin bệ hạ cho gọi kẻ đã đem của cải của thần cho người ta tới đây mà tra hỏi.

Nhà vua cho gọi Đế Thích tới. Hai người giống nhau như đúc, đến nỗi cả nhà vua lẫn triều thần đều không phân biệt được ai mới là quan giữ kho thật. Lão I-li-xa keo kiệt nói:

— Tâu bệ hạ, quan giữ kho này là ai, là cái gì? Thần mới là quan giữ kho!

— Thật tình ta không biết ai mới là I-li-xa thật, nhà vua nói. Có ai phân biệt chắc chắn được không?

— Tâu bệ hạ, có, vợ thần.

Người ta cho gọi bà vợ tới, hỏi trong hai người ai là chồng bà. Bà bảo Đế Thích là chồng mình, rồi tới đứng bên cạnh Đế Thích. Rồi lần lượt con cái, đầy tớ của lão I-li-xa cũng được gọi tới, hỏi cùng một câu ấy. Tất cả đều một mực bảo Đế Thích mới là quan giữ kho thật.

Bấy giờ lão I-li-xa chợt nhớ ra trên đầu lão có một cái mụn cóc giấu trong tóc, ngoài người thợ cạo ra thì chẳng ai biết. Thế là, như một cách cuối cùng, lão xin cho gọi người thợ cạo tới nhận mặt mình. Hồi ấy, đức Bồ Tát chính là người thợ cạo của lão. Người ta cho gọi người thợ cạo tới, hỏi anh có phân biệt được I-li-xa thật với I-li-xa giả không.

— Tâu bệ hạ, thần phân biệt được, anh đáp, nếu thần được xem đầu của hai người.

— Vậy thì xem đầu cả hai đi, nhà vua bảo.

Ngay lúc ấy, Đế Thích làm cho trên đầu mình mọc lên một cái mụn cóc! Xem xét cả hai xong, đức Bồ Tát tâu rằng cả hai đều có mụn cóc trên đầu, nên chết thì thôi chứ anh cũng chẳng nói được ai mới là người thật. Rồi anh đọc câu kệ:

— Cả hai đều lác, cả hai đều què, cả hai đều gù, cả hai cùng có mụn cóc như nhau! Thần chẳng biết trong hai người, ai mới là I-li-xa thật.

Nghe niềm hy vọng cuối cùng tan biến, lão quan giữ kho run bắn lên. Đau đớn vì mất hết của cải yêu quý, không chịu nổi, lão ngã lăn ra bất tỉnh.

Bấy giờ Đế Thích dùng phép thần thông bay lên không trung, từ trên cao nói với nhà vua:

— Tâu đức vua, ta không phải là I-li-xa, mà là Đế Thích.

Những người xung quanh lau mặt cho lão I-li-xa, tạt nước cho lão tỉnh lại. Tỉnh dậy, lão đứng lên, cúi rạp xuống đất lạy Đế Thích, vua các vị thần. Đế Thích nói:

— I-li-xa, của cải ấy là của ta, chứ không phải của con. Ta là cha con, còn con là con ta. Khi còn sống, ta rộng lòng với người nghèo, vui vẻ làm điều lành, vì thế ta được lên chốn cao sang này, làm Đế Thích. Còn con, con không theo bước chân ta, con trở thành kẻ bủn xỉn, keo kiệt. Con đã đốt trụi nhà phát chẩn của ta, đuổi người nghèo ra khỏi cổng, tích của làm giàu. Chính con không được hưởng, mà cũng chẳng ai được hưởng. Kho của con thành ra như một cái ao có quỷ ám, chẳng ai uống được một ngụm nước. Tuy vậy, nếu con dựng lại nhà phát chẩn của ta và bố thí cho người nghèo, thì đó sẽ là phúc đức của con. Còn nếu không, ta sẽ lột sạch mọi thứ con có, rồi lấy chày kim cương của thần Nhân-đà-la bổ đôi đầu con, và con sẽ chết.

Nghe lời doạ ấy, lão I-li-xa run sợ cho tính mạng mình, kêu lên:

— Từ nay con xin bố thí!

Đế Thích nhận lời hứa ấy. Vẫn ngồi giữa không trung, Ngài dạy con mình giữ giới, giảng đạo lý cho lão nghe, rồi trở về cõi của mình. Từ đó, lão I-li-xa chăm chỉ bố thí, làm điều lành, và nhờ thế về sau được sinh lên cõi trời.

Đức Phật nói:

— Này các tỳ kheo, không phải bây giờ Mục-kiền-liên mới cảm hoá được lão quan keo kiệt. Ngày xưa cũng chính trưởng lão đã cảm hoá người này.

Rồi Ngài cho biết: lão quan keo kiệt bây giờ chính là I-li-xa thuở ấy, Mục-kiền-liên là Đế Thích, A-nan là nhà vua, còn người thợ cạo chính là Ngài.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKinh Bổn Sinh (Jataka)
Xuất bản lần đầu1895
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Illisa-Jataka, Jataka số 78, Kinh Bổn Sinh (tạng Pali); dịch từ bản tiếng Anh The Jataka, or Stories of the Buddha's Former Births, tập 1, Robert Chalmers dịch, E. B. Cowell chủ biên, 1895
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →