Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Lời thề kết nghĩa

của Hans Christian Andersen

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 18.348 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Chúng tôi vừa làm một chuyến đi nhỏ, và…
  2. 3:27Những khi tuyết phủ quanh túp lều, phủ gần…
  3. 7:14Lều chúng tôi không đủ chỗ cho họ, mà…
  4. 10:50Mẹ tôi biết đan lưới đánh cá, mà ở…
  5. 14:27Một tháng sau anh lại tới, kể rằng anh…
  6. 18:01Cả ba chúng tôi lặng lẽ đọc lời cầu…
  7. 19:29Còn một điều nữa anh phải biết! Một điều…
  8. 21:08Tôi không nói được lời nào. Nhưng anh nắm…

Chúng tôi vừa làm một chuyến đi nhỏ, và đã nóng lòng muốn đi một chuyến xa hơn. Đi đâu? Tới Xpác-ta! Tới Mi-xen! Tới Đen-phơ! Có hàng trăm nơi chỉ nghe tên thôi trái tim đã đập rộn lên vì khao khát lên đường.

Đi ở đây là đi ngựa, leo những lối mòn trên núi, băng qua những lùm cây bụi rậm. Một người lữ khách đi một mình mà cũng thành cả một đoàn lữ hành. Chính anh ta cưỡi ngựa đi đầu cùng người dắt ngựa thuê, một con ngựa thồ mang hòm xiểng, lều trại và lương thực, vài người lính theo sau để bảo vệ. Chẳng có quán trọ nào với chiếc giường trải sẵn tươm tất chờ anh sau một ngày đường mỏi mệt. Giữa thiên nhiên hoang dã bao la, nhiều khi mái lều là mái nhà của anh. Người dắt ngựa nấu một nồi cơm pi-láp cho bữa tối. Hàng nghìn con muỗi vo ve quanh cái lều nhỏ, đó là một đêm khốn khổ. Sáng mai đường lại vượt qua những con sông nước lũ dâng cao, hãy ngồi cho vững trên lưng ngựa, kẻo bị cuốn trôi.

Bù lại những vất vả ấy là gì? Là phần thưởng lớn nhất, giàu có nhất! Thiên nhiên hiện ra ở đây trong tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Mỗi tấc đất là một trang sử, mắt được no nê và tâm trí được thoả thuê. Nhà thơ có thể ca ngợi, hoạ sĩ có thể vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp, nhưng cái hương vị của đời thực, cái hương vị thấm vào mãi mãi và đọng lại trong tâm trí người đã tận mắt chiêm ngưỡng, thì họ không sao tái hiện nổi.

Người chăn cừu đơn độc trên núi kia, chỉ bằng một câu chuyện giản dị về một biến cố trong đời mình, có khi lại mở mắt cho bạn hiểu về xứ sở của người Hy Lạp hơn mọi nhà viết du ký, chỉ qua vài nét chấm phá.

Vậy hãy để anh ấy kể! Người chăn cừu trên núi kia sẽ kể cho chúng ta nghe về một phong tục, một phong tục đẹp đẽ và lạ lùng: lời thề kết nghĩa.

Và người chăn cừu bắt đầu kể:

Nhà chúng tôi trát bằng đất sét, nhưng khung cửa lại là những cột đá cẩm thạch có khía rãnh, tìm thấy ngay chỗ dựng nhà. Mái nhà gần chạm tới mặt đất. Bây giờ nó đã nâu đen và xấu xí, nhưng hồi mới lợp, đó là những cành trúc đào đang nở hoa và những cành nguyệt quế tươi, hái từ bên kia núi về.

Quanh nhà chúng tôi chật hẹp lắm. Những vách đá dựng đứng sừng sững, trơ trụi một màu đen. Trên đỉnh vách thường lơ lửng những đám mây, như những hình người trắng toát đang sống. Ở đây tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng chim hót, chưa bao giờ thấy đàn ông nhảy múa theo tiếng kèn túi. Nhưng nơi này linh thiêng từ thuở xa xưa, chính cái tên của nó đã nói lên điều đó, vì người ta gọi nó là Đen-phơ!

Những ngọn núi sẫm màu, nghiêm nghị, ngọn nào cũng phủ tuyết. Ngọn cao nhất, ngọn còn sáng rực lâu nhất trong ánh hoàng hôn đỏ, là núi Pác-nát. Con suối gần nhà chúng tôi chảy xuống từ đó, ngày xưa cũng là suối thiêng. Bây giờ con lừa giẫm chân làm đục nước, nhưng dòng suối chảy xiết, chẳng mấy chốc lại trong veo.

Tôi nhớ biết bao từng góc nhỏ ở đó, cùng cái tĩnh lặng sâu thẳm, thiêng liêng của nó! Giữa túp lều người ta nhóm lửa, và khi đống tro nóng đã cao và còn đỏ rực, mẹ tôi vùi bánh mì vào đó mà nướng.

Những khi tuyết phủ quanh túp lều, phủ gần kín cả lều, thì hình như mẹ tôi lại vui nhất. Bà ôm đầu tôi trong hai bàn tay, hôn lên trán tôi, rồi hát những bài hát mà bình thường bà chẳng bao giờ hát, vì người Thổ, những kẻ cai trị chúng tôi, không cho phép. Bà hát:

"Trên đỉnh Ô-lim-pơ, giữa rừng thông thấp, có một con hươu già ngồi đó. Mắt nó nặng trĩu những giọt lệ. Nó khóc những giọt lệ đỏ, phải, cả lệ xanh lá và lệ xanh nhạt nữa. Một con hoẵng đực đi ngang qua, hỏi: Anh làm sao thế, sao anh khóc thế, khóc những giọt lệ đỏ, xanh lá và cả xanh nhạt? Con hươu đáp: Người Thổ đã tới làng chúng ta, hắn có cả một bầy chó dữ để săn, đông vô kể. Tôi sẽ đuổi chúng qua các đảo, con hoẵng trẻ nói, tôi sẽ đuổi chúng qua các đảo, xuống tận biển sâu. Nhưng chưa tới tối, con hoẵng đã bị giết. Và chưa tới đêm, con hươu đã bị săn đuổi tới chết."

Những khi mẹ hát như thế, mắt bà ướt đẫm, một giọt lệ đọng trên hàng mi dài. Nhưng bà giấu đi, rồi trở mấy cái bánh mì đen trong đống tro. Bấy giờ tôi nắm chặt tay lại mà nói:

— Chúng ta sẽ giết bọn Thổ!

Nhưng bà chỉ nhắc lại lời bài hát: "Tôi sẽ đuổi chúng qua các đảo, xuống tận biển sâu. Nhưng chưa tới tối, con hoẵng đã bị giết. Và chưa tới đêm, con hươu đã bị săn đuổi tới chết."

Đã nhiều ngày đêm mẹ con tôi chỉ có hai người trong túp lều, thì bố tôi về. Tôi biết bố sẽ mang về cho tôi mấy cái vỏ sò từ vịnh Lê-pan-tô, hay có khi cả một con dao sắc, sáng loáng. Nhưng lần này bố mang về cho chúng tôi một đứa bé, một bé gái trần truồng. Bố ủ nó dưới chiếc áo lông cừu của mình. Nó được quấn trong một tấm da, và khi được cởi ra, nằm trong lòng mẹ tôi, tất cả những gì nó có là ba đồng bạc buộc vào mái tóc đen.

Bố kể về những tên lính Thổ đã giết bố mẹ đứa bé. Bố kể nhiều tới mức tôi mơ thấy những chuyện ấy suốt đêm. Chính bố cũng bị thương. Mẹ băng cánh tay cho bố, vết thương sâu hoắm, chiếc áo lông cừu dày đã cứng đờ vì máu đông lại.

Đứa bé gái sẽ là em gái tôi. Nó xinh đẹp biết bao, trong trẻo, rạng rỡ biết bao, đôi mắt của mẹ tôi cũng không hiền dịu hơn mắt nó. A-na-xta-xi-a, như người ta gọi nó, sẽ là em gái tôi. Bởi bố nó đã kết nghĩa với bố tôi, kết nghĩa theo phong tục cổ xưa mà chúng tôi vẫn còn giữ tới bây giờ. Thuở còn trẻ, hai người đã thề kết làm anh em, và đã chọn người con gái đẹp nhất, nết na nhất cả vùng làm lễ kết nghĩa cho họ. Tôi đã nghe kể về phong tục đẹp đẽ, lạ lùng ấy biết bao nhiêu lần.

Thế là giờ cô bé là em gái tôi. Em ngồi trong lòng tôi. Tôi mang cho em hoa và lông chim núi. Chúng tôi cùng uống nước suối Pác-nát, cùng ngủ đầu kề đầu dưới mái lều lợp nguyệt quế. Bao nhiêu mùa đông nữa, mẹ tôi vẫn còn hát về những giọt lệ đỏ, xanh lá và xanh nhạt. Nhưng khi ấy tôi chưa hiểu rằng chính muôn vàn nỗi đau của dân tộc tôi đang soi bóng trong những giọt lệ ấy.

Một hôm có ba người đàn ông phương Tây tới, ăn mặc khác hẳn chúng tôi. Họ chở giường và lều trên lưng ngựa, và hơn hai mươi người lính Thổ mang gươm, mang súng đi theo hộ tống, vì họ là bạn của quan pa-sa và có thư của ông ta. Họ tới chỉ để ngắm núi non của chúng tôi, để trèo lên đỉnh Pác-nát giữa tuyết và mây, và để chiêm ngưỡng những vách đá đen, dựng đứng, kỳ lạ quanh túp lều chúng tôi.

Lều chúng tôi không đủ chỗ cho họ, mà họ cũng không ưa khói bếp luồn dưới mái rồi thoát ra qua cánh cửa thấp. Họ dựng lều ngay trên khoảng đất hẹp cạnh nhà chúng tôi, nướng cừu non và chim, rót những thứ rượu ngọt và mạnh. Nhưng lính Thổ thì không dám uống.

Khi họ đi, tôi tiễn họ một quãng đường, cô em A-na-xta-xi-a bé bỏng được khâu trong một tấm da dê, đeo trên lưng tôi. Một trong mấy ông khách phương Tây bảo tôi đứng tựa vào một tảng đá, rồi vẽ tôi và em, sống động y như hai anh em đứng đó. Trông chúng tôi như một sinh vật duy nhất. Trước đó tôi chưa bao giờ nghĩ tới, nhưng quả thật A-na-xta-xi-a và tôi như là một. Lúc nào em cũng ngồi trong lòng tôi hoặc đeo trên lưng tôi, và hễ tôi mơ là có em trong giấc mơ.

Hai đêm sau, có những người khác tới túp lều chúng tôi. Họ mang dao và súng. Đó là người An-ba-ni, những người gan dạ, như mẹ tôi nói. Họ chỉ ở lại một lúc ngắn. Em A-na-xta-xi-a của tôi ngồi trong lòng một người trong bọn họ. Khi người ấy đi rồi, trên tóc em chỉ còn hai chứ không phải ba đồng bạc nữa.

Họ cuốn thuốc lá trong những mẩu giấy mà hút. Người già nhất bàn về con đường họ sẽ đi, ông ta còn phân vân lắm.

— Ta nhổ lên trời, — ông ta nói, — thì nó rơi vào mặt ta. Ta nhổ xuống đất, thì nó rơi vào râu ta.

Nhưng thế nào cũng phải chọn một con đường. Họ đi, và bố tôi đi theo. Một lúc sau chúng tôi nghe thấy tiếng súng. Súng lại nổ nữa. Lính kéo tới túp lều chúng tôi, bắt mẹ tôi, bắt tôi và A-na-xta-xi-a. Họ bảo bọn cướp đã trú ở nhà chúng tôi, bố tôi đã đi theo bọn chúng, vì thế chúng tôi phải bị giải đi. Tôi thấy xác những tên cướp, tôi thấy xác bố tôi, và tôi khóc cho tới khi ngủ thiếp đi.

Khi tôi tỉnh dậy, chúng tôi đã ở trong ngục. Nhưng căn phòng cũng chẳng khốn khổ hơn căn phòng trong túp lều nhà chúng tôi. Tôi được ăn hành và uống thứ rượu nhựa thông rót ra từ cái túi da quét hắc ín. Ở nhà, chúng tôi cũng chẳng được ăn ngon hơn thế.

Chúng tôi bị giam bao lâu, tôi không biết. Nhưng nhiều ngày đêm đã trôi qua. Khi chúng tôi được ra, đúng vào dịp lễ Phục sinh linh thiêng. Tôi cõng A-na-xta-xi-a trên lưng, vì mẹ tôi đang ốm. Mẹ chỉ đi được chầm chậm, mà đường xuống biển lại xa. Đó là vịnh Lê-pan-tô.

Chúng tôi bước vào một nhà thờ rực rỡ những bức tranh thánh trên nền vàng. Đó là các thiên thần, ôi, đẹp biết bao. Nhưng tôi vẫn thấy cô bé A-na-xta-xi-a của chúng tôi cũng đẹp chẳng kém. Giữa sàn đặt một cỗ quan tài đầy hoa hồng. Mẹ tôi bảo Chúa Ki-tô đang nằm trong ấy, như những bông hoa tuyệt đẹp. Vị linh mục tuyên bố: "Chúa Ki-tô đã sống lại!" Mọi người ôm hôn nhau. Ai nấy đều cầm trên tay một ngọn nến đang cháy, chính tôi cũng được một ngọn, cô bé A-na-xta-xi-a cũng được một ngọn. Tiếng kèn túi vang lên, đàn ông nắm tay nhau nhảy múa đi ra khỏi nhà thờ, bên ngoài các bà đang nướng cừu non mừng lễ Phục sinh.

Chúng tôi được mời vào. Tôi ngồi cạnh đống lửa, một cậu con trai lớn hơn tôi quàng tay qua cổ tôi, hôn tôi và nói: "Chúa Ki-tô đã sống lại!" Hai chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên như thế, Áp-ta-ni-đét và tôi.

Mẹ tôi biết đan lưới đánh cá, mà ở bên vịnh này nghề ấy kiếm ăn khá, nên chúng tôi ở lại bên bờ biển khá lâu. Biển đẹp biết bao, nước mặn như nước mắt, và màu sắc của nó làm tôi nhớ tới những giọt lệ của con hươu, khi thì đỏ, khi thì xanh lá, rồi lại xanh biếc.

Áp-ta-ni-đét biết lái thuyền. Tôi ngồi trong thuyền với cô bé A-na-xta-xi-a, con thuyền lướt trên mặt nước như đám mây lướt trên trời. Khi mặt trời lặn, núi non sẫm lại một màu xanh thẫm, dãy núi này nhô lên sau dãy núi kia, và xa tít tắp là núi Pác-nát phủ tuyết. Trong nắng chiều, đỉnh núi rực lên như một thanh sắt nung đỏ, như thể ánh sáng toả ra từ bên trong, vì nó còn sáng mãi trong bầu trời xanh lấp lánh, rất lâu sau khi mặt trời đã lặn. Những con chim biển trắng vỗ cánh trên mặt nước phẳng lặng như gương, ngoài ra thì ở đây yên tĩnh y như ở Đen-phơ giữa những vách núi đen.

Tôi nằm ngửa trong thuyền, A-na-xta-xi-a ngồi trên ngực tôi. Những ngôi sao trên đầu còn sáng hơn cả những ngọn đèn trong nhà thờ của chúng tôi. Đó vẫn là những ngôi sao ấy, đứng đúng chỗ ấy trên đầu tôi, như khi tôi ngồi ở Đen-phơ, ngoài cửa túp lều nhà mình. Cuối cùng tôi tưởng như mình vẫn đang ở đó.

Bỗng có tiếng nước bắn tóe, con thuyền chòng chành dữ dội. Tôi hét lên, vì A-na-xta-xi-a đã rơi xuống nước. Nhưng Áp-ta-ni-đét nhanh như cắt, chỉ chốc lát anh đã nhấc em lên trao lại cho tôi. Chúng tôi cởi quần áo em ra, vắt khô nước, rồi mặc lại cho em. Áp-ta-ni-đét cũng làm thế với quần áo của mình. Chúng tôi ở lại ngoài ấy cho tới khi quần áo khô hẳn, và chẳng ai biết chúng tôi đã sợ hãi thế nào vì cô em gái nuôi bé bỏng, bởi giờ đây mạng sống của em cũng có một phần là nhờ Áp-ta-ni-đét.

Rồi mùa hè tới. Nắng gay gắt tới mức cây cối héo rũ. Tôi nhớ những ngọn núi mát mẻ của chúng tôi, nhớ dòng nước trong lành trên ấy. Mẹ tôi cũng nhớ, và một buổi tối chúng tôi lại lên đường quay về.

Chao ôi, yên tĩnh, lặng lẽ biết bao! Chúng tôi đi qua những bụi húng tây cao, vẫn còn thơm dù nắng đã làm khô héo lá. Không gặp một người chăn cừu nào, không đi qua một túp lều nào. Mọi thứ đều lặng lẽ và hiu quạnh, chỉ có những ngôi sao băng cho biết trên trời kia vẫn có sự sống. Tôi không biết bầu trời xanh trong tự nó phát sáng hay đó là ánh sao, nhưng chúng tôi nhìn rõ đường nét của mọi ngọn núi.

Mẹ tôi nhóm lửa, nướng mấy củ hành mang theo. Tôi và cô em gái bé bỏng ngủ giữa đám húng tây, chẳng sợ con quái vật Xmi-đra-ki ghê tởm có lửa phun ra từ cổ họng, càng chẳng sợ chó sói hay chó rừng. Mẹ tôi đang ngồi cạnh chúng tôi kia mà, và tôi tin thế là đủ.

Chúng tôi về tới ngôi nhà cũ, nhưng túp lều chỉ còn là một đống gạch vụn, phải dựng một túp lều mới. Vài người đàn bà giúp mẹ tôi, chỉ trong mấy ngày tường đã dựng xong, một mái nhà mới bằng cành trúc đào đã lợp lên trên.

Mẹ tôi lấy da và vỏ cây đan thành nhiều chiếc bao để bọc chai. Tôi chăn đàn cừu nhỏ của các thầy tu. A-na-xta-xi-a và những con rùa nhỏ là bạn chơi của tôi.

Một hôm, Áp-ta-ni-đét thân yêu tới thăm chúng tôi. Anh bảo anh nhớ chúng tôi lắm, và anh ở lại với chúng tôi trọn hai ngày.

Một tháng sau anh lại tới, kể rằng anh sắp theo một con tàu đi Pa-trát và Coóc-phu. Anh phải tới chào chúng tôi trước đã. Anh mang biếu mẹ tôi một con cá to. Anh biết kể bao nhiêu là chuyện, không chỉ chuyện những người đánh cá dưới vịnh Lê-pan-tô, mà cả chuyện về những ông vua và những người anh hùng đã từng cai trị Hy Lạp, như người Thổ bây giờ.

Tôi đã từng thấy cây hồng nhú nụ, và nụ ấy, qua bao ngày bao tuần, nở thành một bông hoa xoè cánh. Nó đã thành bông hoa trước cả khi tôi bắt đầu nghĩ xem nó lớn, đẹp và đỏ thắm tới chừng nào. A-na-xta-xi-a đối với tôi cũng thế. Em đã thành một cô gái xinh đẹp, trưởng thành. Còn tôi thành một chàng trai vạm vỡ. Những tấm da sói trải trên giường của mẹ và của A-na-xta-xi-a là do chính tay tôi lột, từ những con sói đã ngã gục dưới khẩu súng của tôi. Năm tháng đã trôi qua.

Rồi một buổi tối, Áp-ta-ni-đét tới, mảnh dẻ như cây sậy, rắn rỏi và rám nắng. Anh hôn tất cả chúng tôi, rồi kể chuyện biển cả mênh mông, chuyện những pháo đài ở Man-ta, những lăng mộ kỳ lạ ở Ai Cập. Nghe lạ lùng như một truyền thuyết của các thầy tu. Tôi ngước nhìn anh với một nỗi gì như là kính phục.

— Anh biết nhiều thật! — tôi nói. — Anh kể chuyện hay thật!

— Thế mà có lần chính em đã kể cho anh nghe điều đẹp nhất đấy! — anh nói. — Em đã kể cho anh nghe một điều chưa bao giờ rời khỏi tâm trí anh: cái phong tục cổ xưa, đẹp đẽ về lời thề kết nghĩa! Phong tục ấy, anh thật lòng muốn theo! Em ơi, hai chúng ta cũng hãy làm như bố em và bố của A-na-xta-xi-a đã làm, hãy cùng tới nhà thờ. Người con gái đẹp nhất và trong trắng nhất chính là A-na-xta-xi-a, em gái của em. Cô ấy sẽ làm lễ kết nghĩa cho chúng ta! Chẳng dân tộc nào có phong tục đẹp hơn người Hy Lạp chúng ta!

A-na-xta-xi-a đỏ mặt như cánh hồng tươi. Mẹ tôi hôn Áp-ta-ni-đét.

Cách túp lều của chúng tôi một giờ đi bộ, ở chỗ núi đá có lớp đất mùn và lác đác vài bóng cây, có một ngôi nhà thờ nhỏ. Một ngọn đèn bạc treo trước bàn thờ.

Tôi mặc bộ quần áo đẹp nhất của mình. Chiếc váy xếp trắng phủ dày dặn quanh hông, chiếc áo chẽn đỏ bó sát người, chùm tua trên mũ phét có sợi bạc, ở thắt lưng giắt dao và súng ngắn. Áp-ta-ni-đét mặc bộ đồ xanh như các thuỷ thủ Hy Lạp vẫn mặc, trước ngực đeo một tấm bạc có hình Đức Mẹ, chiếc khăn quàng của anh quý giá như của những ông nhà giàu. Ai nhìn cũng biết hai chúng tôi sắp đi dự một lễ trọng.

Chúng tôi bước vào ngôi nhà thờ nhỏ hiu quạnh. Nắng chiều rọi qua cửa, chiếu lên ngọn đèn đang cháy và những bức tranh thánh sặc sỡ trên nền vàng. Chúng tôi quỳ xuống trên bậc bàn thờ, và A-na-xta-xi-a đứng trước mặt chúng tôi.

Một chiếc áo dài trắng rủ nhẹ nhàng, thướt tha quanh thân hình xinh đẹp của em. Cổ và ngực trắng ngần của em được phủ bằng một chuỗi những đồng tiền cũ và mới kết lại với nhau, thành cả một chiếc cổ áo lớn. Mái tóc đen của em búi gọn trên đầu thành một búi duy nhất, giữ bằng một chiếc mũ nhỏ kết những đồng tiền vàng, tiền bạc tìm thấy trong các đền đài cổ. Chẳng cô gái Hy Lạp nào có đồ trang sức đẹp hơn. Gương mặt em rạng ngời, đôi mắt em như hai ngôi sao.

Cả ba chúng tôi lặng lẽ đọc lời cầu nguyện. Rồi em hỏi chúng tôi:

— Các anh có nguyện làm bạn của nhau, lúc sống cũng như lúc chết không?

Chúng tôi đáp:

— Có.

— Các anh có nguyện, dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, mỗi người đều luôn nhớ rằng: Anh em tôi là một phần của tôi! Điều bí mật của tôi là của anh ấy, hạnh phúc của tôi là của anh ấy! Hy sinh, nhẫn nại, tất cả, như cho chính linh hồn mình, tôi đều dành cho anh ấy!

Chúng tôi lại đáp: Có!

Em đặt tay chúng tôi vào nhau, hôn lên trán chúng tôi, và chúng tôi lại lặng lẽ cầu nguyện. Bấy giờ vị linh mục từ cửa sau bàn thờ bước ra, ban phước cho cả ba chúng tôi, và một bài thánh ca của các vị tu sĩ khác vang lên sau vách bàn thờ. Lời thề kết nghĩa muôn đời đã thành.

Khi chúng tôi đứng dậy, tôi thấy mẹ tôi đứng bên cửa nhà thờ, khóc nức nở, khóc từ tận đáy lòng.

Chao ôi, trong túp lều nhỏ của chúng tôi và bên những dòng suối Đen-phơ mới vui vẻ làm sao!

Buổi tối trước ngày Áp-ta-ni-đét lên đường, anh và tôi ngồi trầm ngâm trên mỏm đá. Tay anh quàng qua lưng tôi, tay tôi ôm lấy cổ anh. Chúng tôi nói về nỗi khốn khổ của Hy Lạp, về những người có thể tin cậy được. Ý nghĩ nào trong lòng người này, người kia cũng thấu rõ. Bấy giờ tôi nắm lấy tay anh:

— Còn một điều nữa anh phải biết! Một điều mà cho tới giờ phút này chỉ có Chúa và em biết! Cả tâm hồn em là tình yêu! Đó là một tình yêu mạnh hơn cả tình yêu em dành cho mẹ và cho anh!

— Thế em yêu ai? — Áp-ta-ni-đét hỏi, và mặt lẫn cổ anh đỏ bừng lên.

— Em yêu A-na-xta-xi-a! — tôi nói.

Tay anh run lên trong tay tôi, và mặt anh trắng bệch như người chết. Tôi thấy thế, và tôi hiểu! Tôi nghĩ tay tôi cũng run lên. Tôi cúi xuống bên anh, hôn lên trán anh và thì thầm:

— Em chưa bao giờ nói với cô ấy! Có khi cô ấy không yêu em! Anh ơi, anh hãy nghĩ xem, ngày nào em cũng thấy cô ấy, cô ấy lớn lên bên cạnh em, lớn lên trong tâm hồn em!

— Và cô ấy sẽ là của em! — anh nói. — Của em! Anh không thể nói dối em, và anh cũng không muốn nói dối. Anh cũng yêu cô ấy! Nhưng ngày mai anh đi rồi! Một năm nữa ta lại gặp nhau, khi ấy hai người đã cưới nhau rồi, phải không? Anh có ít tiền, đó là tiền của em! Em phải nhận, em nhất định phải nhận!

Chúng tôi lặng lẽ đi qua núi. Trời đã khuya khi chúng tôi về tới túp lều của mẹ tôi.

A-na-xta-xi-a cầm đèn soi về phía chúng tôi khi chúng tôi bước vào. Mẹ tôi không có nhà. A-na-xta-xi-a nhìn Áp-ta-ni-đét buồn bã lạ lùng.

— Mai anh đi rồi! — em nói. — Em buồn quá!

— Em buồn ư? — anh nói. Tôi thấy trong câu ấy có một nỗi đau lớn như nỗi đau của chính tôi.

Tôi không nói được lời nào. Nhưng anh nắm lấy tay em và nói:

— Người anh em của chúng ta đây yêu em. Em có thương anh ấy không? Chính trong sự im lặng của anh ấy là tình yêu của anh ấy đấy!

A-na-xta-xi-a run lên và oà khóc. Bấy giờ tôi chỉ thấy có em, chỉ nghĩ tới em. Tôi vòng tay ôm lấy lưng em và nói:

— Phải, anh yêu em!

Em áp môi mình vào môi tôi, hai bàn tay em đặt quanh cổ tôi. Nhưng ngọn đèn đã rơi xuống sàn, quanh chúng tôi tối om, như trong trái tim của Áp-ta-ni-đét thân yêu, tội nghiệp.

Trời chưa sáng anh đã dậy, hôn từng người chúng tôi để từ biệt, rồi ra đi. Anh đã đưa cho mẹ tôi tất cả tiền của anh để dành cho chúng tôi. A-na-xta-xi-a thành vị hôn thê của tôi, và mấy ngày sau, thành vợ tôi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHans Christian Andersen (1805 – 1875)
Năm mất1875
Xuất bản lần đầu1842
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Venskabs-Pagten, trong En Digters Bazar, 1842
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →