Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Món quà của Vua Biển

của Andrew Lang

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 17.002 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xưa có một ông lão đánh cá họ…
  2. 4:09Sao cơ! Bà không có bò à?
  3. 6:55Bà vợ đáp. Nhưng trong lúc ấy bà đang…
  4. 9:01Bài hát gì mà ngớ ngẩn thế. Xin Vua…
  5. 11:05Ông Mát-tê đáp:
  6. 13:36Câu ấy làm bà Mai-ê phật ý. Nhưng dù…
  7. 15:38Ông bảo:
  8. 17:33Chà, tâu bệ hạ, ngày đêm chúng vẫn rải…

Ngày xưa có một ông lão đánh cá họ là Cá Hồi, tên thánh là Mát-tê. Ông sống bên bờ biển lớn, chứ còn sống ở đâu được nữa? Ông có một bà vợ tên là Mai-ê, bạn tìm được tên nào hợp với bà hơn không? Mùa đông họ ở trong một túp nhà nhỏ trên bờ biển, nhưng sang xuân họ dọn ra một mỏm đá đỏ giữa biển, ở đó suốt mùa hè cho tới khi trời sang thu. Túp nhà trên mỏm đá còn nhỏ hơn túp nhà kia. Cửa cài bằng then gỗ chứ không có khoá sắt, có một cái bếp đá, một cột cờ, và trên mái có một con gà gió.

Mỏm đá tên là Ách-tô-la, chẳng rộng hơn cái quảng trường chợ trong thị trấn. Giữa những khe đá mọc một cây thanh lương trà nhỏ và bốn bụi tống quán sủi. Có trời biết làm sao chúng mọc được ở đó, có lẽ những cơn bão mùa đông đã mang chúng tới. Ngoài ra còn có mấy búi cỏ mượt như nhung, vài cây lau lưa thưa, hai khóm cúc ngải vàng, bốn khóm hoa đỏ và một khóm hoa trắng xinh xinh. Nhưng của báu của mỏm đá là ba gốc tỏi bà Mai-ê trồng trong một khe đá. Vách đá che cho chúng phía bắc, mặt trời sưởi ấm chúng phía nam. Chừng ấy nghe chẳng có bao nhiêu, nhưng với bà Mai-ê thì đủ làm một vườn rau.

Việc gì tốt cũng hay đi theo bộ ba, nên ông Mát-tê và vợ mùa xuân đánh cá hồi, mùa hè đánh cá trích, mùa đông đánh cá tuyết. Những hôm thứ bảy trời đẹp, gió thuận, họ dong buồm vào thị trấn gần nhất bán cá, chủ nhật đi lễ nhà thờ. Nhưng nhiều khi hàng tuần liền họ ở một mình trên mỏm đá Ách-tô-la, chẳng có gì để nhìn ngoài con chó nhỏ lông vàng nâu mang cái tên rất kêu là Hoàng Tử, mấy búi cỏ, mấy bụi cây với khóm hoa, những vũng biển với đàn cá, bầu trời giông bão và những con sóng xanh bạc đầu. Vì mỏm đá nằm xa đất liền, quanh đó hàng dặm chẳng có hòn đảo xanh nào, chẳng có nhà cửa nào của người, chỉ thỉnh thoảng nhô lên một mỏm đá đỏ như Ách-tô-la, ngày đêm bị bọt biển tung toé.

Ông Mát-tê và bà Mai-ê là những người chăm chỉ, cần mẫn, sống vui vẻ, bằng lòng trong túp nhà nghèo của mình. Họ thấy mình giàu lắm khi muối được đủ số thùng cá cần cho mùa đông mà vẫn còn dư chút ít, đổi lấy thuốc lá cho ông, một hai cân cà phê cho bà, trong đó trộn đầy lúa rang với rau diếp xoăn cho thêm hương vị. Ngoài ra họ còn có bánh mì, bơ, cá, một thùng bia, một vò sữa chua, còn cần gì hơn nữa? Mọi sự hẳn đã êm đẹp, nếu bà Mai-ê không mang trong lòng một nỗi khao khát thầm kín chẳng để bà yên lúc nào. Đó là làm sao có được một con bò.

Ông Mát-tê hỏi:

— Bà cần bò làm gì? Nó không bơi xa được thế, thuyền mình lại chẳng đủ to chở nó ra đây. Mà dù có được nó, mình cũng chẳng có gì cho nó ăn.

Bà Mai-ê đáp:

— Mình có bốn bụi tống quán sủi và mười sáu búi cỏ.

Ông Mát-tê cười:

— Phải, dĩ nhiên rồi. Mình còn có ba gốc tỏi nữa. Tỏi thì nuôi bò béo phải biết.

Bà vợ nói:

— Bò nào chẳng thích cá trích muối. Đến con Hoàng Tử còn thích cá.

Ông chồng đáp:

— Có thể lắm. Nhưng tôi nghĩ nuôi bò bằng cá trích muối thì con bò ấy chẳng mấy chốc thành bò đắt giá. Con Hoàng Tử thì được, nó còn giành giật miếng cuối cùng với lũ hải âu. Thôi bà ơi, bỏ chuyện con bò ra khỏi đầu đi, mình sống thế này là sung sướng lắm rồi.

Bà Mai-ê thở dài. Bà biết chồng nói đúng, nhưng bà không sao bỏ được ý nghĩ về con bò. Sữa chua pha cà phê chẳng còn ngon như mọi khi nữa. Bà nghĩ tới kem ngọt, bơ tươi, và trên đời chẳng có gì sánh được với chúng.

Một hôm, khi ông Mát-tê và vợ đang làm cá trích trên bờ, họ nghe con Hoàng Tử sủa, và chẳng mấy chốc một chiếc thuyền sơn sặc sỡ chở ba chàng trai lái về phía mỏm đá. Họ là sinh viên đi chơi thuyền, muốn kiếm cái gì ăn.

Họ gọi bà Mai-ê:

— Bà ơi, cho chúng cháu một bát sữa đông.

Bà Mai-ê thở dài:

— Chà! Giá mà tôi có thứ ấy!

Mấy cậu sinh viên nói:

— Thế thì một bình sữa tươi vậy. Nhưng đừng là sữa đã hớt kem.

Bà già thở dài còn sâu hơn:

— Phải, giá mà tôi có!

Họ hỏi:

— Sao cơ! Bà không có bò à?

Bà Mai-ê im lặng. Câu hỏi ấy xoáy vào tim bà tới mức bà chẳng trả lời được.

Ông Mát-tê đáp:

— Nhà tôi không có bò. Nhưng có cá trích hun khói ngon lắm, hai tiếng là nấu xong.

— Được, thế cũng được.

Mấy cậu sinh viên nói, rồi nằm dài ra trên mỏm đá, trong khi năm mươi con cá trích trắng bạc xoay trên xiên trước đống lửa.

Một cậu hỏi:

— Hòn đá nhỏ giữa đại dương này tên là gì thế ạ?

Ông lão đáp:

— Ách-tô-la.

Cậu sinh viên nói:

— Chà, sống trong lãnh địa của Vua Biển thì chẳng thiếu thứ gì đâu.

Ông Mát-tê không hiểu. Ông chưa bao giờ đọc Ca-lê-va-la, tập thơ cổ của người Phần Lan về các thần và các anh hùng, chẳng biết gì về các thần biển ngày xưa. Nhưng mấy cậu sinh viên giảng giải cho ông.

— Ách-ti là một ông vua quyền phép sống trong lãnh địa Ách-tô-la của mình. Ngài có một mỏm đá dưới đáy biển, lại có cả một kho đồ quý. Ngài cai quản hết thảy cá và muông thú dưới biển sâu. Ngài có những con bò đẹp nhất, những con ngựa nhanh nhất từng gặm cỏ dưới đáy đại dương. Ai được lòng Ách-ti thì chẳng mấy chốc giàu to. Nhưng giao thiệp với ngài thì phải coi chừng, vì ngài hay thay đổi, lại dễ phật ý lắm. Chỉ một hòn đá nhỏ ném xuống nước cũng có thể làm ngài giận. Lúc ấy ngài lấy lại quà đã cho, khuấy biển nổi bão, kéo thuỷ thủ xuống đáy sâu. Ách-ti còn có những thiếu nữ đẹp nhất, nâng vạt áo cho hoàng hậu Ve-la-mô của ngài. Hễ nghe tiếng nhạc là họ chải những mái tóc dài thướt tha óng ánh trong nước.

Ông Mát-tê kêu lên:

— Ồ! Các cậu đã thấy tận mắt những thứ ấy thật à?

Mấy cậu đáp:

— Coi như đã thấy. Tất cả in trong sách cả đấy, mà cái gì đã in ra thì đều là thật.

Ông Mát-tê lắc đầu:

— Tôi thì chẳng dám chắc thế.

Nhưng cá trích đã chín. Mấy cậu sinh viên ăn bằng sáu người, lại cho con Hoàng Tử ít thịt nguội tình cờ còn trên thuyền. Con Hoàng Tử sướng quá, ngồi chồm hai chân sau, kêu meo meo như mèo. Ăn xong, mấy cậu đưa ông Mát-tê một đồng bạc sáng loáng, cho ông nhồi tẩu một thứ thuốc lá đặc biệt. Rồi họ cảm ơn ông đã tiếp đãi tử tế, lên đường đi tiếp. Con Hoàng Tử tiếc họ lắm, ngồi trên bờ, mặt buồn thiu, rên ư ử chừng nào còn thấy thấp thoáng cánh buồm trắng ở đằng xa.

Bà Mai-ê chẳng nói một lời, nhưng nghĩ ngợi càng nhiều. Bà thính tai, đã ghi lòng tạc dạ chuyện về Ách-ti. "Có được một con bò tiên thì thích biết bao!" bà nghĩ bụng. "Sáng nào chiều nào cũng vắt được sữa ngon, mà chẳng phải lo cho nó ăn, lại có một cái giá gần cửa sổ để bày những bát sữa, bát sữa đông! Nhưng số mình chẳng bao giờ được thế."

Ông Mát-tê hỏi:

— Bà đang nghĩ gì thế?

— Chẳng có gì.

Bà vợ đáp. Nhưng trong lúc ấy bà đang ngẫm nghĩ về mấy câu thần chú hồi bé bà được nghe một ông già què đọc, người ta bảo đọc lên thì đánh được nhiều cá.

"Hay là mình thử xem?" bà nghĩ.

Hôm ấy là thứ bảy. Tối thứ bảy ông Mát-tê không bao giờ thả lưới cá trích, vì ông không đánh cá vào ngày chủ nhật. Thế nhưng gần tối, bà vợ nói:

— Mình thả lưới cá trích một lần này thôi.

Ông chồng đáp:

— Không được, tối nay là tối thứ bảy.

Bà nài:

— Đêm qua bão quá, mình bắt được có ít. Tối nay biển phẳng như gương, gió lại thổi hướng này thì cá trích sẽ dạt vào bờ.

Ông bảo:

— Nhưng trời tây bắc có những vệt mây dài, mà tối nay con Hoàng Tử lại ăn cỏ.

Bà già kêu lên:

— Nó không ăn mất tỏi của tôi đấy chứ?

Ông đáp:

— Không. Nhưng chiều mai, lúc mặt trời lặn, trời sẽ động.

Bà vợ nói:

— Ông nghe tôi. Mình chỉ thả một tấm lưới sát bờ thôi, thế là làm đầy được cái thùng đang dở, để mở lâu thế nó hỏng mất.

Ông già để cho bà nói xuôi, thế là họ chèo thuyền ra thả lưới. Tới chỗ nước sâu nhất, bà bắt đầu ngâm nga câu thần chú, sửa lời cho hợp với điều lòng mình khao khát:

"Hỡi Ách-ti râu dài, râu dài,
Sống nơi biển thẳm xanh ngời,
Nghe đồn kho báu tuyệt vời,
Cá vàng óng ánh là người chủ nhân.
Ngọc trai quý chẳng ai cân,
Cất trong cung điện dưới tầng biển sâu,
Đàn bò biển mượt một màu
Thung thăng gặm cỏ đồng sâu xanh rì.

Vua dòng nước khắp mọi bề,
Kho vàng của ngài, tôi chẳng xin đâu,
Ngọc trai tôi chẳng đeo vào,
Bạc kia tôi cũng chẳng cầu chút nao.
Lẻ là một, chẵn là đôi,
Vua Biển can đảm, xin ngài một bò,
Đổi lại tôi sẽ đem cho
Một mảnh trăng bạc, chút vàng mặt trời."

Ông già hỏi:

— Bà ngâm nga cái gì thế?

— Ồ, chỉ là mấy câu hát cũ cứ quanh quẩn trong đầu tôi thôi.

Bà già đáp, rồi cất cao giọng hát tiếp:

"Hỡi Ách-ti râu dài, râu dài,
Sống nơi biển thẳm xanh ngời,
Nghìn con bò của riêng người,
Xin ngài cho một, chẳng đòi thêm đâu."

Ông Mát-tê nói:

— Bài hát gì mà ngớ ngẩn thế. Xin Vua Biển thì xin cá chứ còn xin gì? Mà những bài như thế chẳng hợp ngày chủ nhật.

Bà vợ làm như không nghe thấy, cứ hát mãi một điệu ấy suốt lúc ở trên mặt nước. Ông Mát-tê ngồi chèo chiếc thuyền nặng, chẳng nghe thấy gì nữa, chỉ nghĩ tới cái tẩu nứt và thứ thuốc lá ngon. Rồi họ về đảo, chẳng bao lâu sau đi ngủ.

Nhưng cả ông Mát-tê lẫn bà Mai-ê chẳng chợp mắt được chút nào. Người thì nghĩ mình đã phạm vào ngày chủ nhật, người thì nghĩ tới con bò của Ách-ti.

Khoảng nửa đêm, ông lão đánh cá ngồi dậy, bảo vợ:

— Bà có nghe thấy gì không?

Bà đáp:

— Không.

Ông nói:

— Tôi nghĩ con gà gió trên mái quay tít thế này là điềm gở. Sắp có bão.

Bà bảo:

— Ồ, chỉ là ông tưởng tượng thôi.

Ông Mát-tê nằm xuống, nhưng chẳng mấy chốc lại ngồi dậy:

— Giờ con gà gió kêu ken két rồi kìa.

Bà gắt:

— Tưởng tượng! Ngủ đi.

Ông già cố ngủ.

Lần thứ ba ông nhảy khỏi giường, kêu lên:

— Ối! Con gà gió gào hết cỡ như có lửa trong bụng! Sắp có bão to, phải đi thu lưới thôi.

Cả hai dậy. Đêm hè tối om như đêm tháng mười, con gà gió kêu ken két, bão nổi lên tứ phía. Ra tới ngoài, họ thấy biển quanh mình trắng xoá như tuyết, bọt sóng tung qua cả nóc túp nhà. Cả đời ông Mát-tê chưa nhớ có đêm nào như thế. Hạ thuyền ra khơi cứu lưới là chuyện chẳng dám nghĩ tới. Hai vợ chồng ông lão đánh cá đứng chết lặng trên bậc cửa, bám chặt lấy khung cửa, bọt sóng tạt vào mặt.

Ông Mát-tê hậm hực:

— Tôi đã chẳng bảo bà rằng đánh cá ngày chủ nhật thì chẳng gặp may sao?

Bà vợ sợ quá, chẳng còn nghĩ tới bò của Ách-ti lần nào nữa.

Chẳng làm gì được, họ vào nhà. Mắt díp lại vì thiếu ngủ, họ ngủ say như thể chẳng có cơn biển giận nào đang gầm thét quanh ngôi nhà cô độc. Khi họ tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao, bão đã tạnh, chỉ còn những đợt sóng lừng ánh bạc dâng lên vỗ vào mỏm đá đỏ.

Bà già ghé mắt ra cửa:

— Cái gì kia nhỉ?

Ông Mát-tê đáp:

— Trông như con hải cẩu to.

Bà Mai-ê kêu lên:

— Chắc như tôi đang sống, đó là con bò!

Quả thật đó là một con bò, một con bò đỏ đẹp đẽ, béo tốt, mập mạp, trông như cả đời chỉ được ăn rau chân vịt. Nó thong thả đi lại trên bờ, chẳng thèm liếc mắt tới mấy búi cỏ đáng thương, như thể khinh thứ ăn ấy.

Ông Mát-tê không tin nổi mắt mình. Nhưng trông nó như bò, và hoá ra nó đúng là bò thật. Khi bà già bắt đầu vắt sữa, mọi bình, mọi chậu, đến cả cái gáo tát nước, chẳng mấy chốc đã đầy ắp thứ sữa ngon nhất trần đời.

Ông già nghĩ nát óc chẳng hiểu con bò từ đâu tới, rồi đi tìm tấm lưới bị mất. Đi chưa được bao xa, ông đã thấy tấm lưới bị sóng đánh dạt lên bờ, đầy cá tới mức không thấy mắt lưới đâu.

Vừa làm cá, ông Mát-tê vừa nói:

— Có con bò thì hay lắm. Nhưng mình lấy gì cho nó ăn?

— Rồi sẽ có cách.

Bà vợ nói. Và chính con bò tự tìm ra cách. Nó đi ra gặm rong biển mọc rất nhiều sát bờ, lúc nào cũng béo tốt. Ai cũng cho nó là con vật khôn ngoan, trừ con Hoàng Tử. Con Hoàng Tử cứ sủa nó, vì giờ nó đã có kẻ tranh sủng.

Từ hôm ấy, mỏm đá đỏ tràn trề sữa với sữa đông, tấm lưới nào kéo lên cũng đầy cá. Ông Mát-tê và bà Mai-ê sống sung túc thế, béo ra, mỗi ngày một giàu thêm. Bà đánh được bao nhiêu là bơ, còn ông thuê hai người giúp việc đánh cá. Biển trước mặt ông như một bể cá khổng lồ, ông cần bao nhiêu thì kéo lên bấy nhiêu. Còn con bò vẫn tự kiếm ăn. Mùa thu, khi ông Mát-tê và bà Mai-ê vào đất liền, con bò ra biển. Mùa xuân, khi họ trở lại mỏm đá, nó đã đứng đó chờ.

Mùa hè năm sau, bà Mai-ê nói:

— Mình cần một ngôi nhà khá hơn. Nhà cũ chật quá, không đủ chỗ cho mình với mấy người làm.

— Ừ.

Ông Mát-tê nói. Thế là ông xây một ngôi nhà to, cửa có khoá hẳn hoi, lại thêm một cái kho chứa cá. Ông và mấy người làm bắt được nhiều cá tới mức gửi hàng tấn cá hồi, cá trích, cá tuyết sang tận nước Nga, nước Thuỵ Điển.

Bà Mai-ê nói:

— Bao nhiêu người thế này tôi làm không xuể. Có đứa con gái giúp việc thì cũng chẳng thừa.

Ông chồng đáp:

— Thế thì thuê đi.

Thế là họ thuê một cô gái.

Rồi bà Mai-ê nói:

— Bao nhiêu người thế này mà mình có ít sữa quá. Giờ có người ở rồi, cũng chừng ấy công, nó trông được ba con bò.

Ông chồng hơi bực:

— Được thôi. Bà cứ hát cho các tiên nghe.

Câu ấy làm bà Mai-ê phật ý. Nhưng dù vậy, đêm chủ nhật bà vẫn chèo thuyền ra khơi, hát như lần trước:

"Hỡi Ách-ti râu dài, râu dài,
Sống nơi biển thẳm xanh ngời,
Nghìn con bò của riêng người,
Xin ngài cho ba, chẳng đòi thêm đâu."

Sáng hôm sau, thay vì một, có ba con bò đứng trên đảo. Con nào cũng ăn rong biển, tự kiếm ăn như con đầu tiên.

Ông Mát-tê hỏi vợ:

— Giờ bà vừa lòng chưa?

Bà đáp:

— Tôi sẽ vừa lòng lắm, nếu có hai đứa ở giúp việc, và có mấy bộ áo đẹp hơn. Ông không biết người ta gọi tôi là bà lớn sao?

— Thôi được, thôi được.

Ông chồng nói. Thế là bà Mai-ê có mấy người ở, có áo quần xứng với một bà lớn. Bà lại nói:

— Giờ mọi thứ sẽ tuyệt, nếu mình có ngôi nhà mùa hè khá hơn chút nữa. Ông có thể xây cho mình một ngôi nhà hai tầng, chở đất ra làm vườn. Rồi ông làm một cái chòi nhỏ trên kia để mình ngắm biển. Mình lại có thể thuê một anh kéo vĩ cầm tối tối kéo đàn cho mình nghe, và một chiếc tàu hơi nước nhỏ đưa mình đi lễ những hôm trời bão.

Ông Mát-tê hỏi:

— Còn gì nữa không?

Nhưng vợ muốn gì ông cũng làm. Mỏm đá Ách-tô-la thành ra sang trọng, còn bà Mai-ê thành ra oai vệ tới mức đến lũ nhím biển với cá trích cũng sửng sốt. Đến con Hoàng Tử cũng được ăn bít tết với bánh kem, cho tới khi nó tròn như cái hũ bơ.

Ông Mát-tê hỏi:

— Giờ bà vừa lòng chưa?

Bà đáp:

— Tôi sẽ vừa lòng lắm, nếu có ba mươi con bò. Nhà cửa thế này ít nhất cũng phải chừng ấy.

Ông bảo:

— Thì đi tìm các tiên.

Bà vợ ngồi chiếc tàu hơi nước mới ra khơi, hát cho Vua Biển nghe. Sáng hôm sau, ba mươi con bò đứng trên bờ, con nào cũng tự kiếm ăn. Bà nói với chồng:

— Ông biết không, ông nhà, trên cái mỏm đá khốn khổ này chật chội quá rồi. Tôi biết tìm đâu ra chỗ cho ngần ấy bò?

Ông đáp:

— Chẳng còn cách nào ngoài bơm cạn biển.

Bà gắt:

— Vớ vẩn! Ai mà bơm cạn được biển?

Ông bảo:

— Bà cứ thử bằng chiếc tàu hơi nước mới của bà, trong ấy có cái bơm đấy.

Bà Mai-ê biết rõ chồng chỉ chế giễu mình, nhưng bà vẫn nghĩ mãi về chuyện ấy. "Mình chẳng bao giờ bơm cạn được biển," bà nghĩ, "nhưng có lẽ mình lấp được nó, nếu đắp một con đê lớn. Mình có thể đổ cát đổ đá vào, làm hòn đảo rộng gấp đôi."

Bà Mai-ê chất đá đầy thuyền, ra khơi. Anh kéo đàn đi cùng, kéo hay tới mức Ách-ti, Ve-la-mô và hết thảy các cô con gái của biển đều nổi lên mặt nước nghe nhạc.

Bà Mai-ê hỏi:

— Cái gì sáng lấp lánh trong sóng kia thế?

Anh kéo đàn đáp:

— Bọt biển lấp lánh dưới nắng đấy ạ.

Bà Mai-ê ra lệnh:

— Ném đá xuống.

Đám người trên thuyền bắt đầu ném đá, tõm, tõm, bên phải bên trái, xuống đám bọt. Một hòn trúng mũi bà thị nữ đứng đầu của hoàng hậu Ve-la-mô, một hòn cào xước má chính hoàng hậu biển, hòn thứ ba rơi đánh tõm sát đầu Ách-ti, giật đứt nửa bộ râu của Vua Biển. Thế là biển động, sóng sôi sùng sục như nước sôi trong nồi.

Bà Mai-ê nói:

— Cơn gió này ở đâu ra thế?

Bà vừa dứt lời, biển đã mở ra, nuốt chửng chiếc tàu hơi nước. Bà Mai-ê chìm xuống đáy như hòn đá. Nhưng khua tay khua chân, bà nổi lên mặt nước, vớ được cây đàn của anh kéo đàn, bám vào làm phao. Cùng lúc ấy bà thấy sát bên mình cái đầu khủng khiếp của Ách-ti, chỉ còn nửa bộ râu!

Vua Biển gầm lên:

— Sao mụ ném đá vào ta?

Bà Mai-ê đáp:

— Ôi, tâu bệ hạ, tôi nhầm ạ! Bệ hạ bôi ít mỡ gấu lên râu là nó lại mọc ngay.

Vua Biển nói:

— Mụ kia, ta chẳng đã cho mụ hết mọi thứ mụ xin, mà còn hơn thế sao?

Bà đáp:

— Thật thế, thật thế, tâu bệ hạ. Đa tạ bệ hạ về mấy con bò.

Vua Biển hỏi:

— Thế vàng mặt trời và bạc mặt trăng mụ hứa với ta đâu?

Bà Mai-ê ranh mãnh đáp:

— Chà, tâu bệ hạ, ngày đêm chúng vẫn rải khắp mặt biển đấy thôi, trừ những hôm trời u ám.

Vua Biển gầm lên:

— Ta sẽ dạy cho mụ biết!

Nói rồi ngài thổi phù một cái vào cây đàn, hất bà già bay vút lên như pháo thăng thiên, rơi xuống hòn đảo của bà. Ở đó con Hoàng Tử nằm, vẫn đói meo như xưa, đang gặm xác một con quạ. Ở đó ông Mát-tê ngồi một mình trên bậc cửa túp nhà cũ, mặc chiếc áo khoác xám rách bươm, đang vá lưới. Ông kêu lên:

— Trời đất ơi, bà ơi, bà ở đâu bay về như gió lốc thế, sao người ướt sũng thế kia?

Bà Mai-ê sửng sốt nhìn quanh:

— Ngôi nhà hai tầng của mình đâu?

Ông hỏi:

— Nhà nào?

Bà đáp:

— Ngôi nhà to của mình, vườn hoa, mấy người làm, mấy đứa ở, ba mươi con bò đẹp, chiếc tàu hơi nước, và mọi thứ khác nữa?

Ông bảo:

— Bà nói lẩn thẩn rồi. Mấy cậu sinh viên làm bà mụ mị cả đầu óc. Tối qua lúc mình chèo thuyền, bà cứ hát mấy bài ngớ ngẩn, rồi tới sáng sớm bà mới ngủ được. Đêm qua có bão. Bão tạnh, tôi chẳng muốn đánh thức bà, nên chèo thuyền ra một mình cứu lưới.

Bà cãi:

— Nhưng tôi đã gặp Ách-ti.

Ông đáp:

— Bà nằm trên giường mơ những chuyện viển vông, rồi trong lúc ngủ bà đi xuống nước đấy.

Bà lại nói:

— Nhưng cây đàn đây này.

Ông bảo:

— Đàn đẹp gớm! Chỉ là cái que cũ thôi. Thôi, thôi, bà nó ạ, lần sau mình cẩn thận hơn. Đánh cá ngày chủ nhật thì chẳng bao giờ gặp may.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1910
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện của Zacharias Topelius (mất 1898), nhà văn Phần Lan viết tiếng Thuỵ Điển; dịch từ bản tiếng Anh The Sea King's Gift, Andrew Lang, The Lilac Fairy Book, 1910
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →