Phần 3
Khi lên tới Điện, hai chị em khép nép bước vào, thấy có một bà ni-cô ngồi giữa thính-đường, độ chừng năm mươi ngoài tuổi, chơn mày đen, con mắt sáng, miệng vuông da trắng, cốt cách thanh kỳ, thật rõ ràng là một bà đạo đức ni-cô, rở rở có thần tiên khí tượng; đang ngồi trò chuyện với một bà tuổi cũng lối năm mươi, ăn mặc đàng hoàng, nết na tề chỉnh. (Bà nầy tức là bà Phủ Nguyễn-hữu-Ân mà ký-giả đã có nói rồi trước kia vậy). Hai chị em liền bước tới chào bái cả hai bà, rồi mới tỏ ý mình. Bà ni-cô cũng chắp tay đáp lễ, rồi hối người dắc hai chị em vào nơi chánh Điện, đốt nhan lên đèn, gióng trống đánh chuông, hai chị em bèn ra quì lạy nơi giữa Điện, thầm thỉ vái van, rồi lấy ống thẻ xăm đưa ngay lên tráng, lúc lắc một hồi, thấy có hai cây xăm nhảy ra một lược. Hai chị em liền đứng dậy lạy Bà, rồi vói lượm hết cả hai cây xăm cầm lên mà coi, thấy một cây Thượng-thượng, số 92; còn cây kia là cây Trung-bình, số 84. Rồi đó, hai chị em lại đề huề dắc nhau trở ra thính-đường, hỏi mượn quyển sách bàn xăm dở ra mà đoán. Thấy trong lá xăm số 84 là lá xăm Trung-bình, có bốn câu nơi bài giải như vầy:
Tìm thân mà chẳng gặp,
Lại gặp chỗ người dưng:
Một năm dài đăng đẳng,
Cha con mới đặng gần.
Đó là cái đại ý trong lá xăm ấy giải rằng: Muốn đi tìm cha mẹ, nhưng mà không gặp cha mẹ, lại gặp người dưng. Trong một năm nữa cha con mới gặp nhau.
Còn lá xăm Thượng-thượng, số 92 lại có bốn câu như vầy:
Việc không cầu lại được,
Đều chẳng ước mà xong;
Có quí-nhân phò hộ,
Gặp may-mắn lạ lùng.
Theo lá xăm nầy thì tốt lắm. Cứ theo đó mà đoán ra thì hai chị em sẽ gặp được cái hạnh-phước thình lình. Cái việc mình không vọng cầu mơ ước mà tự nhiên lại được, lại nên, lại nhờ có quí-nhân cứu vớt giúp đở nữa.
Hai chị em coi rồi trong lòng bán tin bán nghi, bàn tới bàn lui, nghĩ vơ nghĩ vẫn; nghĩ tới cái câu: Tìm thân mà chẳng gặp, thì buồn quá đổi buồn. Chừng nào gặp đều hạnh-phước đâu chưa biết, chớ hiện bây giờ đây, lấy theo cái câu xăm nầy thì quyết nhiên chưa gặp được mẹ cha, nghĩ tới đó vùng sa nước mắt. Bà Phủ thấy vậy cũng động lòng, bèn kêu hai chị em mà hỏi thăm duyên cớ. Thu-Cúc thấy bà tư-cách đàng hoàng, thì biết bà là người trong nhà trâm-anh phiệt-duyệt. Bèn đem hết trước sau lai lịch của mình mà thuật rõ lại cho bà nghe, nói tới mấy chỗ gian truân thì lại động lòng mà rưng rưng nước mắt. Bà Phủ nghe rõ đầu đuôi, cũng phủi động lòng vàng mà ngậm ngùi cho người trong cơn hoạn nạn; bèn nhắm nhía Thu-Cúc với Xuân-Lan, thấy hai chị em nàng tuổi tuy còn nhỏ mà phẩm hạnh đoan trang, cho nên bà cũng khen thầm rằng: «Thật chẳng uổng sanh nơi nhà thi-lễ.» Rồi đó bà cứ đứng vuốt ve cả hai chị em mà trầm trồ khen mãi. Một chặp lâu rồi bà mới nói với hai chị em nàng rằng: «Nè, hai cháu, qua thấy hai cháu tuổi còn thơ ấu mà lại gặp cái khổ cảnh như vầy, thật qua thương lắm; tưởng là ai kìa, chớ như quan Huyện là ông thân của hai cháu đây, qua tuy chưa biết mặt, chớ qua vẫn có nghe cái đại danh của người vẫn cũng đã lâu; lúc ông Phủ của qua ở nhà còn sanh tiền, mỗi khi ổng bình luận mấy ông danh-sĩ Nam-kỳ, thì ổng vẫn thường nhắc nhở cái quí danh của ông thân cháu luôn, cho nên qua cũng là kính phục. Nay mà hai ông bà mắc đi tị nạn phương xa, còn hai cháu đây là phận gái thơ ngây, dễ gì mà đi tìm cho được. Nay qua có một lời muốn nói cùng hai cháu, chẳng hay hai cháu có sẵn lòng mà nghe qua nói hay chăng?» Thu-Cúc liền đáp rằng: «Bẩm bà, vã bà là người tuổi tác, cũng như cô bác mẹ cha, còn chị em tôi đây là phận cháu con, như bà muốn nói đều chi, nếu phải thì chị em tôi vâng, bằng có đều chi mà chẳng vừa lòng thì tôi xin bà dạy lại, chớ có hệ chi mà bà phòng ngại.» Bà Phủ mỉn cười mà nói rằng: «Nè hai cháu, từ ngày ông Phủ nhà qua mất lộc đến nay, bỏ qua lại bơ vơ, con cái gì cũng không có, trước sau quạnh quẻ có một mình qua, thật qua buồn quá. Còn hai cháu đây vẫn là con nhà hàn mặc thơ hương mà lại gặp hồi lưu ly điên bái, mẹ cha lưu lạc, cui cút bơ vơ; thật qua không nỡ để cho con gái nhà tử tế mà phải gian truân tất tưởi như vầy thì cũng là tội nghiệp, nên qua muốn đem hai cháu về nhà gá nghĩa minh-linh mà hủ hỉ với qua cho có bạn; còn thằng em trai của hai cháu mà cháu nói rằng cháu còn gởi nó ở học tại An-giang đó, thì thỉnh thoản rồi cháu cũng phải viết thơ mà kêu nó về đây, qua cũng nuôi luôn giùm cả ba chị em mà làm nghĩa, rồi qua sẽ đem nó xuống Saigon đóng bạc gởi nó vào trường mà cho nó học. Bao giờ mà cháu nghe được tin tức hai ông bà quan Huyện là song thân của cháu ở đâu, thì chừng ấy sẽ hay. Chẳng biết ý cháu thể nào, có vui lòng hay không thì nói, không ngại chi.» Thu-Cúc nghe lời bà nói rất có nhơn, liền tỏ ý cảm tạ ơn bà và thưa rằng: «Bà có lòng thương tưởng, thật tôi rất đội ơn, vậy xin bà để cho tôi bàn tính với em tôi trong một vài phút đồng-hồ, rồi tôi sẽ trở vô mà bẩm lại cho bà rõ.» Rồi đó Thu-Cúc liền bước ra kêu em mà hỏi rằng: «Bà Phủ nói như vậy, ý em tính sao?» Xuân-Lan đáp rằng: «Nếu được như vậy thì em tưởng chị em mình đây cũng là có phước lắm đa chị à! Vã bà là nhà sang trọng, lại thêm tánh hạnh rất từ hòa, trong nhà bà lại chẳng có con cháu chi, nếu nay mà bà muốn nuôi chị em mình làm con; mà cái tâm tánh và cái cử chỉ của chị em mình đây chắc là ở lâu chừng nào thì bà lại càng thương lắm. Vã lại lúc nầy chị em mình đương cơn khuẩn bức túng cùng, thì có tài nào mà nuôi em ăn học cho được; thế tất nó phải hư. Mà nay bà lại còn hứa xuất tiền nuôi nó ăn học, thế thì em Trọng-Liêm mình biết bao là hạnh phước. Huống chi chị em mình là phận đào-tơ liểu-yếu, rất đổi là ở trong nhà, lại là xứ sở của mình, mà hãy còn bị những quân lang-tử giả-tâm nó khuấy nhiểu thay. Phương chi là nay đi chỗ nầy, mai ở chỗ kia, trôi nổi bình bồng, lưu linh đất khách. Vậy thì chị em mình cũng nên cáo lỗi cùng trời đất và mẹ cha, đặng vào chịu ở làm con bà nầy cho yên phận mà chờ tin cha mẹ; chị nghĩ lại coi, có phải vậy chăng?» Thu-Cúc nghe lời em nói có lý, song cũng còn tấn thối lưởng nan, cứ ngồi làm thinh nhìn sửng Xuân-Lan mà suy nghĩ trong lòng hoài, chớ chưa kịp mở miệng. Xuân-Lan lại vỗ vai Thu-Cúc mà nói tiếp thêm rằng: «À chị! Mà em còn quên đây nữa chớ! Bây giờ em mới nghĩ lại cái lời Bà dạy trong lá xăm số 92 đó, thật là linh quá đa chị à:» Và nói và lấy lá xăm trao ra cho Thu-Cúc xem, rồi lại chỉ từ câu mà nói rằng: «Đây nầy: Việc không cầu lại được. Đều chẳng ước mà xong. Đó, chị nghĩ lại mà coi, tự thuở đến giờ, chị em mình có cầu có ước cho ai đem chị em mình về mà nuôi làm con bao giờ? Mà nay tình cờ lại gặp bà Phủ nầy thương chị em mình mà tính như vậy thật cũng là kỳ! Ấy có phải là: Việc không cầu lại được; Đều chẳng ước mà xong đó chăng? Trong ấy lại có câu: Có quí-nhơn phò hộ: Gặp may-mắn lạ lùng. Đó, chị nghĩ lại cái câu nầy cho chính mà coi, quí-nhơn là ai? Chắc là bà Phủ nầy đây rồi chớ ai? Mà quả thật như vậy rồi đa chị à! Ấy có phải là lòng trời đã định, mà thánh-thần mách bảo cho mình biết đây chăng chị. Thôi, chị em ta cũng chẳng còn dụ dự làm chi, hãy về mà ở với bà cho an phận; nếu bà quả thật là người đạo đức từ hòa, thì cái ơn đùm bọc của bà đây, chị em mình cũng nên kết cỏ ngậm vòng, tôn bà làm mẹ, sớm trưa hủ hỉ với bà và xem sóc việc nhà cùng là thần tỉnh mộ khan trong khi bà ương yếu; kẻo để một người hiền đức như bà vậy, mà không có con cái chi, trước sau hiêu quạnh một mình, thật cũng là tội nghiệp.» Thu-Cúc nghe Xuân-Lan nói rót một hồi; câu nào cũng có lý, lời nào cũng chẳng sai, bèn vỗ vai em mỉn cười mà nói bởn rằng: «Thật cái miệng em nói xuôi như nước chảy; ấy rõ ràng là nữ Tùy-Hà đó.» Xuân-Lan cũng cười xòa. Rồi đó hai chị em bèn dắc nhau vào lạy bà Phủ mà kêu bằng mẹ. (Nguyên bà Phủ nầy thuở nay không có con cái chi hết, nay tình cờ mà được một cặp con gái rất mỷ miều, rất quí đẹp như vầy, lại thêm phẩm hạnh đoan trang, nói năn thanh nhã; thì bà mừng rở biết là dường nào!)
Thật là: Đều đâu may mắn biết bao!
Mừng nầy còn có mừng nào cho hơn?
Rồi đó bà liền từ giã ni-cô, dắc hai chị em Thu-Cúc đi xuống núi, lên xe ra về.
Về tới nhà vừa đúng buổi cơm chiều, bà liền hối kẻ dọn cơm, rồi kêu hai chị em ngồi lại ăn chung với bà; thật là bà mừng quá. Bà ngồi và ăn và nhắm nhía mãi hai cô, gắp món nầy bỏ vào chén cho cô nầy, gắp món nọ bỏ vào chén cho cô kia, ân cần ép uổng; coi ra ý bà thật là thương yêu tưng tiêu lắm vậy. Bà lại gởi thơ xuống Saigon mà hỏi thăm tin Phan, Nguyễn hai ông, thử coi còn ở tại Saigon hay là đã đi ra Bắc. Cách chẳng mấy ngày mà bà đã được tin hồi âm cho bà hay rằng: Hai ông đã tháp tùng chiết tàu Paul Lecat mà ra Bắc đã bốn ngày, tưởng khi nay cũng đã tới Hải-phòng rồi. Vì vậy cho nên hai chị em Thu-Cúc mới an lòng, đành ở đó mà làm con bà Phủ.
Từ ngày hai chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan vào ở làm con bà Phủ rồi thì việc nhà của bà bất câu lớn nhỏ, tự trong tới ngoài, tự gần tới xa, đều nhờ có hai chị em ân cần xem sóc. Mà cũng chẳng lạ gì, hễ thinh khí tương cầu, thì thế tất phải tâm đầu ý hiệp; bỡi đó cho nên, mẹ con mà gần gủi nhau chừng nào thì lại càng tin cậy mến yêu nhau chừng nấy. Thậm chí, chìa khóa tủ sắt của bà mà bà cũng phú thát cho hai chị em giữ gìn thâu xuất, bà chẳng hề nghi ngờ một mảy. Tuy vậy mà, phàm những công việc nào khác thì hai chị em cũng còn chưa lấy chi làm quan tâm cho lắm, chớ hễ động tới việc bạc tiền, thì hai chị em lại đáu đáu nơi lòng, cần cần nơi chí, nắm nắm nớp nớp, kiên sợ răn dè, thâu xuất rất phân minh, không hề dám để cho sót sai một ly một mảy. Vì vậy mà bà Phủ lại càng thương yêu tin cậy hơn nữa, thật con ruột tưởng cũng không bằng, lần lần mà cái nghĩa minh-linh lại hóa ra tình cốt-nhục.
Lần hồi ngày lụn tháng qua, thắm thoát mà đã gần năm tháng. Ngày nọ nhằm lúc cúng vía Bà trên núi Điện, bà Phủ cũng nhơn dắc hai cô con lên Điện mà dâng hương; tình cờ lại gặp Hoàng-hữu-Chí. Bà thấy chàng diện mạo khôi ngô, nói năng phong nhã, nên bà cũng đem lòng yêu mến kính vì, ý bà muốn định đôi cho một người trong hai cô con của bà, nên bà mới mời chàng về nhà đặng có làm quen và hỏi thăm lại căn do lý lịch của chàng cho rõ.
Đây nhắc lại Hoàng-hữu-Chí, khi hứa với bà Phủ rồi thì chẳng dám nuốt lời, cho nên qua bữa sau lối ba giờ chiều thì chàng ta đã hỏi thăm mà tìm tới nhà bà Phủ.
Còn bà Phủ khi thấy Hoàng-hữu-Chí tới nhà thì mừng lắm, chào hỏi lăng xăng, lại hối trẻ pha trà bưng ra thết đãi. Lúc ấy Hoàng-hữu-Chí miệng thì uống trà mà con mắt thì liếc xem tứ phía; thấy nhà bà tuy là đờn bà góa mặt dầu, mà ở ăn sạch sẽ, trong nhà sắp đặt nghi tiết chỉnh tề, mỗi mỗi đều có qui củ chuẩn thằng, rất nên đúng đắn. Còn đang nứt nở khen thầm, bỗng nghe bà Phủ và cười và nói rằng: «Từ hôm qua cho tới bữa nay tôi e thầy hứa lơ là, rồi hoặc có việc gì nó ngăn trở mà thầy đến không được chăng. Không dè mà thầy giữ được lời hứa, nên tôi cũng khá khen cho thầy lắm đó.» Hoàng-hữu-Chí đáp rằng: «Bẩm bà, hễ là làm người mà muốn lập cái thân danh với xã-hội, thì phải lo trau dồi tín nghĩa mà làm đầu, nay cháu vừa mới bước chơn vào đường đời thì những lời cháu hứa cùng ai, cháu đâu dám để cho thất tín.» Bà Phủ lại nói rằng: «Hôm tôi gặp thầy trên Điện, vì có người ta đông đảo, nên tôi chưa kịp hỏi thăm; chẳng hay thầy, cha mẹ song toàn và đã có nơi nào kết tóc hay chưa, thầy cứ nói thật cùng tôi, xin đừng dấu diếm.» Hoàng-hữu-Chí thưa rằng: «Cha mẹ cháu bất hạnh, mất hồi thuở cháu còn thơ, cháu nhờ có một người chị, bán buôn nuôi cháu ăn học mà thôi. Vã lại cháu học tất-nghiệp vừa mới có mấy tháng nay, nên cháu chưa kịp lo đôi bạn.» Bà Phủ nghe lời chàng nói thật thà, thì lại càng thương hơn nữa, bèn nói rằng: «Tôi xin lỗi cùng thầy, vì tôi thấy thầy côi cút mà có chí học hành, lập nên danh phận như vậy nên tôi cũng thương; vậy từ đây tôi đãi thầy cũng như con cháu nhà nầy, bất câu là ngày nào, hễ thầy có rảnh thì cứ tới lui mà chơi chớ ngại; thỉnh thoản tôi coi có chỗ nào xứng đáng, tôi sẽ mách miệng giùm cho, chớ thầy còn nhỏ tuổi, lại ở nơi xứ lạ quê người, sớm khuya tròi trọi có một mình, trong khi ương yếu biết lấy ai săn sóc thuốc men, thật cũng là tội nghiệp.» (Nguyên bà Phủ mà mời Hoàng-hữu-Chí tới nhà đây là bà có ý muốn gả con, song bà còn để nói xa nói gần, chớ chưa nói quyết; một là vì bà chưa rõ lai lịch của chàng, hai là bà cũng chưa rõ ý hai cô con, nên để chờ hỏi lại). Còn Hoàng-hữu-Chí khi nghe bà nói vậy thì tạ ơn, rồi đứng dậy từ giã ra về; đi dọc đường suy nghĩ một mình rằng: «Bà Phủ đã mở hơi như thế, thì ắt cũng có duyên cớ chi đây, hoặc là bà muốn gả con bà cho ta đây chăng?» (Cực kỳ thông minh). Nhưng mà không! Ta chẳng hề chịu bao giờ! Vã bà là nhà giàu sang, thì hai cô con gái của bà, chi cho khỏi tập lấy tánh kiêu. Còn ta đây bất quá hồ là một đứa sĩ cùng, nếu cưới vợ giàu sang đem về, thì ắt cô ỷ tiền ỷ của mà kiêu căng khi dể nhà chồng. Hễ vợ mà kiêu căng khi lờn chồng, thì ối thôi, cái gia-đình ấy còn chi mà kể. Đã vậy mà thiên hạ họ còn dị nghị, họ cho mình là bọn tham tiền, đã vọc nhã cái bàn toán rồi mới đi cưới vợ. Ôi! Hẵn thật ta không thế nào mà cưới con bà Phủ được. Thôi, ta cũng để mà coi, chớ chưa biết làm sao mà định trước.»
Đây nhắc lại bà Phủ, nội đêm ấy bà kêu Thu-Cúc mà nói rằng: «Má thấy con nay đã trộng rồi, lẽ phải định bề đôi lứa cho kịp tiết kịp thời; nay má thấy thầy giáo nầy học hành đã khá mà tánh hạnh cũng dễ thương, nên má muốn định gả con cho thẩy, nhưng định thì định vậy, song cũng còn phải chờ nghe tin tức anh chị ở đâu mà cho hay đã rồi sẽ tính, chẳng hay ý con thể nào, con cứ nói ngay cho má liệu.» Thu-Cúc nghe nói vùng sa nước mắt, rồi thưa rằng: «Việc vợ chồng là đạo nhân-luân, cho nên phận làm cha mẹ mà có con, bất luận là trai hay gái, hễ lớn lên thì phải lo bề nghi-thất nghi-gia, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất; gia dĩ cái ơn tri ngộ của má đây thật rất cao dày, nói cho cùng mà nghe, dầu má có dạy con chết đi nữa, thì con cũng chẳng dám từ, huống chi là việc hôn-nhơn; ngặt vì lúc con còn bé, cha con đã hứa hôn, định gả con cho Phan-quốc-Chấn, lúc cha con gần để bước lên đường, thì người vẫn cũng đinh ninh dặn dò con việc ấy. Hiện nay chàng còn đương ở học bên Tây, còn một năm nữa mới là tất-nghiệp; rất rủi cho ông thân của chàng vì bị hỏa tai mà sự nghiệp phải tiêu điều; nay người đã hiệp với cha con mà đi ra Bắc, không hiểu hai ông đi đây là tính xoay về cái chủ-nghĩa nào, mà cũng chưa biết cái nẻo tương lai của hai ông sau nầy có kết quả được những gì hay không. Còn chàng Quốc-Chấn thì còn đương ở bên Tây, nếu tiền bạc đã hết đi rồi mà không người châu cấp thì ắt là chàng phải phế học; mà con lại còn lo cho chàng hụt tiền phí lộ mà trở về, thì lại càng thêm khổ. Chớ như phận em con đây, vì nó tuổi còn thơ ấu, nên cha con chưa hứa với ai; nếu nay mà má có đành lòng thầy Hoàng-hữu-Chí thì má tính cho nó cũng xong, hễ má đã đành rồi thì chị em con lẽ đâu dám cải.» Bà nghe lời nàng nói thì bà cũng ngậm ngùi, bèn nói rằng: «Có vậy sao xưa rày con kín miệng, không nói ra cho má tính cho, để cứ ôm ấp trong lòng thì má biết ngứa đâu mà gải.» Thu-Cúc liền thưa rằng: «Bỡi con nghĩ vì nhà con đương lúc điên nguy, mẹ cha xiêu lạc, con cái bình bồng, may nhờ má có dạ nhân từ, đam về hoạn dưỡng, mặc ấm ăn no thì đà quá phận; vậy thì con còn dám vọng cầu những đều chi khác nữa mà làm cho má buồn lòng hay sao.» Bà Phủ nghe lời Thu-Cúc nói rất ngọt ngào, thì bà lại càng thương yêu hơn nữa.
Thật là: Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ thương.
Bà Phủ bèn nói rằng: «Thôi, con chớ ngại chi, vì má có nghe rằng: Quân-tử năng thành nhân chi mỷ. Hễ làm người thì phải giúp nhau cho nên việc mới là. Huống chi nay chúng ta sanh nhằm cái thời đại bán khai, thì cái tiền-đồ của quốc-dân ta sau nầy đều trông mong nơi đám thanh-niên, cho nên hễ giúp được một người học-sanh nào cho học nghiệp được hoàn toàn, thì cũng còn hơn lập một cảnh chùa chín nóc đa con. Rất đổi là người ngoài mà còn phải lấy lòng bác ái để giúp cho nhau thay! Huống chi Phan-quốc-Chấn, sau nầy nó sẽ là chồng của con, thì tức nhiên nó cũng sẽ là rể hiền của má vậy chớ; nếu không lo cho nó, chớ lo cho ai bây giờ. Thôi, để sáng mai hai mẹ con mình đi lại nhà dây-thép mua măn-đa (mandat) mà gởi cho nó một ngàn đồng, để giúp nó học thêm cho tới kỳ tất-nghiệp. Vậy mà con có biết chỗ nó ở học chắc chắn hay không con?» Thu-Cúc nói: «Dạ, thưa có, vì cha con có biên để lại cho con.» Bà Phủ nói: «Ừ, được đa, vậy thì tốt lắm.»
Đêm ấy bà biểu Thu-Cúc viết thơ sẵn cho bà ký tên. Sáng ra bữa sau ba mẹ con thức dậy rồi bà bèn kêu thằng ở đánh xe, hối nó thắng xe, lại biểu Thu-Cúc mở tủ lấy ra một ngàn đồng bạc, để Xuân-Lan ở lại coi nhà; bà với Thu-Cúc lên xe đi lại nhà dây-thép mua một cái măn-đa mười hai ngàn quan tiền tây (bạc lúc ấy mỗi đồng là mười hai quan tiền tây, nhằm một ngàn đồng bạc chẵn), rồi để vào bao niêm phong tử tế, lại có gắn keo, gởi rờ-com-măn-đê (recommander) cho Monsieur Phan-quốc-Chấn, học-sanh trường Thương-nghiệp cao-đẳng tại Paris bên Pháp-quốc.
Đây nói qua việc Phan-quốc-Chấn ở học bên Tây, từ ngày tiếp được tin nhà rủi ro như vậy thì đêm ngày lo sợ phập phồng; nỗi lo cho cha mình già yếu mà gặp cơn nguy biến thế nầy, không biết người có vì sự ưu sầu mà phải sanh đau ốm gì chăng; nỗi lo cho mình học mới nửa chừng, nay lại rủi gặp lúc vận nhà điên đảo như vầy thì biết lấy chi mà học thêm cho tới ngày thành đạt. Còn đang suy nghĩ lo tới tính lui, bỗng thấy phắt-tơ (facteur) đem lại một phong thơ rờ-com-măn-đê và một cuốn cạt-nê (carnét) biểu ký tên mà lãnh. Phan-quốc-Chấn ký tên lãnh lấy phong thơ rồi trong lòng hồi hộp, chưa biết dữ lành, mà cũng không biết của ai, liền mở ra coi, thấy có một tờ măn-đa mười hai ngàn quan, nhìn tuồng chữ viết thơ thì lạ hoắc, nhìn mãi mà nhìn cũng không ra; chàng ta nóng nảy, muốn gắp biết người nào gởi bạc cho mình, nên không kịp đọc cho hết bức thơ, lại lật ra phía sau đặng coi tuồng chữ ký tên của ai cho biết. Ai ngờ thấy đề như vầy: Madame veuve Phủ Ân, Propriétaire à Tây-ninh. Té ra cũng là lạ hoắc.
Phan-quốc-Chấn ngạt nhiên, không biết bà Phủ Ân nào đây, sao lại gởi tiền cho mình nhiều lắm vậy. Liền lật trở qua phía trước, đọc cho hết đầu đuôi, đặng cho rõ duyên do kẻo ức. Chừng đọc hết bức thơ, mới hay quan Huyện cũng vì sự tai biến của cha mình mà phải liên lụy, bị tịch hết gia sản, ông rầu bỏ đi, làm cho hai chị em Thu-Cúc vì đi tìm cha mà phải trôi nổi lên tới Tây-ninh, may gặp bà Phủ nầy là người háo nghĩa, đem về nuôi hết làm con, thương yêu như con ruột; nàng nhơn tỏ hết gia-tình cho bà nghe, nên bà lại lấy lòng hào hiệp, chẳng tiếc bạc ngàn, gởi giúp học-phí cho mình đặng học thêm cho tới ngày thành đạt. Sau rốt bà lại đinh ninh dặn dò, bảo phải rán học cho đến kỳ tất-nghiệp sẽ về; thoản như có thốn thiếu bạc tiền, chỉ cứ gởi thơ cho bà hay, thì bà cũng sẵn lòng gởi thêm cho mà ăn học. Bà lại cho hay rằng cha mình và quan Huyện đã cùng nhau đi ra Bắc; song chưa hiểu hai ông ra Bắc làm gì.
Phía dưới chỗ bà Phủ ký tên lại có mấy hàng chữ nhỏ gạnh thêm như vầy:
«Hai nhà tai nạn, nay đã hầu qua, một tấc dạ nầy, đất trời soi xét; xin hãy gia tâm, giồi mài kinh sử, cho khỏi phụ tấm lòng háo nghĩa của người.
«Đôi hàng trân trọng, xin chớ phụ lời. Chí chúc! Chí chúc!
«Thu-Cúc bái thượng.»
Phan-quốc-Chấn xem rõ đầu đuôi, trong dạ ngùi ngùi, suy tới nghĩ lui, tâm thần tán loạn; nỗi lo cho hai ông lão đi ra đất Bắc là nơi xứ lạ quê người, khi mưa nắng biết lấy ai mà nương cậy; nỗi cám ơn bà Phủ, tấm lòng rộng thinh thinh, dầu cho biển Thái-bình, cũng không bì kịp; nỗi cảm tình Thu-Cúc, một lời của mẹ cha đính ước, mà nàng tạc dạ khăng khăng, dầu phải bước truân chiên, cũng không dời chí. Lúc bấy giờ, Phan-quốc-Chấn ngồi dựa cạnh bàn, tay chống tráng, mắt nhìn thơ, một mình nghĩ vẫn nghĩ vơ, mối cảm hoài lai láng. Một chặp lâu chàng-ta mới nhứt định lấy giấy viết thơ gởi về cho bà Phủ, trước là cho bà hay rằng mình đã được bạc và thơ, sau nữa là để tỏ ý tạ ơn bà luôn thể. Chẳng dè khi đặt bút xuống mà viết được có một hàng là đề chỗ ở và ngày tháng:
Paris, le:
Viết có bấy nhiêu đó rồi ngưng bút lại mà suy nghĩ mãi có một cái vấn-đề về cách xưng hô hơn trót một giờ mà chưa quyết định được, bây giờ đây mình gởi thơ cho bà mà phải kêu bà bằng má hay bằng bà? Suy đi nghĩ lại một hồi, rồi hỏi lại mình rằng: «Vậy phải kêu bà bằng chi bây giờ? Kêu bằng bà! Không được. Bà mà gởi bạc để giúp cho mình ăn học đây, là bà đã có ý đãi mình như tình con rể rồi đấy. Vậy phải kêu bằng má hay sao? Cũng không được! Một không hai không, ba bốn cũng không! Rất đổi quan Huyện là cha ruột của nàng Thu-Cúc kia mà mình còn chưa dám kêu bằng cha thay! Huống chi bà Phủ là mẹ nuôi của nàng mà mình lại dám kêu bà bằng má! Khó cha chả!! Phải liệu làm sao bây giờ?
Phan-quốc-Chấn lúc bấy giờ, hình như tượng gổ, cứ ngồi lặng thinh mà trầm tư mật tưởng mãi có một mình, như dại như ngây, lấy làm rối trí. Đến lúc chàng-ta đã cùng suy tột xét rồi mới nói rằng: «Nếu bây giờ mà mình kêu bà bằng má thì thật rất ngở ngàn, vì mình còn ở xa xuôi bên nầy, không biết được rõ bên ấy hai người đối đãi với nhau làm sao mà mình dám đánh bạo kêu bà bằng má, thành ra mình có ý phùng nghinh, bưng bợ bà vì cái số bạc mười hai ngàn quan của bà mới gởi qua cho mình đây chăng? Ôi! không phải vậy. Thật không phải vậy. Thế thì mình tính kêu bằng bà có khi phải hơn. Bao giờ bà có gởi thơ mà dạy lẽ nào nữa, thì chừng ấy ta sẽ tùy cơ ứng biến, cũng chẳng muộn gì.» Nghĩ như vậy rồi mới nhứt định kêu bà Phủ bằng bà thôi, liền viết thơ như vầy:
Paris, le: 192...
— Hết chương 3 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương