Xít-ca Sác-li đã làm được điều không thể. Những người Anh-điêng khác có thể cũng thạo cái khôn ngoan của đường trường như anh. Nhưng chỉ mình anh hiểu được cái khôn ngoan của người da trắng, danh dự của đường trường, và lề luật. Có điều, những thứ ấy không đến với anh trong một ngày. Đầu óc người bản xứ chậm khái quát, phải có nhiều sự việc, lặp đi lặp lại nhiều lần, mới đi tới được một điều hiểu biết. Xít-ca Sác-li từ thuở bé đã luôn sống lẫn với người da trắng, và khi thành người lớn, anh đã chọn gắn số phận mình với họ, tự rời bỏ đồng bào mình một lần cho mãi mãi. Ngay cả khi ấy, dù kính trọng, gần như tôn thờ sức mạnh của họ, dù suy ngẫm mãi về nó, anh vẫn chưa thấu được cái cốt lõi bí ẩn của nó, đó là danh dự và lề luật. Phải nhờ những bằng chứng dồn lại qua năm tháng, cuối cùng anh mới hiểu ra. Là kẻ ngoại tộc, khi đã hiểu thì anh hiểu còn rõ hơn cả chính người da trắng. Là một người Anh-điêng, anh đã làm được điều không thể.
Và từ những điều ấy nảy sinh trong anh một chút khinh miệt đồng bào mình, một sự khinh miệt mà anh đã quen giấu kín, nhưng giờ đây bùng ra thành một cơn lốc chửi rủa bằng đủ thứ tiếng, trút lên đầu Ca-chúc và Gao-hi. Hai người co rúm trước anh như một cặp chó sói lai đang gầm gừ, quá hèn để nhảy xổ vào, mà lại quá sói để giấu nanh đi. Họ không đẹp đẽ gì. Xít-ca Sác-li cũng vậy. Cả ba trông thật khủng khiếp. Mặt họ không còn chút thịt nào, gò má họ đóng đầy những vảy ghê tởm, cứ nứt ra rồi lại đông cứng lại dưới cái giá rét khắc nghiệt, còn mắt họ thì rực lên thứ ánh sáng hung hãn sinh ra từ tuyệt vọng và đói khát. Những người lâm vào cảnh ấy, đã ra ngoài vòng danh dự và lề luật, thì không thể tin được. Xít-ca Sác-li biết thế, vì vậy mười ngày trước anh đã bắt họ bỏ lại súng cùng với phần đồ đạc còn lại của trại. Chỉ còn súng của anh và của đại uý Ép-pinh-oen là được giữ lại.
— Nào, nhóm lửa đi, — anh ra lệnh, lấy ra hộp diêm quý giá cùng mấy dải vỏ cây phong khô đi kèm.
Hai người Anh-điêng hằm hằm bắt tay vào việc gom cành khô và cây bụi. Họ yếu ớt, chốc chốc lại phải dừng, có lúc đang cúi xuống thì choáng váng phải gượng lại, có lúc loạng choạng mang củi về chỗ nhóm lửa, đầu gối run lập cập như phách gõ.
Sau mỗi chuyến, họ dừng lại nghỉ một lát, như người ốm, mệt muốn chết. Có lúc mắt họ mang vẻ cam chịu nhẫn nại của nỗi khổ câm lặng. Có lúc cái tôi bên trong họ dường như sắp bật ra thành tiếng thét hoang dại: Tôi, tôi, tôi muốn được sống! Đó là cái điệu chủ âm của cả vũ trụ sống động này.
Một làn gió nhẹ thổi tới từ phương nam, cắn vào những chỗ da thịt hở ra, xua cái giá rét như những mũi kim lửa xuyên qua lông thú, qua da thịt tới tận xương. Vì thế, khi lửa đã cháy to và làm tan một vòng tuyết ẩm quanh nó, Xít-ca Sác-li bắt những người bạn đường miễn cưỡng của mình giúp một tay dựng tấm che. Đó là một thứ thô sơ, chỉ là một tấm chăn căng song song với đống lửa, ở phía đầu gió, nghiêng chừng bốn mươi lăm độ. Nó chắn được gió lạnh, lại hắt hơi nóng ngược về, chiếu xuống những ai co ro nép dưới nó. Rồi một lớp cành vân sam tươi được trải ra, để người họ không chạm vào tuyết. Làm xong việc ấy, Ca-chúc và Gao-hi bắt đầu chăm sóc đôi chân. Đôi giày da đóng băng của họ đã mòn vẹt thảm hại vì đi đường nhiều, những mảng băng sắc nhọn ở các chỗ băng dồn trên sông đã cứa nát chúng thành giẻ rách.
Đôi tất của họ cũng chẳng hơn gì, và khi những chiếc tất ấy được hơ tan băng rồi cởi ra, những đầu ngón chân trắng bệch như chết, ở đủ mọi mức độ hoại thư, kể lại câu chuyện giản dị của đường trường.
Để hai người lại với việc hong giày, Xít-ca Sác-li quay trở lại con đường mình vừa đi qua. Anh cũng thèm muốn vô cùng được ngồi bên lửa mà chăm sóc tấm thân đang kêu than, nhưng danh dự và lề luật không cho phép. Anh vất vả lê bước qua cánh đồng băng, mỗi bước là một lời phản kháng, mỗi thớ thịt là một cuộc nổi loạn. Mấy lần, ở những chỗ mặt nước giữa các đống băng dồn mới đóng một lớp mỏng, anh phải khổ sở đi nhanh hơn vì lớp băng mỏng manh rung rinh, chực sụp dưới chân. Ở những chỗ như thế, cái chết thật nhanh chóng và dễ dàng. Nhưng anh không hề muốn thôi chịu đựng.
Nỗi lo âu mỗi lúc một lớn trong anh tan biến khi hai người Anh-điêng lê bước hiện ra ở một khúc quanh của dòng sông. Họ lảo đảo, thở hồng hộc như những người gánh nặng, dù bọc hành lý trên lưng họ chỉ nặng vài cân. Anh hăm hở hỏi han, và câu trả lời của họ dường như làm anh nhẹ nhõm. Anh vội vã đi tiếp. Kế đó là hai người da trắng, dìu một người đàn bà ở giữa. Họ cũng đi như người say, chân tay run lên vì yếu. Nhưng người đàn bà chỉ tựa nhẹ vào họ, chọn tự mình dùng sức mình mà bước tới. Trông thấy chị, một tia vui sướng thoáng loé lên trên mặt Xít-ca Sác-li. Anh hết sức quý trọng bà Ép-pinh-oen. Anh đã gặp nhiều phụ nữ da trắng, nhưng đây là người đầu tiên đi đường trường cùng anh. Hồi đại uý Ép-pinh-oen đề ra cuộc mạo hiểm ấy và thuê anh làm người dẫn đường, anh đã nghiêm trang lắc đầu, vì đó là một hành trình chưa ai biết, xuyên qua những vùng mênh mông ảm đạm của xứ Bắc, và anh biết đó là loại hành trình thử thách linh hồn con người tới tận cùng.
Nhưng khi biết vợ ông đại uý cũng sẽ đi cùng, anh đã thẳng thừng từ chối không dính dáng gì tới chuyện ấy nữa. Nếu là một người đàn bà cùng giống nòi với anh thì anh chẳng phản đối gì. Nhưng những người đàn bà miền Nam ấy, không, không, họ quá mềm yếu, quá mỏng manh cho những chuyến đi như thế.
Xít-ca Sác-li không biết loại đàn bà này. Năm phút trước đó, anh còn chẳng hề mơ tới chuyện sẽ dẫn đoàn thám hiểm. Nhưng khi chị tới gặp anh với nụ cười tuyệt diệu, với thứ tiếng Anh rành mạch trong trẻo, nói thẳng vào việc, không nài nỉ, không thuyết phục, anh đã lập tức chịu thua. Giá trong mắt chị có vẻ yếu mềm, có ý cầu xin lòng thương, giá giọng chị run rẩy, giá chị lợi dụng mình là phụ nữ, thì anh đã cứng rắn như thép. Thay vào đó, đôi mắt trong sáng thấu suốt, giọng nói trong trẻo vang ngân, sự thẳng thắn hoàn toàn và cái ngầm coi nhau ngang hàng của chị đã khiến anh mất cả lý trí. Bấy giờ anh cảm thấy đây là một giống đàn bà mới. Và chưa đi đường cùng nhau được bao nhiêu ngày, anh đã hiểu vì sao con trai của những người đàn bà như thế làm chủ được cả đất liền lẫn biển cả, và vì sao con trai của đàn bà giống nòi anh không thể thắng nổi họ. Mềm yếu và mỏng manh ư! Ngày qua ngày anh nhìn chị, bắp thịt mỏi nhừ, kiệt sức mà không chịu khuất phục, và những chữ ấy cứ dội vào anh như một điệp khúc không dứt. Mềm yếu và mỏng manh ư! Anh biết đôi chân chị sinh ra để đi trên những lối dễ dàng, ở những miền đất đầy nắng, xa lạ với nỗi đau trong đôi giày da của xứ Bắc, chưa từng bị đôi môi lạnh giá của sương muối hôn lên. Và anh nhìn đôi chân ấy mà kinh ngạc, thấy chúng cứ thoăn thoắt suốt cả ngày dài mệt mỏi.
Bao giờ chị cũng có một nụ cười và một lời động viên, không trừ ra cả người khuân vác thấp kém nhất. Đường càng tối tăm, chị dường như càng cứng cỏi hơn và càng thêm sức. Khi Ca-chúc và Gao-hi, những kẻ từng khoe rằng mình thuộc từng cột mốc trên đường như trẻ con thuộc những tấm da căng lều, phải thú nhận rằng họ không biết mình đang ở đâu, thì chính chị là người cất tiếng tha thứ giữa những lời nguyền rủa của đám đàn ông. Đêm ấy chị đã hát cho họ nghe, tới khi họ thấy mệt mỏi rơi khỏi người, sẵn sàng đối mặt với tương lai bằng niềm hy vọng mới. Và khi lương thực cạn, mỗi khẩu phần ít ỏi đều được đong đếm ghen tị từng chút, chính chị đã phản đối những mưu tính của chồng chị và Xít-ca Sác-li, đòi và được nhận một phần không nhiều hơn mà cũng không ít hơn phần của mọi người.
Xít-ca Sác-li tự hào được biết người đàn bà này. Có chị, đời anh như giàu thêm, rộng thêm. Từ trước tới nay anh tự làm thầy mình, rẽ trái hay rẽ phải chẳng theo hiệu lệnh của ai. Anh tự nhào nặn mình theo ý mình, nuôi dưỡng khí phách đàn ông của mình chẳng màng tới gì ngoài ý kiến của chính mình. Lần đầu tiên anh cảm thấy một tiếng gọi từ bên ngoài đòi hỏi điều tốt đẹp nhất trong anh. Chỉ một cái nhìn tán thưởng từ đôi mắt trong sáng thấu suốt, một lời cảm ơn từ giọng nói trong trẻo vang ngân, chỉ một cái nhếch môi khẽ khàng thành nụ cười tuyệt diệu, là anh đã thấy mình đi cùng thần thánh hàng giờ liền. Đó là một liều thuốc mới cho khí phách đàn ông của anh. Lần đầu tiên anh rung lên một niềm tự hào có ý thức về cái khôn ngoan đường trường của mình. Và cả hai người luôn nâng đỡ những trái tim đang chùng xuống của các bạn đường. Mặt hai người đàn ông và người đàn bà sáng lên khi trông thấy anh, vì rốt cuộc anh vẫn là cây gậy để họ dựa vào. Nhưng Xít-ca Sác-li, cứng nhắc như thường lệ, giấu cả đau đớn lẫn vui sướng như nhau dưới cái vẻ ngoài sắt đá, chỉ hỏi họ tình hình những người còn lại, bảo họ còn bao xa nữa thì tới chỗ lửa, rồi tiếp tục quay ngược lại.
Kế đó anh gặp một người Anh-điêng đi một mình, không mang gì, khập khiễng, môi mím chặt, mắt đờ ra vì đau đớn ở một bàn chân mà phần thịt sống đang thua trận trước phần thịt chết. Người ta đã chăm sóc anh ta hết mức có thể, nhưng tới bước đường cùng thì kẻ yếu và kẻ bất hạnh phải chết, và Xít-ca Sác-li đoán anh ta chẳng còn mấy ngày. Người ấy không thể theo kịp được lâu, nên anh nói với anh ta mấy lời động viên cộc cằn. Sau đó là hai người Anh-điêng nữa, những người được anh giao việc dìu Giô, người da trắng thứ ba trong đoàn. Họ đã bỏ rơi anh ta. Chỉ liếc qua, Xít-ca Sác-li đã thấy cái thế chực nhảy xổ ra ẩn trong người họ, và biết rằng rốt cuộc họ đã rũ bỏ quyền chỉ huy của anh. Vì thế anh không bị bất ngờ khi ra lệnh cho họ quay lại tìm người họ đã bỏ rơi và thấy ánh dao săn loé lên khi họ rút khỏi bao. Một cảnh tượng thảm hại, ba con người yếu ớt dốc chút sức lực còm cõi của mình trước vùng mênh mông hùng vĩ. Nhưng hai người kia phải lùi lại dưới những cú báng súng dữ dội của người này, và trở về như những con chó bị đánh quay về với sợi xích. Hai giờ sau, với Giô lảo đảo ở giữa hai người họ và Xít-ca Sác-li đi đoạn hậu, họ tới chỗ đống lửa, nơi cả đoàn còn lại đang co ro nép dưới tấm che.
— Đôi lời, các bạn của tôi, trước khi chúng ta ngủ, — Xít-ca Sác-li nói sau khi mọi người đã ngấu nghiến khẩu phần bánh không men ít ỏi.
Anh nói với những người Anh-điêng bằng tiếng của họ, sau khi đã nói ý chính cho những người da trắng nghe.
— Đôi lời, các bạn của tôi, vì lợi ích của chính các anh, để biết đâu các anh còn sống được. Tôi sẽ nói cho các anh biết lề luật. Kẻ nào phạm luật thì kẻ ấy phải trả bằng cái chết. Chúng ta đã vượt qua Những Ngọn Đồi Im Lặng, và giờ đang đi trên thượng nguồn sông Xtiu-ớt. Có thể còn một giấc ngủ, có thể vài giấc, có thể nhiều giấc nữa, nhưng rồi chúng ta sẽ tới chỗ những người trên sông Y-u-cơn, những người có nhiều lương thực. Chúng ta nên giữ lề luật. Hôm nay Ca-chúc và Gao-hi, những người tôi giao việc mở đường, đã quên mất mình là đàn ông, và bỏ chạy như những đứa trẻ hoảng sợ.
— Đúng, họ đã quên. Vậy thì chúng ta cũng hãy quên đi. Nhưng từ nay về sau, họ hãy nhớ lấy. Nếu chẳng may họ không nhớ...
Anh thản nhiên chạm vào khẩu súng, vẻ nghiệt ngã.
— Ngày mai họ sẽ mang bột mì, và phải lo sao cho người da trắng Giô không nằm lại bên đường. Số cốc bột mì đã được đếm. Nếu tới tối mà thiếu đi dù chỉ một chút... Các anh hiểu chứ? Hôm nay còn có những người khác cũng quên. Đầu Nai và Ba Cá Hồi đã bỏ người da trắng Giô nằm lại trên tuyết. Họ đừng quên nữa. Trời sáng là họ phải đi trước mở đường. Các anh đã nghe lề luật. Hãy coi chừng, đừng phạm vào nó.
Xít-ca Sác-li thấy mình không sao giữ được cả đoàn đi sát nhau. Từ Đầu Nai và Ba Cá Hồi mở đường phía trước, tới Ca-chúc, Gao-hi và Giô, cả đoàn kéo dài lê thê hơn một cây số rưỡi. Mỗi người lảo đảo, ngã hay nghỉ tuỳ theo ý mình.
Cuộc hành quân là một chuỗi những chặng dừng không đều nhau. Mỗi người dốc chút sức tàn cuối cùng mà vấp váp đi tới cho tới khi cạn kiệt, nhưng bằng một phép màu nào đó, bao giờ cũng còn một chút sức tàn cuối cùng khác. Mỗi lần ngã xuống, người ta đều tin chắc mình sẽ không bao giờ đứng dậy nổi nữa. Thế mà họ vẫn đứng dậy, hết lần này tới lần khác. Thể xác chịu thua, ý chí chiến thắng, nhưng mỗi chiến thắng là một bi kịch. Người Anh-điêng có bàn chân bị cóng không còn đi thẳng được nữa, phải bò bằng tay và đầu gối. Anh ta hiếm khi nghỉ, vì biết cái giá mà giá rét đòi.
Ngay cả đôi môi bà Ép-pinh-oen rốt cuộc cũng cứng lại thành một nụ cười như đá, còn đôi mắt chị nhìn mà như không thấy. Chị thường dừng lại, áp bàn tay đeo găng lên ngực, thở hổn hển, choáng váng.
Giô, người da trắng, đã vượt qua cái ngưỡng của đau đớn. Anh ta không còn xin người ta để mình yên, không còn cầu được chết nữa, mà đã được xoa dịu, mãn nguyện dưới liều thuốc tê của cơn mê sảng. Ca-chúc và Gao-hi thô bạo lôi anh ta đi, nhiều lần trút lên anh ta những cái nhìn hằn học hay những cú đánh. Với họ, đó là đỉnh điểm của sự bất công.
Lòng họ cay đắng vì căm ghét, nặng trĩu vì sợ hãi. Tại sao họ phải hao sức vì sự yếu đuối của anh ta? Làm thế là chết. Không làm thế thì... và họ nhớ tới lề luật của Xít-ca Sác-li, và khẩu súng.
Trời càng ngả tối, Giô càng ngã nhiều hơn, mà lại khó đỡ dậy tới mức họ tụt lại phía sau mỗi lúc một xa. Có lúc cả ba cùng ngã nhào xuống tuyết, vì hai người Anh-điêng đã yếu lắm rồi. Vậy mà trên lưng họ là sự sống, là sức lực, là hơi ấm.
Trong những bao bột mì là tất cả những gì có thể giữ cho người ta tồn tại. Họ không thể không nghĩ tới điều ấy, và chuyện xảy ra sau đó cũng chẳng có gì lạ. Họ đã ngã xuống bên một đống gỗ trôi dạt lớn, nơi hàng nghìn khối củi đang chờ que diêm. Gần đó là một lỗ hở trên mặt băng. Ca-chúc nhìn đống củi và mặt nước, Gao-hi cũng vậy. Rồi họ nhìn nhau.
Không một lời nào được nói ra. Gao-hi nhóm lửa. Ca-chúc múc đầy một cốc thiếc nước rồi hơ nóng. Giô lảm nhảm những chuyện ở một xứ sở khác, bằng một thứ tiếng họ không hiểu.
Họ khuấy bột mì với nước ấm cho tới khi thành một thứ hồ loãng, và uống hết cốc này tới cốc khác. Họ không mời Giô. Nhưng anh ta chẳng bận tâm. Anh ta chẳng bận tâm tới gì nữa, cả tới đôi giày da đang cháy xém, bốc khói giữa đống than.
Một làn sương tuyết trong như pha lê rơi quanh họ, nhẹ nhàng, âu yếm, quấn họ trong những tấm áo choàng trắng mềm mại. Và đôi chân họ hẳn còn bước trên nhiều nẻo đường nữa, nếu số phận không gạt mây đi cho bầu trời trong trẻo. Phải, chỉ cần chậm mười phút thôi cũng đủ cứu họ.
Xít-ca Sác-li ngoảnh lại, trông thấy cột khói bốc lên từ đống lửa của họ, và đoán ra. Anh nhìn về phía trước, nhìn những người trung thành, và nhìn bà Ép-pinh-oen.
— Vậy là, các bạn tốt của tôi, các anh lại quên mất mình là đàn ông rồi sao? Được! Tốt lắm. Thế là bớt đi mấy cái bụng phải nuôi.
Vừa nói, Xít-ca Sác-li vừa buộc lại bao bột mì, gắn chặt bọc ấy vào bọc hành lý trên lưng mình. Anh đá Giô cho tới khi cơn đau xuyên qua được cõi sung sướng của con người khốn khổ ấy, khiến anh ta lảo đảo đứng dậy. Rồi anh đẩy anh ta ra đường, cho anh ta bước đi. Hai người Anh-điêng định lẻn đi.
— Đứng lại, Gao-hi! Cả anh nữa, Ca-chúc! Bột mì đã cho chân các anh khoẻ tới mức chạy nhanh hơn được viên đạn chì có cánh hay sao? Đừng hòng lừa được lề luật. Hãy làm đàn ông lần cuối, và hãy bằng lòng vì được chết khi bụng no.
— Nào, bước lên, lùi lại chỗ đống gỗ, đứng vai kề vai. Nào!
Hai người tuân lệnh, lặng lẽ, không sợ hãi, vì điều đè nặng lên con người là tương lai, chứ không phải hiện tại.
— Anh Gao-hi, anh có vợ con và một căn lều da hươu ở xứ Chi-pê-oai-an. Anh muốn dặn lại gì?
— Anh hãy đưa cho vợ tôi những thứ là phần của tôi theo lời ông đại uý, chăn, hạt cườm, thuốc lá, cái hộp phát ra những tiếng lạ theo kiểu người da trắng. Hãy nói là tôi chết trên đường, nhưng đừng nói chết thế nào.
— Còn anh, Ca-chúc, người chẳng có vợ cũng chẳng có con?
— Tôi có một người em gái, vợ của viên quản lý trạm buôn ở Cô-xim. Hắn đánh nó, nó không được sung sướng. Anh hãy đưa cho nó những thứ là phần của tôi theo giao kèo, và bảo nó nên quay về với người của nó. Nếu anh gặp gã đàn ông ấy, và nếu anh muốn, thì cho hắn chết cũng là một việc tốt. Hắn đánh nó, và nó sợ hãi.
— Các anh có bằng lòng chết theo lề luật không?
— Chúng tôi bằng lòng.
— Vậy thì vĩnh biệt, các bạn tốt của tôi. Mong rằng trước khi ngày này tàn, các anh được ngồi bên nồi thức ăn đầy ắp, trong những căn lều ấm áp.
Vừa nói, anh vừa giương súng, và nhiều tiếng vọng phá tan sự im lặng. Chúng vừa tắt thì xa xa những khẩu súng khác cũng lên tiếng. Xít-ca Sác-li giật mình.
Đã có hơn một phát súng, mà cả đoàn chỉ còn một khẩu súng nữa thôi.
Anh liếc nhanh nhìn hai người đang nằm lặng lẽ, mỉm cười cay độc trước cái khôn ngoan của đường trường, rồi vội vã đi tiếp để gặp những người trên sông Y-u-cơn.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn