Chương 1: Vị khách không ăn tỏi
Ông cung cấp của nhà vua thành Cát-ga quỳ trước ngai vàng, run run kể:
— Tâu bệ hạ, hôm qua có một vị quyền quý mời thần dự đám cưới con gái ông. Chiều tối thần tới đúng giờ, gặp đủ các vị học giả, các quan tòa và những người danh giá nhất thành. Lễ xong thì dọn tiệc linh đình, mọi người ngồi vào, ai thích món nào ăn món nấy. Trong các món có một món hầm nấu với tỏi rất ngon, ai cũng muốn ăn. Chúng thần thấy có một vị khách ngồi ngay trước món ấy mà không hề đụng đũa, bèn mời ông cứ tự nhiên ăn như mọi người.
Ông van chúng thần đừng ép:
— Tôi xin kiếu món hầm có tỏi. Tôi chưa quên cái giá tôi đã phải trả vì ăn nó ngày trước.
Chúng thần xin ông kể vì sao ông lại sợ tỏi đến thế. Nhưng chủ nhà không để ông kịp trả lời:
— Ông làm vẻ mặt thế với mâm cơm của tôi đấy à? Món hầm này ngon tuyệt, ông đừng hòng thoái thác. Ông phải nể tôi mà ăn như mọi người.
— Thưa ông, vị khách, một nhà buôn người Bát-đa, đáp, ông đừng tưởng tôi làm bộ kiểu cách. Nếu ông nhất định muốn, tôi xin vâng. Nhưng với điều kiện ăn xong tôi được rửa tay bốn mươi lần bằng nước tro, bốn mươi lần bằng tro của chính loài cây ấy, và bốn mươi lần bằng xà phòng. Mong ông đừng phật ý, vì tôi đã thề không bao giờ ăn món hầm tỏi mà không làm như thế.
Chủ nhà nhất định không tha, bèn sai người nhà sửa soạn sẵn chậu, nước, nước tro, tro và xà phòng cho nhà buôn rửa bao nhiêu lần tùy thích. Rồi ông quay sang nhà buôn:
— Nào, ông ăn đi như chúng tôi. Nước tro, tro với xà phòng không thiếu đâu.
Nhà buôn như giận vì bị ép, chìa tay ra, run run gắp một miếng đưa lên miệng, nuốt một cách khó nhọc đến nỗi chúng thần ai cũng ngạc nhiên. Nhưng điều làm chúng thần sửng sốt hơn là ông chỉ có bốn ngón, không có ngón cái, mà nãy giờ ông ăn bao nhiêu món rồi chưa ai để ý.
— Ông không có ngón cái, chủ nhà nói ngay. Vì tai nạn gì mà ông mất? Hẳn có chuyện gì đó, ông kể cho mọi người nghe thì vui lắm.
— Thưa ông, nhà buôn đáp, chẳng những tay phải tôi không có ngón cái đâu, tay trái cũng thế.
Ông chìa bàn tay trái ra cho chúng thần thấy ông nói thật.
— Chưa hết đâu, ông nói thêm. Cả hai bàn chân tôi cũng không có ngón cái. Các ông cứ tin tôi. Tôi bị tật thế này vì một chuyện chưa từng nghe thấy, tôi sẵn lòng kể nếu các ông chịu khó nghe. Các ông sẽ vừa kinh ngạc vừa thương tôi. Nhưng cho tôi rửa tay đã.
Nói rồi ông đứng dậy rời bàn, rửa tay đủ một trăm hai mươi lần, rồi mới quay lại chỗ ngồi kể chuyện của mình.
Các ông nên biết, dưới triều khalip Ha-run An-ra-sít, cha tôi sống ở Bát-đa, nơi tôi sinh ra, và được coi là một trong những nhà buôn giàu nhất thành. Nhưng ông ham vui, ăn chơi, bỏ bê việc làm ăn, nên khi ông mất, tôi chẳng được hưởng gia tài gì lớn, trái lại phải chắt bóp đủ đường mới trả hết nợ ông để lại. Rồi tôi cũng trả xong, và nhờ chịu khó, cái vốn nhỏ của tôi bắt đầu khấm khá.
Một buổi sáng tôi vừa mở cửa hàng thì có một người đàn bà cưỡi la, một viên thái giám đi kèm, hai người hầu gái theo sau, đi ngang qua rồi dừng trước cửa. Viên thái giám đỡ bà xuống, nói:
— Thưa bà, tôi đã bảo bà đi sớm quá mà. Bà xem, chợ vải chưa có ai cả. Bà nghe tôi thì đã khỏi phải chờ.
Bà nhìn quanh, thấy quả thật ngoài cửa hàng tôi chưa hàng nào mở, bèn lại gần chào tôi, xin ngồi nghỉ trong cửa hàng chờ các nhà buôn khác tới. Tôi đáp lại lời chào cho phải phép.
Bà ngồi xuống. Thấy cả chợ vải chỉ có viên thái giám và tôi, bà bỏ khăn che mặt cho mát. Tôi chưa từng thấy ai đẹp đến thế. Nhìn thấy nàng và yêu say đắm, với tôi là cùng một lúc. Tôi cứ dán mắt vào nàng. Hình như nàng cũng chẳng khó chịu, vì nàng để tôi tha hồ ngắm, chỉ che mặt lại khi sợ có người trông thấy.
Che mặt xong, nàng nói nàng đang tìm mấy loại vải thật đẹp, thật quý, kể tên ra, hỏi tôi có không.
— Than ôi, thưa bà, tôi đáp, tôi là một nhà buôn trẻ mới mở hàng, chưa đủ vốn buôn những thứ đắt tiền như thế. Tôi rất tiếc không có gì bà cần. Nhưng để bà khỏi phải đi hết hàng này hàng nọ, các nhà buôn tới thì tôi xin tới lấy những thứ bà muốn, họ sẽ nói giá đúng, bà cứ ngồi đây mà mua.
Nàng bằng lòng, và tôi được trò chuyện với nàng rất lâu, vì tôi cứ làm như các nhà buôn có thứ vải nàng cần vẫn chưa tới.
Tôi say mê trí tuệ nàng chẳng kém gì nhan sắc. Nhưng cuối cùng tôi cũng phải chạy đi lấy vải. Nàng chọn xong những tấm ưng ý, chúng tôi thỏa thuận giá năm nghìn đồng bạc. Tôi gói lại đưa viên thái giám kẹp nách. Nàng đứng dậy chào tôi rồi đi. Tôi nhìn theo tới cổng chợ, và chỉ thôi nhìn khi nàng đã lên lưng la.
Nàng vừa khuất, tôi mới biết tình yêu đã làm tôi phạm một lỗi lớn. Đầu óc rối tung, tôi không để ý rằng nàng đi mà chưa trả tiền, cũng chẳng hỏi nàng là ai, ở đâu. Mà tôi lại đang nợ một món lớn của mấy nhà buôn, có khi họ chẳng chịu đợi. Tôi tới xin khất họ, bảo rằng tôi có quen bà khách. Rồi tôi về nhà, vừa say mê vừa lo vì món nợ to.
Tôi xin chủ nợ đợi tám ngày. Hết tám ngày, họ tới đòi. Tôi xin khất thêm tám ngày nữa, họ bằng lòng. Nhưng ngay hôm sau, tôi thấy nàng tới, cưỡi la, đúng người theo hầu ấy, đúng giờ ấy. Nàng đi thẳng tới cửa hàng tôi.
— Tôi để ông đợi hơi lâu, nàng nói, nhưng đây, tôi mang tiền vải hôm trước tới. Ông mang tới người đổi tiền, xem tiền có tốt không, có đủ không.
Viên thái giám cầm tiền theo tôi tới người đổi tiền. Tiền đủ, toàn bạc tốt. Tôi quay về, lại được trò chuyện với nàng cho tới khi cả chợ mở cửa. Chúng tôi chỉ nói những chuyện thường, nhưng nàng nói chuyện gì cũng duyên, cũng mới, làm tôi thấy ngay lần đầu mình đã đoán không sai về trí tuệ của nàng.
Các nhà buôn mở cửa hàng, tôi mang tiền trả những người đã cho tôi chịu vải, và dễ dàng xin họ cho chịu thêm những thứ vải khác nàng cần. Tôi lấy chừng một nghìn đồng vàng tiền hàng, và nàng lại mang đi mà không trả tiền, không nói gì, không cho biết mình là ai. Điều làm tôi lạ là nàng chẳng mất gì, còn tôi thì chẳng có ai bảo lãnh, chẳng có gì chắc chắn nếu không gặp lại nàng.
"Nàng trả mình một món khá lớn, tôi nghĩ, nhưng lại để mình nợ một món còn lớn hơn. Hay đây là một kẻ lừa đảo, lúc đầu dụ mình để rồi làm mình khánh kiệt? Các nhà buôn đâu biết nàng, họ chỉ đòi mình."
Tình yêu không đủ mạnh để ngăn tôi nghĩ những điều buồn bực ấy. Suốt một tháng trời chẳng có tin tức gì của nàng, nỗi lo của tôi mỗi ngày một lớn. Các nhà buôn sốt ruột, và tôi đã sắp phải bán hết những gì mình có để trả họ, thì một buổi sáng tôi thấy nàng quay lại, vẫn đoàn người như mọi lần.
— Ông lấy cân ra, nàng nói, cân số vàng tôi mang tới đây.
Những lời ấy xua tan nỗi sợ, làm tôi yêu nàng gấp bội. Trước khi đếm vàng, nàng hỏi tôi nhiều câu, trong đó có câu tôi đã có vợ chưa. Tôi đáp chưa, xưa nay chưa từng có. Nàng đưa vàng cho viên thái giám:
— Ông làm giúp chúng tôi xong việc này.
Viên thái giám bật cười, kéo tôi ra một chỗ để cân vàng. Trong lúc tôi cân, ông ghé tai tôi nói:
— Nhìn anh là tôi biết anh yêu bà chủ tôi. Tôi lạ là anh không dám tỏ tình với bà. Bà còn yêu anh hơn anh yêu bà đấy. Anh đừng tưởng bà cần vải của anh. Bà tới đây chỉ vì anh đã làm bà say mê, vì thế bà mới hỏi anh có vợ chưa. Anh chỉ cần nói một tiếng, muốn cưới bà là được.
— Đúng là tôi đã yêu bà từ lần đầu gặp, tôi đáp, nhưng tôi không dám mơ được bà để ý. Tôi xin trọn đời thuộc về bà, và không bao giờ quên ơn ông giúp tôi.
Tôi cân xong, đang cho vàng vào túi thì viên thái giám quay sang bà, nói rằng tôi rất hài lòng. Đó là câu hai người đã hẹn với nhau. Bà đang ngồi liền đứng dậy ra về, bảo sẽ cho viên thái giám tới, ông bảo gì thì tôi cứ làm theo.
— Hết chương 1 —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích