Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Lòng người nham hiểm — Phần 5

Lòng người nham hiểm · Chương 5/6 · của Nguyễn Chánh Sắt

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 21.225 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Tai họa phi thường, cao-xanh soi xét;
  2. 0:55Đêm ấy lối bảy giờ, bà ngồi xe kéo…
  3. 7:58(Húy chao ôi! Một cái nét cười của một…
  4. 9:36Khi xe bà Phủ vừa ngừng nơi trước cữa,…
  5. 12:53Về tới nhà rồi Thu-Cúc bèn thuật việc nhờ…
  6. 15:35Xuân-Lan lúc bấy giờ, đương đối diện với cừu-nhân…
  7. 19:48LỜI BÀN: (Bà Phủ giận phải lắm, đuổi cũng…
  8. 21:40Ấy là: Tằng kinh Thương-hải nan vi thủy,

Phần 5

Tai họa phi thường, cao-xanh soi xét;

Tình đời thương ghét, cháu để ngoài tai;

Cháu một xin bà, biết cho là đủ.

Phạm-nhân, Hoàng-hữu-Chí bái thượng.

Viết rồi xếp lại, cậy người lính gát, chờ lúc mãn phiên, xin đem ra giùm trao cho bà Phủ.

Khi bà Phủ được thơ, liền lấy ra một đồng bạc mà cho tên lính đem thơ. Tên lính tạ ơn đi rồi, bà mới kêu hai cô con ra, dạy ngồi bên cạnh, rồi mới mở bức thơ ra mà xem chung với nhau. Bà và xem thơ và suy nghĩ hồi lâu rồi mới nói với hai cô con rằng: «Thầy giáo thẩy nói như vầy thì má cũng bán tín bán nghi quá đi con; vậy sẵn thầy thông đứng bàn của quan Bồi-thẩm nầy với má cũng có quen. Thôi, để tối nay má đi lại nhà thẩy mà hỏi thăm thử coi, lời khai báo thể nào và việc dữ lành cho biết.» Hai cô con cũng lấy làm phải.

Đêm ấy lối bảy giờ, bà ngồi xe kéo đến nhà thầy thông. Nguyên thầy thông nầy vẫn cũng biết bà là người đạo-đức, nên có lòng kính trọng đã lâu, khi thấy bà bước vào thì vội vàng chào hỏi lăng xăng, lại hối bồi rót nước bưng ra mời bà rồi hỏi rằng: «Chẳng hay bà có việc chi mà đến nhà cháu tăm tối như vầy?» Bà Phủ bèn tỏ thật việc mình muốn đến hỏi thăm về vụ thầy Hoàng-hữu-Chí. Thầy thông liền lắc đầu mà nói rằng: «Cha chả! Tội nghiệp cho thầy giáo Chí quá, vì tôi biết thẩy tuổi tuy còn nhỏ mà ăn ở dễ thương; từ ngày thẩy đổi lại đây tới nay, thật thẩy chẳng biết mích lòng một thằng con nít. Không biết thẩy có thù oán chi với thông Kỳ hay không mà sanh ra việc lăng nhăng như vậy? Thật chuyến nầy tôi sợ cho thẩy ắt gở không ra rồi đa bà. Vì theo lời khai của thẩy thì thẩy nói rằng thầy Lê-xuân-Kỳ mời thẩy lại nhà tình-nhân là Cẩm-Lệ mà ăn cơm; thẩy vô ý ơ hờ, không dè bọn kia âm mưu toa rập với nhau, sắp đặt sẵn trước bao giờ mà gạt thẩy, cầm thẩy ở lại cho khuya rồi phao vu cho thẩy những đều vô liêm sỉ vậy vậy: Còn con Cẩm-Lệ thì nó khai quả quyết rằng nó là gái mồ-côi, một mình ở một nhà, đương ngủ nửa đêm, bị thầy giáo Chí cạy cữa lỏn vào, mong toan cường bức, ép uổng gái tơ, muốn vùi hoa dập liểu, lại hâm dọa đòi chém đòi đâm là khác nữa. Hỏi Lê-xuân-Kỳ thì va khai rằng đêm ấy va ngủ ở nhà va, cách nhà Cẩm-Lệ hơn năm trăm thước; va cũng không quen biết chi với thầy giáo Chí mà mời thẩy ăn cơm, mà nếu có mời ăn cơm thì mời thẳng về nhà của va, chớ Cẩm-Lệ là gái chưa chồng, lại cũng chẳng phải bà-con thân-thích chi với va, thì có lý nào mà va lại được mời khách tới ăn cơm nơi nhà Cẩm-Lệ.

Hỏi chứng là Hương-quản và một tên lính tuần với tám tên dân làng, thì chúng nó đều khai có một rập với nhau rằng đêm ấy lối mười một giờ khuya, chúng nó đương đi tuần đường cũng gần lối đó, thình lình nghe tiếng Cẩm-Lệ la làng, bèn rủ nhau chạy tới, thấy trong nhà Cẩm-Lệ đèn đuốc tối thui, tông cữa áp vào nổi đèn lên thì thấy Cẩm-Lệ miệng còn la làng mà hai tay thì niếu thầy-giáo Chí nhủng nhẳng gần lối cữa buồng, nên chúng nó phải bắt thẩy và lấy khai rồi giải nạp. Đó! Bà nghỉ mà coi, bên thầy giáo thì chứng cớ không ngơ, còn phía bên bọn Cẩm-Lệ thì đông, mà họ xúm nhau chúng khẩu đồng từ thì chết tươi thầy giáo rồi còn gì! Cha chả! Khó quá!! Chuyến nầy tôi sợ thẩy gở không nổi đa bà.» Và nói và chắt lưỡi lắc đầu, lại vói lấy một điếu thuốc, quẹt lửa lên đốt hút phì phà vài hơi rồi lại nói rằng: «Bây giờ mà muốn lo cho thẩy thì phải mướn quan Thầy-kiện bàu chữa mới xong; chớ việc nầy tuy coi su sơ như vậy, mà nữa đây chắc sẽ giải cho tới đại-hình lận đa bà.» Bà Phủ nghe rõ đầu đuôi, mặt mày buồn nghiến, liền đứng giậy tạ ơn và từ giã thầy-thông rồi lên xe kéo quày quả về nhà thuật lại cho chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan nghe. Thu-Cúc nghe rõ trước sau rồi ngồi làm thinh và suy nghĩ một mình, hồi lâu mới hội ý, liền kêu bà Phủ mà nói rằng: «Nè má! Phải rồi đa má!! Thật quả thầy Hoàng-hữu-Chí đã lầm mưu độc của bọn nầy rồi đa má. Vì con vẫn có nghe danh Lê-xuân-Kỳ là một đứa tham tài háo sắc, phản phúc tiểu-nhân, mà nó lại có tư tình với con Cẩm-Lệ đã lâu. Còn thầy Hoàng-hữu-Chí nầy là một người khí khái, tánh tình cang trực, hay quí trọng người quân-tử, mà khinh bạc đứa tiểu-nhân. Mỗi khi đàm luận với ai, thì thẩy thường dùng nghĩa chánh từ nghiêm, chẳng chịu bợ bưng, không hay vì nể; bỡi vậy mà hay mích lòng những kẻ tiểu-nhân, cho nên ngày nay mới sanh họa. Vì lời xưa có nói: Khinh bạc chi thái, thi ư quân-tử tắc táng ngô đước; thi ư tiểu-nhân tắc sát ngô thân. Mà thật rõ ràng như vậy đó.» Bà Phủ nghe Thu-Cúc luận mấy lời, bà cũng cho là phải; bèn nói với chị em Thu-Cúc rằng: «Việc nầy cũng tại nó cậy nói em con, mà má không chịu gả, phần thì nó thấy Hoàng-hữu-Chí thường hay lai vãng nhà ta, nên nó mới sanh lòng đố kỵ mà di oán qua cho Hoàng-hữu-Chí. Nay thầy Hoàng-hữu-Chí mà mắc họa đây, gốc cũng bỡi nhà mình mà ra. Vậy thì má cũng phải liều tốn ít trăm, mướn Thầy-kiện cho đại tài mà cứu thẩy, chớ phép sao bây giờ.» Còn đang bàn luận với nhau, bỗng nghe đồng hồ đã gõ mười giờ; bà Phủ bèn đi nghỉ.

Đêm ấy hai chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan, cùng nhau luận luận bàn bàn, lo tới tính lui, trót một hai giờ mà lo cũng chưa ra chuyện. Một chặp lâu Xuân-Lan mới nói với Thu-Cúc rằng: «Nè chị! Lấy theo lời của má luận với chị em mình hồi nảy đó, thì té ra thầy Hoàng-hữu-Chí mà bị hoạn họa đây, là gốc bỡi nơi em mà ra. Thế thì em không nỡ điềm nhiên tọa thị mà để vậy cho đành, nên em muốn liều cái thân danh, chịu mang lấy tiếng nhơ trong một lúc mà cứu Hoàng-hữu-Chí cho được vẹn toàn; chẳng hay ý chị thể nào xin nói cho em rõ với. Thu-Cúc hỏi: «Em muốn dùng cách nào đặng cứu thẩy mà phải liều mất cái thân danh vậy em.» Xuân-Lan liền kề tai nói nhỏ với Thu-Cúc một hồi rồi lại nói rằng: «Làm như vậy: như vậy: đó, thì cứu thẩy mới được.» Thu-Cúc nghe rõ rồi mỉn cười và vỗ vai Xuân-Lan mà khen rằng: «Cái kế của em tính đó dầu cho Phạm-Lải tái sanh cũng không hơn được; vã nó là một đứa háo sắc, nếu em dùng kế đó, ắt nó phải máng rồi, em cứ thi hành liền đi, mựa đừng dụ dự; song em phải cẩn thận cho lắm mới được đa em.» Xuân-Lan lại nói: «Mưu bất khả chúng, cho nên lời em nói ra thì nó lọt vào tai chị mà thôi, chớ em há đi dại gì lại nói với ai hay sao mà chị phòng dặn vậy; chí như má ở nhà đây, chị em mình cũng phải dấu luôn, nếu chừng nào má thấy em làm như vậy: như vậy: mà má có tưởng em là đồ mất nết, thì mặc tình quở trách đuổi xua, em cũng cam tâm mà chịu; miễn làm sao cho mưu kế được thành mà cứu người là đủ.» Thu-Cúc gặt đầu khen phải. Rồi đó hai chị em lại rù rỉ nhỏ to với nhau một hồi rất lâu, sắp đặt rập ràng đâu đó xong xuôi thì đồng hồ đã gõ một giờ khuya rồi. Chừng ấy hai chị em mới tắt đèn dắc nhau đi nghỉ.

Từ đó mỗi buổi sớm mai, cô Xuân-Lan thường đi chợ, đầu cổ cô ngó vẽn vang, hình dung cô xem rất đẹp; bữa thì cô mặc áo cẩm-nhung đen, bữa thì cô lại đổi áo sa-ten màu tím sậm; cổ có đeo ba sợi dây chuyền, hai cườm tay cô lại đeo hai xâu chuổi hột, ngón tay cô như mũi viết, cổ tay cô tròn vo; nước da cô trắng đỏ, nét mặt cô sáng rở như một đóa phù-dung. Cái vẽ đẹp của cô thật là tuyệt thế vô song, lục tĩnh ta cũng ít có.

(Phàm viết sách mà dụng cách tả chơn thì phải tả ra cho rõ mà xem: chớ từ xưa đến nay những cô gái nào có phước mà được có cái vẽ đẹp thiên nhiên rồi, dầu cho ăn mặc cách nào, thức gì, thì cái vẽ xinh đẹp tự nhiên cũng xinh đẹp).

Khi ra tới chợ rồi thì cô cứ cố ý mua bươn, mua bả, mua hối, mua hả cho rồi, đặng lựa cho đúng giờ của Lê-xuân-Kỳ đi làm việc, mà về cho kịp, cho hai đàng gặp nhau; mà mỗi khi gặp nhau, cô lại làm màu nét mặt tươi cười, chào hỏi một cách rất là niềm nở.

(Húy chao ôi! Một cái nét cười của một ả mỷ-nhân, dễ gì mà có, dễ gì mà mua cho được).

Ban đầu hễ gặp nhau thì bất quá là chào hỏi sơ qua vậy thôi, vậy mà còn làm cho Lê-xuân-Kỳ thần-tình phải điên đảo thay! Huống chi sau rồi lần lần cô lại làm ra tuồng mi lai nhãn khứ, thì Lê-xuân-Kỳ tài nào mà không điến ngất cả người.

Thường bữa cũng thường gặp nhau như vậy, mà ngày nào cô cũng cố ý làm mồi trêu ngươi như vậy, làm cho tam hồn thất phách của Lê-xuân-Kỳ đều phải dật dờ dật dưởi bay bổng theo cô; duy ức có một đều là không biết làm sao cho được gần cô mà tỏ bày tâm sự.

Những mảng lần lừa như vậy mà đã trót tháng ngoài, kế nghe Tòa đã giải Hoàng-hữu-Chí về Saigon đặng chờ ngày Đại-hình hội xử.

Bà Phủ hay được tin ấy, liền lấy bạc bỏ lưng, phú thát nhà cữa cho Xuân-Lan, dắc Thu-Cúc theo làm Thông-ngôn, mướn xe hơi đưa hai mẹ con bà xuống Saigon tìm nhà quan Thầy-kiện mà lo cho Hoàng-hữu-Chí; bà năn nỉ với ngài xin rán bào chữa giùm đặng cứu người vô cô mà thọ khuất. Bà lại nhơn hỏi thăm luôn cho biết ngày nào Tòa Đại-hình xử vụ Hoàng-hữu-Chí. Quan Thầy-kiện bèn nói cho bà hay rằng ngày 18 tháng Octobre là ngày Tòa Đại-hình hội xử; ngài lại hứa với bà rằng ngài sẽ rán hết sức hết lòng tìm cho ra cớ, để biện giải mà lấy danh, bà hãy an lòng không sao mà ngại.

Rồi đó bà liền đóng tất số bạc cho quan Thầy-kiện và từ giã mà ra, bà lại nhơn tiện, bảo xe đưa hai mẹ con bà lên đường Thuận-kiều đặng bà thăm vợ chồng ông Phán-Ngãi là người quen lớn với vợ chồng bà tự bấy lâu nay.

Khi xe bà Phủ vừa ngừng nơi trước cữa, thì vợ chồng ông Phán đang ở trong nhà, xem thấy mừng rở chạy ra chào hỏi lăng xăng, hối trẻ xách cái quả cẩn của bà vô nhà, trầu nước khuyên mời và cầm luôn bà ở đó dùng cơm. Nhơn thấy Thu-Cúc cốt cách phương phi, nết na đầm thấm thì hỏi rằng: «Ủa! Con cháu đây là con ai vậy chị Phủ?» (Vì hai vợ chồng ông Phán vẫn biết bà Phủ không có con cái chi, mà nay thấy có một cô gái nào cực kỳ xinh đẹp, nề nết đáng thương mà đi theo bà đây, nên mới lấy làm lạ mà hỏi thăm cho biết). Bà Phủ bèn đam hết lai lịch của hai chị em Thu-Cúc và Xuân-Lan đầu đuôi sự tích từ ngày bà gặp và đem hết cả ba chị em về mà nuôi làm con; hai gái thì ở nhà sớm trưa hủ hỉ với bà, còn một trai thì bà lại đóng tiền mà cho ở học tại trường Nguyễn-phan-Long Saigon, cùng những việc gởi bạc giúp thêm học phí cho Phan-quốc-Chấn bên Tây và việc Hoàng-hữu-Chí mắc nạn mà bà phải đi lo; trước sau các việc bà thuật hết một hồi cho hai vợ chồng ông Phán-Ngãi nghe. Hai vợ chồng ông Phán nghe rõ đầu đuôi thì lấy làm khen ngợi bà Phủ là người độ lượng khoan nhơn; thật là một người trọng nghĩa khinh tài, nữ trung hào kiệt.

Rồi đó ông Phán lại chỉ Thu-Cúc mà nói với bà Phủ rằng: «Tưởng cháu đây là con ai, té ra nó là con của anh Huyện Nguyễn-trọng-Luân. Cơ khổ! Vậy mà tôi quên phứt nó đi chớ, vì lúc ảnh còn ở Saigon thì nó còn nhỏ xíu, phần thì chị em nó mắc ở học trong Nữ-học-đường, tôi tới chơi với ảnh hoài mà ít hay thấy nó; rồi từ hồi ảnh về trển tới nay, cũng 4, 5 năm gì đó, bây giờ cháu đà lớn đại, nên tôi không nhớ được. Tưởng là chị nói ai kìa, chớ ông già nó và anh Phan-mẫn-Đạt đều là anh em bạn học với tôi hồi buổi nhỏ. Đây nè!:» Và nói và bước lại kéo cái hộc tủ lấy ra một bức thơ mà khoe với hai mẹ con bà Phủ và nói rằng: «Nầy là thơ của anh Huyện, ông già của cháu đây, mới gởi về cho tôi hai ba bữa rày mà cho tôi hay rằng ảnh với anh Phan bây giờ đương làm chủ-bút cho một Tòa báo Quốc-văn tại Bắc-kỳ và ảnh có cậy tôi gởi thơ lên Vỉnh-an-hà mà hỏi thăm giùm tin của mấy cháu; tôi chưa kịp viết, mà cũng may sao hôm nay chị lại dắc cháu đến đây; ấy quả là lòng trời xui khiến đó.» Thu-Cúc nghe được tin tức của cha mình thì khấp khởi mừng thầm, bèn liếc mắt xem coi thấy bức thơ ông Phán đương cầm trên tay, nhìn đã rõ ràng thật quả là bút tích của cha mình, không sai một nét; trong lòng mừng quá đổi mừng.

Thật là: Khi nên trời cũng chìu người,

Mừng nầy dầu được vàng mười chẳng hơn.

Lúc ấy bà Phủ cũng vui lòng, lấy làm toại chí; bà lại hối Thu-Cúc viết thơ gởi liền ra Bắc mà thăm cha nàng nội trong ngày ấy. Thu-Cúc liền hỏi ông Phán xin giấy viết thơ, tỏ hết đầu đuôi gốc ngọn nhứt nhứt các việc từ ngày cha mình ra đi cho đến bây giờ, rồi niêm phong tử tế, lại hỏi thăm ông Phán cho biết chỗ ở của cha mình mà đề bao thơ rồi đem bỏ thùng mà gởi đi liền nội trong ngày ấy.

Hai mẹ con nghỉ ngơi tại đó cho đến ba giờ chiều, rồi mới giã từ vợ chồng ông Phán, bước lên ô-tô, bảo sốp-phơ chạy lên đường Legrand de la Liraye đặng ghé vào trường Nguyễn-phan-Long mà thăm em nàng là Nguyễn-trọng-Liêm trong giây phút rồi mới chạy thẳng về Tây-ninh.

Về tới nhà rồi Thu-Cúc bèn thuật việc nhờ mẹ dắc mình ghé nhà ông Phán-Ngãi, nên mới biết được tin tức của cha mình và luôn dịp mình đã gởi thơ ra Bắc mà thăm cha và cho cha mình biết các việc trong nầy rồi. Xuân-Lan nghe nói mừng quá đổi mừng.

Lần hồi ngày tháng như thoi, mới đó mà đã gần tới ngày Tòa xử.

Ngày kia Xuân-Lan đi chợ về, cũng vừa gặp Lê-xuân-Kỳ đương buổi đi làm việc. Hai đàng cũng niềm nở chào hỏi nhau như mội bữa. Xuân-Lan xem trước nhắm sau, liệu chừng chẳng thấy có ai, bèn nói nho nhỏ rằng: «Trưa nay đúng mười hai giờ, em xin mời thầy đến tại quán của dì Tư-Quăng cho em hỏi thăm thầy một chuyện.» Lê-xuân-Kỳ mừng quýnh dường như tiếp được đơn-chiếu của vua. Liền trả lời rằng: «Tôi rất sẵn lòng, xin cô đừng thất tín». Xuân-Lan gặt đầu, miệng cười chúm chím, rồi đi thẳng về nhà. Lê-xuân-Kỳ lòng mừng khấp khởi, vào đến bu-rô (bureau) trọn một buổi sớm mai, không viết lách gì được hết, cứ dòm chừng đồng hồ hoài. Mà thật cái đồng hồ bữa ấy nó tệ quá! Độc thật! Ác thật!! Trông hoài mà sao không thấy tới giờ; nó làm như hình liệt máy rồi vậy, cứ đứng trân một chỗ, trông mãi mà cũng không thấy nó đi. Trông hoài trông hủy, trông hết sức trông, trong lòng nóng nảy, ngồi đứng không yên. Thình lình vùng nghe tiếng trống tan hầu, dường như tù được tin tha bổng. Lúc bấy giờ, Lê-xuân-Kỳ mừng quá đổi mừng, vội vàng xách nón ra về.

Về tới nhà không kịp thay đồ, cứ việc hối đứa ở dọn cơm, ăn hối ăn hả ba hột, rồi coi chừng đồng hồ, thấy đã mười một giờ ba khắc. Bèn sắm sửa đi liền, tuốt lại quán Tư-Quăng là nơi ước hẹn.

Còn Xuân-Lan khi cơm nước xong xuôi, chờ cho bà Phủ nghỉ trưa, mới nói cho Thu-Cúc hay, rồi lỏn ra ngã sau tuốt lại quán Tư-Quăng là chỗ đem mồi mà nhử cá.

Khi đến nơi vừa bước chơn vào, thấy Lê-xuân-Kỳ đã tới hồi nào, đương ngồi chờ đó. Xuân-Lan bước tới, xẻn lẻn trăm bề, trong lòng hồi hộp, chơn bước ngập ngừng; vì nàng là gái đương xuân, hễ thấy trai thì khép nép. Còn Lê-xuân-Kỳ mà thấy Xuân-Lan, thì nào có khác chi là mèo thấy mỡ; nhưng bỡi biết nàng là gái nết na đoan chánh, cho nên lòng cũng kiên dè, chớ không dám bốc hốt như con gái nhà tầm thường kia vậy. Bèn mở giọng rằng: «Bấy lâu tôi nghe cô là con nhà thi lễ, ngôn hạnh lưởng toàn, thật tôi lấy làm ái mộ, nên tôi muốn tính cuộc trăm năm, mới cậy người đến nói, không dè mà bà thân mẫu của cô lại không chịu gả, nên tôi lấy làm uất ức bấy lâu. Ai ngờ cô lại có lòng đoái tưởng, thì cái ơn tri-kỷ nầy tôi phải tạc dạ ghi xương, song tôi chẳng biết tính lẽ nào cho lưởng toàn kỳ mỷ; nhờ cô dạy bảo cho tôi.»

Xuân-Lan lúc bấy giờ, đương đối diện với cừu-nhân mà phải làm màu vui vẽ, thì trong lòng hổ thẹn, muôn đắng ngàn cay; thật rất khổ tâm thay! Song vì muốn cho nên việc, nên phải ráng bấm gan mà làm mặt dạn mày dày, dằng lòng nhẫn nhục, nét mặt tươi cười mà nói rằng: «Bấy lâu em vẫn biết thầy là người trung hậu quân-tử, phẩm hạnh đoan trang, thật em cũng hết lòng ái mộ; may sao thầy cũng có lòng thương tưởng cậy mai đến nói em đã đôi ba phen, ngặt vì bà Phủ là mẹ nuôi của em, ý không chịu gả, lại muốn để mà gả em cho Hoàng-hữu-Chí là một đứa xấc xược kiêu căng, thật là đáng ghét, nên em không biết liệu làm sao; vì em đã thọ ơn bà, em không dám cải. May đâu lại khiến cho nó làm đều nhục nhã mà phải bị tù, thật em mừng quá. Vậy nếu như thầy mà quả có lòng thương tưởng đến em, thì xin rán chịu phiền chờ đợi một ít lâu, chừng vài ba tháng nữa ông thân sanh của em ở Bắc mà về đây; chừng ấy nếu thầy cậy người đến nói, ắt ổng gả liền, vì bình sanh ổng cưng em lắm, hễ em ưng chỗ nào thì ổng cũng ưng theo chỗ nấy. Nay em mà ước hẹn với thầy đến đây là có ý để tỏ bày tâm-sự của em. Vậy nếu như thầy quả thật có lòng thương tưởng đến em mà tính cuộc trăm năm kết tóc, thì em xin thầy phải cho em một vật quí báu chi đặng để mà làm tin; được như vậy thì em mới tin hẵn lòng thầy, dầu cho đến mấy năm em cũng an lòng mà chờ đợi vậy.» Xuân-Lan và nói và cố ý ngó chừng chiếc nhẩn của Lê-xuân-Kỳ đương đeo trong tay mãi.

Lê-xuân-Kỳ hội ý, biết Xuân-Lan muốn chiếc nhẩn của mình, ngặt vì chiếc nhẩn ấy vốn của Cẩm-Lệ tặng cho, để làm dấu tích; không lẽ mà mình lại đam ra mà cho người khác. Ban đầu hãy còn dụ dự, tấn thối lưởng nan, sau bị thần ái-tình nó giục riết, phần thì tam hồn thất phách đã phưởng phất theo Xuân-Lan, cho nên bợm-ta chẳng còn chủ-trương gì nữa hết; liền cổi phứt chiếc nhẩn trong tay ra, trao cho Xuân-Lan mà nói rằng: «Nầy là cái núm ruột của tôi đây, ngặt vì tôi quá yêu cô, nên tôi phải cát ái, để tặng cho cô làm tin; mai sau dầu sở nguyện được thành, thì lời ước hẹn xin cô chớ phụ.» Xuân-Lan ngửa tay vói lấy chiếc nhẩn rồi nói rằng: «Như vầy thì em mới dám tin được lòng thầy, vậy từ đây, non xanh chẳng mất, nước biếc hãy còn; một tấm lòng son, ngàn năm chẳng lợt. Nhưng em còn một đều nầy nữa thật rất nên bó buộc, xin thầy dung thứ cho em; vã mẹ nuôi của em là bà Phủ, tánh tình gắt gớm lắm, em sợ e không được cùng thầy giáp mặt cho thường; đều ấy em xin thầy chớ ngại. Vậy em đi nảy giờ cũng đã lâu rồi, xin để cho em về, kẻo má em thức dậy ắt là khó lắm.» Lê-xuân-Kỳ coi lại đồng hồ, thấy đã hai giờ, cũng gần tới giờ phải đi làm việc rồi; cực chẳng đã nên phải đinh ninh vài lời, rồi phân tay nhau ai về nhà nấy. (Mưu kế của Xuân-Lan đến đây, thế là xong việc).

Lê-xuân-Kỳ về nhà lấy làm mãn nguyện, dương dương đắc ý, trông cho mau tới ngày tòa xử, đặng coi cho biết Hoàng-hữu-Chí bị án mấy năm; suy tới nghĩ lui, lấy làm đắc kế.

Còn Xuân-Lan khi về tới nhà thì bà Phủ thức dậy đã lâu, bèn hỏi nảng đi đâu, thì nảng kiếm đều che trước đậy sau ma nói cho qua chuyện. Tuy là khuất lấp được bà; nhưng mà, từ đó bà đã sanh lòng nghi ngại.

Đêm ấy Xuân-Lan chờ cho bà an giấc, rồi mới nhỏ to mà thuật lại hết cho chị nghe, lại lấy chiếc nhẩn ra mà khoe và lấy làm đắc kế. Thu-Cúc thấy kế đã thành trong lòng mừng lắm; song cũng dặn em phải cẫn thận cái mưu thần, mựa đừng sơ lậu.

Chẳng dè, cái mưu thì kín nhẹm, còn chuyện kia thì thúng khó úp voi, một miệng kín chín mười miệng hở. Từ ngày Xuân-Lan trò chuyện với Lê-xuân-Kỳ tại quán Tư-Quăng, thiên hạ đồn rùm, thấu tới tai bà Phủ. Bà liền tức giận bồi hồi, trách sao nảng lại tư tình với đứa nghịch. Nhưng mà, bà tuy giận vậy, song bà không la hét như kẻ tầm thường, cứ lấy đều đại nghĩa mà thống trách âm thầm vậy thôi, chớ người ngoài không ai nghe được. Thu-Cúc cũng giả ý rầy em, mắng nhiếc Xuân-Lan là đồ hư đồ chạ. Bà nghĩ tới chừng nào thì bà lại càng ứa gan chừng nấy, Bà bèn nhứt định đuổi nàng, chớ không thèm nuôi chứa trong nhà thứ đồ hư như vậy nữa.

LỜI BÀN: (Bà Phủ giận phải lắm, đuổi cũng phải lắm!

Điều thứ nhứt là con gái trong hạng danh-gia mà làm đều nhục nhã, hư danh mất nết; thật là tội ác quán dinh. Điều thứ hai là nhè đứa nghịch mà tư tình, rất phản đối với cái chủ nghĩa của bà; lẽ nào bà không giận? Bà giận phải! Bà giận nhằm!! Ai là người không giận?? — Nhưng nghĩ cho đến mấy cái đều đáng giận đó; rồi mới đáng sợ, đáng thương, đáng kính, đáng vì cô Xuân-Lan là một nàng con gái thiếu niên, đào tơ liểu yếu mà tâm chí rất cao, vì nghĩa cứu người mà phải liều danh-giá. Thật cũng khổ tâm thay! Mà cũng đáng thương đáng kính thay!!)

Khi Xuân-Lan bị bà Phủ đuổi rồi, thì cũng làm màu khóc lóc, gói áo quần, lạy mẹ và chị xách gói ra đi; bà Phủ cũng ngùi ngùi, song vì giận quá nên cũng làm lơ, để nảng đi cho rảnh.

Còn Xuân-Lan khi ra khỏi nhà rồi, chẳng cho ai biết là mình đi đâu, lén lén xách gói đi thẳng lại nhà bà Sáu-Thiện mà ở nhờ. Nàng lấy ra năm đồng bạc trao cho bà Sáu, bảo đi mua gạo và những đồ vặt cần dùng; nàng lại dặn dò đừng cho ai biết có nàng ở đậu trong nhà; ấy là nàng có ý sợ e cho Lê-xuân-Kỳ biết được rồi ăn quen mà mò tới.

Thật là: Cực kỳ khôn ngoan, cực kỳ tinh tế. (Nguyên bà Sáu-Thiện nầy, trước kia vẩn có ở nấu ăn cho bà Phủ, cho nên hai đàng mới biết được nhau. Bà nầy cũng có một đứa con gái chừng 15, 16 tuổi, chớ chẳng có con trai, ngày chí tối chỉ lo mua gánh bán bưng mà độ nhựt, có hai mẹ con hủ hỉ với nhau). Xuân-Lan ở đỡ tại nơi nhà nầy cũng là an phận.

Việc lôi thôi như vậy, lẽ nào Cẩm-Lệ lại chẳng hay, tiếng đồn nghe đã nhiều ngày, nàng-ta mới nổi ghen, bèn đón Lê-xuân-Kỳ mà hỏi. Còn Lê-xuân-Kỳ từ ngày mà được trò chuyện với Xuân-Lan rồi thì cặp con mắt của chàng, nhìn Cẩm-Lệ như nhìn Chung-vô-Diệm.

Ấy là: Tằng kinh Thương-hải nan vi thủy,

Trừ khước Vu-San bất thị vân.

Mà xưa nay những lời nói của đờn bà ghen tương, thì có lời nào là lời không xóc ốc? Bỡi vậy cho nên Lê-xuân-Kỳ cũng nổi giận, nói đi nói lại nhiều tiếng sân si; nhưng cũng còn dùng thẳng với nàng, nên phải kiếm lời chối ngược chối xuôi, rằng đó là lời đồn huyển. Tuy là chàng kiếm lời mà chối sướt cho qua; nhưng mà từ đó hai đàng đã sanh ác cảm rồi. Bỡi vậy cho nên Cẩm-Lệ về nhà càng nhớ tới chừng nào, thì lại càng oán hận Lê-xuân-Kỳ chừng nấy. Nàng nhơn đó mà nhớ lại cái đều tàn nhẫn của bợm-ta xúi mình âm mưu hảm hại, làm cho Hoàng-hữu-Chí phải bị giam từ ấy đến nay, thì cái lương-tâm của nàng lại càng hối hận vô cùng. Ngặt vì việc đã lỡ ra rồi, nên phải ôm ấp trong lòng, cũng chẳng dám nói ra cho ai biết.

Ngày giờ thấm thoát, Tòa Đại-hình hội xử đã gần kỳ. Cẩm-Lệ với Lê-xuân-Kỳ, Hương-quản, một tên lính tuần và tám tên dân làng thảy đều được trát Tòa đòi, đến ngày mười tám tháng mười tây, bảy giờ ban mai, phải tựu đến Tòa Đại-hình Saigon mà hầu về vụ xử Hoàng-hữu-Chí.

— Hết chương 5 —

Mục lục Lòng người nham hiểm

  1. 1Phần 123 phút
  2. 2Phần 222 phút
  3. 3Phần 322 phút
  4. 4Phần 423 phút
  5. 5Phần 522 phút
  6. 6Phần 623 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNguyễn Chánh Sắt (1869 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1926
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnWikisource tiếng Việt
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →