Ngày xưa lắm, từ thời bà tôi, cả vùng Ca-lân toàn là đầm lầy. Những vũng nước đen ngòm rộng mênh mông, những dòng nước xanh lờ đờ rỉ rả, và những bãi bùn nhão, bước lên là phọt bùn tung toé.
Bà tôi vẫn kể rằng, từ lâu lắm, trước cả thời bà, chính Mặt Trăng đã có lần chết và bị chôn dưới đầm lầy. Bà kể cho tôi thế nào, giờ tôi kể lại cho các bạn nghe y như thế.
Mặt Trăng trên kia sáng mãi, sáng mãi, y như bây giờ. Khi Mặt Trăng sáng, ánh trăng soi rõ những vũng lầy, người ta đi lại gần như an toàn như ban ngày.
Nhưng khi Mặt Trăng không sáng, thì những Thứ sống trong bóng tối lại mò ra, đi khắp nơi tìm cách làm điều ác, gây điều hại. Yêu tinh, và những Nỗi Kinh Hoàng Bò Trườn, tất cả đều mò ra khi Mặt Trăng không sáng.
Mặt Trăng nghe nói chuyện ấy thì lo lắm. Nàng vốn nhân hậu, tốt bụng, mà tốt bụng thật đấy, đêm đêm thức soi sáng cho chúng ta thay vì nghỉ ngơi như lẽ thường.
— Ta sẽ tự mình đi xem, — Mặt Trăng nói. — Biết đâu không tệ như người ta đồn.
Quả thật, cuối tháng ấy, Mặt Trăng bước xuống trần, quấn mình trong một tấm áo choàng đen, đội một chiếc mũ trùm đen che mái tóc vàng óng ánh. Nàng đi thẳng tới bờ đầm lầy, nhìn quanh. Chỗ này nước, chỗ kia nước. Những búi cỏ lắc lư, những bãi bùn rung rinh, những gốc cây đen to tướng cong queo vặn vẹo. Trước mặt nàng tối om, tối om, chỉ trừ ánh sao le lói dưới những vũng nước, và ánh sáng toả ra từ đôi bàn chân trắng của chính nàng, lấp ló dưới tấm áo choàng đen.
Mặt Trăng kéo áo choàng sát vào người, run rẩy. Nhưng nàng không chịu quay về khi chưa xem hết những gì cần xem. Thế là nàng đi tiếp, bước nhẹ như gió mùa hè, từ búi cỏ này sang búi cỏ khác, giữa những hố nước tham lam đang ọc ọc.
Vừa tới gần một vũng nước lớn đen ngòm, chân nàng trượt, suýt ngã nhào xuống. Nàng vội đưa cả hai tay bám vào một gốc cây khô gần đó để đứng cho vững. Nhưng vừa chạm vào, gốc cây đã quấn lấy hai cổ tay nàng, như một đôi còng, giữ chặt tới mức nàng không cử động được. Nàng giằng, nàng vặn, nàng vùng vẫy, nhưng vô ích. Nàng đã bị giữ chặt, và phải đứng chôn chân ở đó.
Lát sau, đang đứng run rẩy trong bóng tối, tự hỏi có ai đến cứu không, nàng nghe từ xa vọng lại tiếng gọi, gọi mãi, gọi mãi, rồi tắt dần trong một tiếng nấc, cho tới khi cả đầm lầy vang đầy tiếng kêu than thảm thiết ấy. Rồi nàng nghe tiếng bước chân lội bì bõm, lép nhép trong bùn, trượt trên những búi cỏ. Qua bóng tối, nàng thấy một khuôn mặt trắng bệch với đôi mắt to hãi hùng.
Đó là một người đàn ông bị lạc trong đầm lầy. Sợ tới mất hồn, anh ta cứ vùng vẫy lần về phía một đốm sáng chập chờn, tưởng đó là sự cứu giúp, là chốn an toàn. Mặt Trăng tội nghiệp thấy anh ta mỗi lúc một tới gần cái hố sâu, mỗi lúc một xa con đường, thì vừa giận vừa thương, càng giằng, càng vùng, càng giật mạnh hơn bao giờ hết. Dù không thoát ra được, nàng cứ vặn mình, xoay người, cho tới khi chiếc mũ trùm đen rơi ra khỏi mái tóc vàng óng ánh. Ánh sáng tuyệt đẹp toả ra từ mái tóc ấy xua tan bóng tối.
Ôi, người đàn ông reo lên mừng rỡ khi lại thấy ánh sáng. Lập tức tất cả những Thứ ác độc chạy trốn vào những xó tối, vì chúng không chịu được ánh sáng. Thế là anh ta nhìn rõ mình đang ở đâu, con đường ở đâu, và làm sao ra khỏi đầm lầy. Anh ta vội vã chạy khỏi những vũng lầy hút người, khỏi lũ yêu tinh và những Thứ sống ở đó, tới mức chẳng buồn ngoảnh nhìn thứ ánh sáng can đảm toả ra từ mái tóc vàng óng ánh, đang buông xoã trên tấm áo choàng đen, rủ xuống tận mặt nước dưới chân anh ta. Còn chính Mặt Trăng cũng mải lo cứu anh ta, mải mừng vì anh ta đã về đúng đường, nên quên khuấy rằng chính mình cũng cần được cứu, rằng mình đang bị gốc Cây Đen giữ chặt.
Thế là anh ta chạy đi, kiệt sức, thở hổn hển, vấp váp, vừa chạy vừa nấc lên vì mừng, chạy thục mạng ra khỏi đầm lầy khủng khiếp.
Lúc ấy Mặt Trăng mới chợt thấy mình khao khát được đi theo anh ta biết bao. Nàng giằng, nàng vùng như điên, cho tới khi kiệt sức ngã khuỵu xuống dưới chân gốc cây. Đang lúc nàng nằm đó thở hổn hển, chiếc mũ trùm đen lại rơi xuống trùm kín đầu nàng. Thế là ánh sáng thiêng liêng tắt ngấm, bóng tối quay lại, cùng tất cả những Thứ ác độc của nó, rít lên, hú lên. Chúng xúm quanh nàng, chế nhạo, giằng giật, đánh đập, gào thét đầy căm tức và thù hằn, chửi rủa, gầm gừ. Vì chúng biết nàng là kẻ thù cũ của chúng, kẻ vẫn xua chúng vào xó tối, không cho chúng thực hiện ý đồ độc ác.
— Đồ đáng nguyền rủa! — đám phù thuỷ gào lên. — Năm ngoái mày phá hết bùa phép của bọn tao!
— Còn bọn tao thì mày bắt phải chui rúc trong xó! — lũ yêu tinh hú lên.
Và tất cả những Thứ kia cùng hoà theo một tiếng "Hô, hô!" thật to, làm rung cả những búi cỏ, làm nước ọc ọc. Rồi chúng lại bắt đầu.
— Ta đầu độc nó, đầu độc nó! — đám phù thuỷ rít lên.
— Hô, hô! — những Thứ kia lại hú lên.
— Ta làm nó chết ngạt, chết ngạt! — những Nỗi Kinh Hoàng Bò Trườn thì thào, quấn lấy đầu gối nàng.
— Hô, hô! — cả bọn còn lại chế nhạo.
Rồi tất cả lại hò hét đầy thù hằn, ác ý. Mặt Trăng tội nghiệp co rúm người lại, chỉ mong mình chết quách cho xong.
Chúng cãi nhau, tranh nhau xem nên xử nàng thế nào, cho tới khi trên trời bắt đầu le lói một thứ ánh sáng xám nhạt, trời sắp rạng đông. Thấy thế, chúng sợ không kịp làm theo ý mình. Chúng lấy những ngón tay xương xẩu ghê rợn túm lấy nàng, dìm nàng sâu xuống nước dưới chân gốc cây. Lũ yêu tinh mang tới một tảng đá to kỳ lạ, lăn đè lên người nàng, để nàng không trồi lên được. Rồi chúng sai hai đốm ma trơi thay phiên nhau canh trên gốc Cây Đen, để chắc chắn nàng nằm yên, không thoát ra phá trò vui của chúng.
Thế là Mặt Trăng tội nghiệp nằm đó, chết và bị chôn dưới đầm lầy, cho tới khi có ai đến giải thoát. Mà ai biết đâu mà tìm nàng.
Ngày tháng trôi qua, đã tới lúc trăng non mọc. Người ta bỏ sẵn mấy đồng xu vào túi, cài sẵn cọng rơm lên mũ để đón trăng, ngóng lên trời. Vì Mặt Trăng là người bạn tốt của dân đầm lầy, và họ mừng lắm khi những đêm tối qua đi, đường sá lại an toàn, và những Thứ ác độc bị Ánh Sáng thiêng liêng xua trở lại bóng tối và những vũng nước.
Nhưng ngày này qua ngày khác, trăng non chẳng hề mọc. Đêm nào cũng tối om, và những Thứ ác độc còn quấy phá dữ hơn bao giờ hết. Ngày tháng cứ trôi, trăng non vẫn chẳng mọc. Tất nhiên dân nghèo sợ hãi lắm, hoang mang lắm. Nhiều người đến tìm Bà Thông Thái sống trong cái cối xay cũ, hỏi xem bà có tìm ra được Mặt Trăng đã đi đâu không.
— Chà, — bà nói, sau khi nhìn vào nồi nước phép, nhìn vào gương, và giở Sách ra xem, — lạ lắm, nhưng ta không nói chắc được chuyện gì đã xảy ra với Mặt Trăng. Hễ các người nghe được gì thì đến báo ta.
Thế là họ ra về. Ngày tháng trôi qua, Mặt Trăng chẳng mọc, tất nhiên là họ bàn tán. Trời ơi! Bàn tán ghê lắm! Ở nhà cũng bàn, ở quán cũng bàn, ngoài vườn cũng bàn.
Thế rồi một hôm, mọi người đang ngồi trên chiếc ghế dài lớn trong quán, có một người từ tít cuối vùng đầm lầy vừa hút thuốc vừa nghe chuyện, bỗng ngồi thẳng dậy, vỗ đánh đét vào đầu gối.
— Ối trời! — anh ta nói. — Tôi quên khuấy mất, nhưng tôi nghĩ tôi biết Mặt Trăng ở đâu rồi!
Rồi anh ta kể chuyện mình lạc trong đầm lầy, kể chuyện lúc mình sợ gần chết thì ánh sáng bừng lên, anh ta tìm ra đường, về nhà an toàn.
Thế là cả bọn kéo nhau tới gặp Bà Thông Thái, kể lại chuyện ấy. Bà lại nhìn rất lâu vào cái nồi và cuốn Sách, rồi gật đầu.
— Vẫn còn tối lắm, các con ạ, tối lắm! — bà nói. — Ta không nhìn rõ được. Nhưng cứ làm theo lời ta, các con sẽ tự tìm ra. Tất cả các con hãy đi, ngay trước khi màn đêm buông xuống. Ngậm một hòn sỏi trong miệng, cầm một cành cây phỉ trong tay, và không được nói một lời nào cho tới khi về tới nhà an toàn. Rồi cứ đi, đừng sợ, đi sâu vào giữa đầm lầy, cho tới khi gặp một cỗ quan tài, một ngọn nến và một cây thánh giá. Khi ấy các con không còn xa Mặt Trăng nữa. Hãy tìm, biết đâu các con sẽ thấy nàng.
Thế là tối hôm sau, lúc trời chạng vạng, cả bọn cùng nhau đi. Người nào cũng ngậm hòn sỏi trong miệng, cầm cành cây phỉ trong tay, và các bạn có thể đoán được, ai nấy đều sợ hãi, rợn cả người. Họ vấp váp, lảo đảo đi dọc những lối mòn vào giữa đầm lầy. Họ chẳng thấy gì, nhưng nghe tiếng thở dài và tiếng phành phạch bên tai, thấy những ngón tay lạnh ướt chạm vào mình.
Rồi bỗng nhiên, đang nhìn quanh tìm cỗ quan tài, ngọn nến và cây thánh giá, họ tới gần cái vũng bên gốc cây lớn, nơi Mặt Trăng bị chôn. Bất giác họ dừng lại, run lẩy bẩy, sợ mất hồn. Vì kia là tảng đá lớn, nửa chìm nửa nổi trên mặt nước, y hệt một cỗ quan tài to kỳ lạ. Ở đầu tảng đá là gốc Cây Đen, dang hai cánh tay ra thành một cây thánh giá u tối rùng rợn. Trên đó có một đốm sáng bé tí chập chờn, như một ngọn nến sắp tắt.
Tất cả quỳ xuống bùn, đọc kinh Lạy Cha. Đọc xuôi trước, vì có cây thánh giá. Rồi đọc ngược, để xua lũ yêu tinh. Nhưng chỉ đọc thầm, không thành tiếng, vì họ biết những Thứ ác độc sẽ bắt họ nếu họ không làm đúng lời Bà Thông Thái dặn.
Rồi họ tới gần hơn, cùng nắm lấy tảng đá to, đẩy nó lên. Về sau họ kể rằng, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, họ thấy một khuôn mặt lạ lùng, xinh đẹp, từ dưới làn nước đen ngước lên nhìn họ, vẻ mừng rỡ. Nhưng Ánh Sáng bừng lên nhanh quá, trắng quá, rực rỡ quá, họ lùi lại, choáng váng. Và ngay khoảnh khắc sau, khi nhìn lại được, thì kia, Mặt Trăng tròn vành vạnh đã treo trên trời, sáng ngời, xinh đẹp, nhân hậu như bao giờ. Nàng toả sáng, mỉm cười nhìn xuống họ, soi rõ đầm lầy và lối đi như ban ngày, len cả vào những xó xỉnh, như thể nàng muốn xua sạch bóng tối và lũ yêu tinh đi, nếu nàng làm được.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích