Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Mảnh đất bị yểm

của Nikolai Gogol

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 14.783 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Thề có Chúa, kể mãi chán lắm rồi! Mà…
  2. 3:15Thế là ôm hôn nhau.
  3. 5:26Mà quả thật, đằng sau có ai cười. Ông…
  4. 7:30Hôm sau, ngoài đồng vừa chạng vạng, ông nội…
  5. 10:49A, cục cưng, mày ở đây! Ông nội kêu…
  6. 11:30Hừm! Cái mỏ kêu chíp chíp.
  7. 12:33Ông lấy cái tù và ra. Nhưng trước khi…
  8. 14:36Và có khi ông già vừa nghe ở chỗ…

Thề có Chúa, kể mãi chán lắm rồi! Mà các vị nghĩ sao? Thật đấy, chán lắm: kể đi, kể nữa, chẳng thoát ra được! Thôi được, tôi kể, nhưng thề là lần cuối đấy. Phải rồi, các vị vừa nói chuyện con người có thể, như người ta vẫn bảo, chế ngự được ma quỷ. Thì đúng là, nghĩa là, nếu nghĩ cho kỹ, trên đời có đủ thứ chuyện… Nhưng đừng nói thế. Quỷ dữ muốn lừa thì nó lừa được, thề có Chúa, nó lừa được! Các vị xem này: nhà tôi bố có bốn anh em. Hồi ấy tôi còn khờ lắm. Mới chừng mười một tuổi, mà không, không phải mười một, tôi nhớ như in, có lần tôi bò bằng bốn chân mà sủa như chó, bố tôi quát, lắc đầu: “Ê, Phô-ma, Phô-ma! Tới tuổi lấy vợ rồi mà còn ngớ ngẩn như con la non!” Ông nội tôi hồi ấy còn sống, chân còn khá khoẻ, cầu cho ông ở thế giới bên kia được thảnh thơi. Có khi ông nổi hứng…

Mà kể thế này thì kể làm sao? Một ông thì cả tiếng đồng hồ cời than trong lò châm tẩu, ông kia thì chẳng biết chạy ra sau kho làm gì. Thật đấy!… Bị ép thì còn nói, đằng này chính các vị đòi nghe. Nghe thì nghe cho tử tế!

Bố tôi từ đầu mùa xuân đã chở thuốc lá sang Crưm bán. Tôi chẳng nhớ ông sửa soạn hai hay ba xe. Hồi ấy thuốc lá được giá. Ông mang theo thằng em ba tuổi của tôi, để tập cho nó nghề buôn đường xa từ sớm. Ở nhà còn lại: ông nội, mẹ, tôi, với một thằng em, rồi thằng em nữa. Ông nội trồng một ruộng dưa ngay sát đường, rồi dọn ra ở luôn trong chòi, dắt cả bọn tôi theo để đuổi chim sẻ với chim ác là khỏi ruộng. Với bọn tôi thì thế cũng chẳng thể bảo là tệ. Có khi một ngày ăn bao nhiêu là dưa chuột, dưa bở, củ cải, hành, đậu, đến mức trong bụng, thề có Chúa, như có gà trống gáy. Mà lại còn có lời nữa. Người qua đường chen chúc trên đường, ai cũng muốn thưởng thức quả dưa hấu hay quả dưa bở. Lại còn các trại ấp quanh vùng mang gà, trứng, gà tây tới đổi. Sống sướng lắm.

Nhưng ông nội thích nhất là ngày nào cũng có chừng năm chục xe của dân buôn muối đi qua. Dân ấy, các vị biết đấy, từng trải lắm: họ mà kể chuyện thì chỉ có việc vểnh tai lên mà nghe! Với ông nội thì thế chẳng khác gì đưa bánh mì viên cho kẻ đói. Có lúc lại gặp bạn cũ, ai cũng biết ông nội rồi, các vị cứ tự đoán xem, khi mấy ông già tụ lại với nhau thì thế nào: nào thế này, thế nọ, hồi ấy hồi ấy, có chuyện thế này thế kia… thế là tuôn ra như suối! Nhắc lại những chuyện có trời mới biết từ đời nào.

Có lần, ấy, thật đấy, như mới xảy ra hôm nay, mặt trời đã bắt đầu lặn. Ông nội đi khắp ruộng dưa, gỡ những chiếc lá ông vẫn phủ lên dưa hấu ban ngày cho khỏi bị nắng nướng.

— Ô-xtáp, nhìn kìa! Tôi bảo thằng em. Dân buôn muối tới kìa!

— Dân buôn muối đâu? Ông nội nói, đánh dấu lên một quả dưa bở to, phòng bọn trẻ ăn mất.

Trên đường kéo tới chừng sáu chiếc xe. Đi đầu là một người buôn muối ria đã xám. Còn cách chừng, biết nói thế nào nhỉ, chừng mười bước, ông ta dừng lại.

— Chào ông Mác-xim! Thế là Chúa cho gặp nhau ở đây!

Ông nội nheo mắt:

— A! Chào, chào! Chúa đưa ông từ đâu tới thế? Cả Bô-li-át-ca cũng ở đây à? Chào, chào ông anh! Quỷ thật! Ở đây có đủ cả: Cơ-ru-tô-tơ-rư-sen-cô! Cả Pê-trê-rư-xi-a với Cô-vê-léc! Cả Xtết-xcô nữa! Chào! A ha ha! Hô hô!…

Thế là ôm hôn nhau.

Họ tháo bò thả ra gặm cỏ. Xe để lại trên đường, còn chính họ thì ngồi thành vòng trước chòi mà châm tẩu. Nhưng đâu có rảnh mà hút tẩu? Mải kể chuyện, mải tán gẫu, chắc mỗi người chưa được hút hết một tẩu. Sau bữa xế, ông nội bắt đầu mời khách ăn dưa. Thế là mỗi người cầm một quả, lấy dao gọt sạch sẽ, ai nấy đều là dân sành sỏi, đi đây đi đó nhiều, biết thiên hạ ăn uống thế nào, có khi ngồi ngay vào bàn nhà quan cũng được, gọt sạch rồi, mỗi người lấy ngón tay chọc một cái lỗ nhỏ, uống nước bên trong, rồi cắt thành từng miếng mà bỏ vào miệng.

— Sao thế các thằng nhãi kia, ông nội nói, há hốc miệng ra làm gì? Nhảy đi, lũ con chó! Ô-xtáp, cái sáo của mày đâu? Nào điệu Cô-dắc! Phô-ma, chống nạnh vào! Nào! Thế chứ! Hầy, hấp!

Hồi ấy tôi là đứa nhanh nhẹn. Cái tuổi già khốn kiếp! Giờ thì chẳng nhảy được thế nữa, thay vì những vòng xoay thì chân chỉ vấp. Ông nội ngồi với dân buôn muối nhìn bọn tôi hồi lâu. Tôi để ý thấy chân ông chẳng chịu đứng yên: như có cái gì giật giật.

— Nhìn kìa, Phô-ma, Ô-xtáp nói, xem lão già có nhảy không!

Các vị nghĩ sao? Nó chưa kịp nói hết, ông già đã không nhịn được! Ông muốn, các vị biết đấy, khoe một chút trước dân buôn muối.

— Này, lũ con quỷ! Nhảy thế mà gọi là nhảy à? Phải nhảy thế này này! Ông nói, đứng dậy, dang tay, đập gót chân.

Thì phải nói là ông nhảy giỏi thật, có nhảy với cả bà vợ quan tướng Cô-dắc cũng được. Bọn tôi dạt sang bên, và lão già bắt đầu xoay chân khắp khoảng đất phẳng cạnh luống dưa chuột. Nhưng vừa tới nửa chừng, định tung hoành, quét chân như gió làm một miếng của mình, thì chân không nhấc lên được, thế thôi! Thế là thế nào? Ông lấy đà lần nữa, tới giữa, chẳng ăn thua! Làm gì cũng thế: chẳng ăn thua, cứ chẳng ăn thua! Chân như hoá gỗ!

“Chà, chỗ đất quỷ quái! Chà, trò ma quỷ của Xa-tăng! Cái thằng Hê-rốt, kẻ thù của loài người, lại xen vào!”

Làm sao lại chịu bẽ mặt trước dân buôn muối được? Ông lại nhảy, bắt đầu gõ nhịp nhỏ nhặt, dồn dập, xem thích mắt lắm. Tới giữa thì không! Chẳng nhảy ra được, thế thôi!

— A, cái thằng Xa-tăng ranh ma! Cho mày nghẹn quả dưa thối mà chết! Cho mày chết từ hồi còn bé, đồ con chó! Về già lại làm tao xấu hổ thế này!…

Mà quả thật, đằng sau có ai cười. Ông ngoảnh lại: chẳng có ruộng dưa, chẳng có dân buôn muối, chẳng có gì cả. Đằng sau, đằng trước, hai bên, chỉ là cánh đồng phẳng lì.

— Ê! Xì… thế là thế nào!

Ông bắt đầu nheo mắt: chỗ này hình như không hẳn lạ. Một bên là rừng, sau rừng thò lên một cây sào gì đó, nhìn thấy tít trên trời. Quái lạ! Đây là cái chuồng bồ câu trong vườn nhà cha xứ! Bên kia cũng có cái gì xám xám, nhìn kỹ thì là sân phơi lúa của ông thư ký xã. Quỷ dữ lôi mình tới đây! Đi vòng quanh một lúc, ông vấp phải một con đường mòn. Không có trăng, chỉ có một vệt trắng thấp thoáng sau đám mây thay cho trăng. “Mai thế nào cũng có gió to!” ông nội nghĩ. Nhìn ra thì bên lề đường, trên một nấm mồ nhỏ, một ngọn nến loé lên.

— Kìa! Ông nội đứng lại, chống nạnh, nhìn: ngọn nến tắt, rồi xa xa, xa hơn một chút, một ngọn khác cháy lên. Kho báu! Ông nội hét lên. Tôi cược có trời mới biết cái gì, nếu đây không phải kho báu!

Ông đã nhổ nước bọt vào tay định đào, thì sực nhớ ra mình chẳng mang mai, cũng chẳng mang xẻng.

— Chà, tiếc quá! Ai mà biết được, có khi chỉ cần lật lớp cỏ lên là nó nằm ngay đấy, cục cưng ạ! Chẳng làm gì được, ít ra phải đánh dấu chỗ này, để sau khỏi quên!

Thế là ông kéo một cành cây kha khá, chắc bị gió lốc bẻ gãy, quẳng lên nấm mồ có ngọn nến cháy, rồi đi theo con đường mòn. Khu rừng sồi non bắt đầu thưa dần, một hàng rào phên thấp thoáng. “Phải rồi! Mình đã chẳng bảo là bãi cỏ nhà cha xứ là gì”, ông nội nghĩ. “Đây là hàng rào nhà ông ấy! Giờ tới ruộng dưa chưa tới một dặm.”

Tuy vậy ông về nhà khá muộn, chẳng thèm ăn bánh mì viên. Đánh thức thằng Ô-xtáp, ông chỉ hỏi dân buôn muối đi lâu chưa, rồi trùm áo lông kín người. Thằng em vừa định hỏi:

— Hôm nay quỷ đem ông đi đâu thế ông?

— Đừng hỏi, ông nói, trùm kín hơn nữa, đừng hỏi, Ô-xtáp, kẻo bạc cả tóc!

Rồi ông ngáy to tới mức đám chim sẻ đã lẻn vào ruộng dưa hoảng sợ bay vút lên. Nhưng ông ngủ sao được! Phải nói, ông là một tay ranh lắm, cầu Chúa cho ông lên thiên đàng! Lúc nào ông cũng biết cách thoát thân. Có khi ông hát một bài mà mình cứ phải cắn môi.

Hôm sau, ngoài đồng vừa chạng vạng, ông nội khoác áo choàng, thắt lưng, kẹp mai với xẻng dưới nách, đội mũ, uống một vại nước bánh mì chua, lấy vạt áo lau môi, rồi đi thẳng tới vườn nhà cha xứ. Qua hàng rào, qua rừng sồi thấp. Giữa những thân cây, một con đường mòn uốn lượn rồi ra đồng. Hình như đúng con đường ấy. Ông ra tới cánh đồng, chỗ y hệt hôm qua: kìa cái chuồng bồ câu thò lên, nhưng sân phơi lúa thì không thấy. “Không, không phải chỗ này. Chỗ ấy hẳn phải xa hơn, phải rẽ về phía sân phơi lúa!” Ông quay lại, đi đường khác, thấy sân phơi lúa, thì chuồng bồ câu mất! Lại rẽ lại gần chuồng bồ câu, thì sân phơi lúa trốn mất. Ngoài đồng, như cố ý, trời bắt đầu lâm thâm mưa. Ông chạy lại về phía sân phơi lúa, chuồng bồ câu biến mất. Chạy về phía chuồng bồ câu, sân phơi lúa biến mất.

— Cho mày, thằng Xa-tăng khốn kiếp, không sống tới ngày thấy mặt con cái mày!

Còn mưa thì đổ xuống như trút nước.

Thế là ông cởi đôi ủng mới, bọc vào khăn để khỏi bị mưa làm cong vênh, rồi chạy một mạch như con ngựa nước kiệu nhà quan. Ông chui vào chòi, ướt sũng, trùm áo lông, bắt đầu lầm bầm gì đó qua kẽ răng, và âu yếm con quỷ bằng những lời mà từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi chưa từng nghe. Thú thật, tôi hẳn sẽ đỏ mặt nếu chuyện ấy xảy ra giữa ban ngày.

Hôm sau tôi thức dậy, nhìn ra thì ông nội đã đi lại trong ruộng dưa như chẳng có chuyện gì, lấy lá ngưu bàng phủ dưa hấu. Lúc ăn trưa, ông già lại bắt chuyện, doạ thằng em út rằng sẽ đổi nó lấy gà thay vì lấy dưa hấu. Ăn trưa xong, chính ông lấy gỗ làm một cái còi rồi bắt đầu thổi, lại cho bọn tôi chơi một quả dưa cong queo ba vòng như con rắn, mà ông gọi là dưa Thổ. Giờ tôi chẳng còn thấy những quả dưa như thế ở đâu nữa. Đúng là hạt giống ông có được từ một nơi xa xôi nào đó.

Buổi tối, ăn tối xong, ông nội cầm mai đi xới một luống mới để trồng bí ngô muộn. Đi ngang qua mảnh đất bị yểm ấy, ông không nhịn được, lầm bầm qua kẽ răng: “Cái chỗ khốn kiếp!”, rồi bước vào giữa, đúng chỗ hôm kia không nhảy được, tức giận bổ một nhát mai xuống. Nhìn ra thì quanh ông lại là cánh đồng ấy: một bên chuồng bồ câu thò lên, bên kia là sân phơi lúa.

“Hay lắm, may mà mình nghĩ ra mang theo cái mai. Kìa con đường mòn! Kìa nấm mồ! Kìa cành cây đổ! Kìa, kìa ngọn nến đang cháy! Chỉ cần đừng nhầm.”

Ông khẽ khàng chạy tới, giơ cao cái mai, như định đãi một nhát cho con lợn rừng lọt vào ruộng dưa, rồi dừng lại trước nấm mồ. Ngọn nến tắt. Trên mộ có một hòn đá cỏ mọc kín. “Phải nhấc hòn đá này lên!” ông nội nghĩ, rồi bắt đầu đào xung quanh nó. Hòn đá khốn kiếp to thật! Nhưng tì chân thật chắc xuống đất, ông cũng đẩy được nó khỏi nấm mồ. “Hù!” vang khắp thung lũng. “Đi đi cho rảnh! Giờ việc sẽ nhanh hơn.”

Đến đây ông nội dừng lại, lấy cái tù và đựng thuốc lá hít, đổ ít thuốc lên nắm tay, đang định đưa lên mũi, thì bỗng trên đầu ông có cái gì “hắt-xì!” một tiếng, mạnh tới mức cây cối chao đảo, còn mặt ông nội thì bị bắn ướt hết.

— Ít ra cũng quay sang bên mà hắt hơi chứ! Ông nội nói, dụi mắt. Ông nhìn quanh, chẳng có ai. Không, hình như quỷ không ưa thuốc lá! Ông nói tiếp, cất cái tù và vào ngực áo, cầm lấy mai. Nó đúng là đồ ngốc, chứ thuốc lá thế này thì cả ông lẫn cha nó cũng chưa từng được ngửi!

Ông bắt đầu đào. Đất mềm, mai cứ ngập xuống. Bỗng có tiếng gì kêu keng. Hất đất ra, ông thấy một cái nồi.

— A, cục cưng, mày ở đây! Ông nội kêu lên, luồn mai xuống dưới nó.

— A, cục cưng, mày ở đây! Một cái mỏ chim kêu chíp chíp, mổ vào cái nồi.

Ông nội dạt sang bên, buông cái mai.

— A, cục cưng, mày ở đây! Một cái đầu cừu trên ngọn cây kêu be be.

— A, cục cưng, mày ở đây! Một con gấu thò cái mõm ra từ sau gốc cây mà gầm.

Ông nội run lên.

— Ở đây nói một lời cũng thấy sợ! Ông lầm bầm một mình.

— Ở đây nói một lời cũng thấy sợ! Cái mỏ chim kêu chíp chíp.

— Nói một lời cũng thấy sợ! Cái đầu cừu kêu be be.

— Nói một lời! Con gấu rống lên.

— Hừm… ông nội nói, rồi chính ông cũng hoảng.

— Hừm! Cái mỏ kêu chíp chíp.

— Hừm! Con cừu kêu be be.

— Hùm! Con gấu gầm.

Ông sợ hãi quay lại: lạy Chúa, đêm gì thế này! Chẳng có sao, chẳng có trăng. Xung quanh là vực thẳm. Dưới chân là vách dựng đứng không đáy. Trên đầu một ngọn núi chúc xuống, tưởng như chực đổ ập vào ông! Và ông nội có cảm giác từ sau núi có một cái mặt gớm ghiếc đang nháy mắt: ối! ối! Mũi như cái bễ trong lò rèn, lỗ mũi đổ vào mỗi bên được cả một thùng nước! Môi, thề có Chúa, như hai khúc gỗ! Đôi mắt đỏ trợn ngược lên, lại còn thè lưỡi ra mà trêu!

— Quỷ tha ma bắt mày! Ông nội nói, buông cái nồi. Của báu của mày đấy! Cái mặt mới gớm ghiếc làm sao!

Ông đã toan bỏ chạy, nhưng nhìn quanh rồi đứng lại, thấy mọi thứ vẫn như trước.

— Chỉ là ma quỷ doạ thôi!

Ông lại xắn tay vào cái nồi: không, nặng quá! Làm sao đây? Đâu thể bỏ lại ở đây được! Thế là gồng hết sức, ông dùng tay ôm lấy nó.

— Nào, một, hai! Nữa, nữa!

Và ông lôi lên được!

— Phù! Giờ thì hít tí thuốc!

Ông lấy cái tù và ra. Nhưng trước khi đổ thuốc, ông nhìn quanh thật kỹ xem có ai không. Hình như không có ai. Nhưng rồi ông có cảm giác gốc cây kia đang phì phò phồng lên, mọc ra đôi tai, đôi mắt đỏ đầy lên, lỗ mũi phồng ra, cái mũi nhăn lại, và sắp hắt hơi tới nơi.

“Không, không hít thuốc nữa”, ông nội nghĩ, cất cái tù và đi, “Xa-tăng lại phun vào mắt mất”.

Ông vội chộp cái nồi mà chạy hết sức bình sinh. Có điều ông nghe như đằng sau có cái gì cứ quất roi vào chân… “Ối! Ối, ối!” ông chỉ kêu lên, rồi chạy hết sức, tới vườn nhà cha xứ mới thở ra được đôi chút.

“Ông đi đâu thế nhỉ?” bọn tôi nghĩ, chờ tới ba tiếng đồng hồ. Mẹ từ trại ấp về đã lâu, mang theo một nồi bánh mì viên nóng. Mãi chẳng thấy ông đâu! Bọn tôi lại tự ăn tối. Ăn xong mẹ rửa nồi, đưa mắt tìm chỗ đổ nước rửa, vì quanh đó toàn luống, thì thấy một cái thùng đang đi thẳng về phía mình. Trời thì khá tối. Chắc là một thằng nhãi nào nghịch, nấp đằng sau mà đẩy nó.

— Đúng lúc quá, đổ nước rửa vào đây! Mẹ nói, rồi dội nước rửa nồi nóng vào.

— Ối! Có tiếng hét giọng ồm ồm.

Nhìn ra thì là ông nội. Ai mà biết được! Thề có Chúa, bọn tôi tưởng cái thùng bò tới. Thú thật, tuy hơi có tội, nhưng thấy buồn cười thật, khi cái đầu bạc của ông nội ướt sũng nước rửa, treo đầy vỏ dưa hấu, vỏ dưa bở.

— Chà, cái mụ quỷ! Ông nội nói, lấy vạt áo lau đầu. Dội nước sôi như dội con lợn trước lễ Giáng sinh! Nào các cháu, giờ có tiền mua bánh vòng rồi! Rồi lũ con chó chúng mày sẽ mặc áo chẽn vàng! Nhìn xem, nhìn vào đây xem ông mang về cho chúng mày cái gì! Ông nội nói, rồi mở cái nồi.

Các vị nghĩ trong đó có cái gì? Nào, nghĩ cho kỹ đi, ít ra cũng phải là vàng chứ hả? Ấy thế mới nói, chẳng phải vàng: rác, rơm rác… nói ra cũng ngượng là cái gì. Ông nội nhổ toẹt, quẳng cái nồi, rồi rửa tay.

Từ đó ông nội cấm bọn tôi không bao giờ được tin quỷ.

— Đừng có nghĩ tới! Ông thường bảo bọn tôi. Kẻ thù của Chúa Ki-tô nói gì cũng là nói dối hết, cái đồ con chó! Ở nó chẳng có lấy một xu sự thật!

Và có khi ông già vừa nghe ở chỗ nào có chuyện không yên:

— Nào các cháu, làm dấu thánh nào! Ông hét gọi bọn tôi. Đấy! Đấy! Cho nó biết tay!

Rồi ông bắt đầu làm dấu thánh. Còn cái chỗ khốn kiếp không nhảy được ấy, ông rào lại bằng hàng rào phên, sai đổ vào đó tất cả những gì vô dụng, toàn bộ cỏ dại, rác rưởi ông cào khỏi ruộng dưa.

Ma quỷ lừa con người như thế đấy! Tôi biết rõ mảnh đất ấy: về sau mấy người Cô-dắc hàng xóm thuê của bố tôi làm ruộng dưa. Đất tốt lắm! Mùa màng lúc nào cũng tuyệt. Nhưng trên mảnh đất bị yểm thì chẳng bao giờ được cái gì ra hồn. Gieo trồng tử tế, mà mọc lên thứ chẳng ai phân biệt nổi: dưa hấu chẳng ra dưa hấu, bí chẳng ra bí, dưa chuột chẳng ra dưa chuột… quỷ biết là cái gì!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNikolai Gogol (1809 – 1852)
Năm mất1852
Xuất bản lần đầu1832
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Заколдованное место. Быль, рассказанная дьячком ***ской церкви, tập Những buổi tối ở thôn gần Đi-căn-ca, 1832
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →