Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một cái tên lừng danh

Một chuyện buồn tẻ · Chương 1/7 · của Anton Chekhov

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 13.402 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ở nước Nga có một vị giáo sư danh…
  2. 3:26Còn về lối sống hiện nay của tôi, thì…
  3. 5:20Rồi bà tắt đèn, ngồi xuống cạnh bàn và…
  4. 6:16Tôi lắng nghe, máy móc ừ hữ, và có…
  5. 7:34Sao tôi lại cứ ngồi đây thế này? Ấm…
  6. 7:59Tôi chẳng thương ai bằng thương con Li-da tội…
  7. 8:43Hồi bé nó rất thích kem, và tôi thường…
  8. 10:31Mười giờ kém mười lăm tôi phải tới chỗ…

Chương 1: Một cái tên lừng danh

Ở nước Nga có một vị giáo sư danh dự tên là Ni-cô-lai Xtê-pa-nô-vích gì đó, hàm cơ mật cố vấn, có huân chương; ông có nhiều huân chương Nga và ngoại quốc đến nỗi mỗi khi phải đeo chúng vào, sinh viên gọi ông là cái điện thờ thánh tượng. Ông quen biết toàn những người quý tộc bậc nhất; ít ra là trong hai mươi lăm, ba mươi năm qua, ở nước Nga không có và chưa từng có nhà bác học lừng danh nào mà ông không quen thân. Bây giờ ông chẳng còn ai để kết bạn, nhưng nếu nói về quá khứ thì bản danh sách dài những người bạn lừng lẫy của ông khép lại bằng những cái tên như Pi-rô-gốp, Ca-vê-lin và nhà thơ Nê-cra-xốp, những người đã dành cho ông một tình bạn chân thành và nồng ấm nhất. Ông là thành viên của tất cả các trường đại học Nga và ba trường đại học nước ngoài. Và vân vân, và vân vân. Tất cả những điều ấy, cùng nhiều điều khác còn có thể kể ra nữa, làm nên cái được gọi là tên tuổi của tôi.

Cái tên của tôi nổi tiếng. Ở Nga, người biết chữ nào cũng biết nó, còn ở nước ngoài người ta nhắc tới nó trên các bục giảng, kèm thêm chữ "nổi tiếng" và "đáng kính". Nó thuộc số ít ỏi những cái tên may mắn mà chê bai hay nhắc tới vô cớ, trước công chúng hay trên báo chí, đều bị coi là thiếu lịch sự. Và như thế là phải. Bởi gắn liền với tên tôi là ý niệm về một con người lừng danh, có tài năng phong phú và chắc chắn có ích. Tôi cần cù và dai sức như lạc đà, điều ấy quan trọng, và có tài, điều ấy càng quan trọng hơn. Thêm nữa, nhân tiện xin nói, tôi là một gã có giáo dục, khiêm tốn và lương thiện. Tôi chưa bao giờ chõ mũi vào văn chương và chính trị, chưa bao giờ đi tìm tiếng tăm bằng cách bút chiến với những kẻ dốt nát, chưa bao giờ đọc diễn văn ở các bữa tiệc hay bên mộ các bạn đồng nghiệp… Nói chung, trên tên tuổi bác học của tôi không có một vết nhơ nào và nó chẳng có gì phải phàn nàn. Nó hạnh phúc.

Người mang cái tên ấy, tức là tôi, là một ông già sáu mươi hai tuổi, đầu hói, răng giả, và mắc một chứng giật cơ mặt không chữa được. Cái tên của tôi rực rỡ và đẹp đẽ bao nhiêu, thì bản thân tôi lại xám xịt và xấu xí bấy nhiêu. Đầu và tay tôi run vì yếu; cổ tôi, như cổ một nữ nhân vật của Tuốc-ghê-nhép, giống cái cán đàn công-trơ-bát, ngực lép, lưng hẹp. Khi tôi nói hay giảng bài, miệng tôi méo xệch sang một bên; khi tôi cười, khắp mặt tôi phủ đầy những nếp nhăn chết chóc của tuổi già. Cái dáng người thảm hại của tôi chẳng có gì đáng nể; có chăng là khi tôi lên cơn giật, mặt tôi mang một vẻ đặc biệt nào đó, mà hẳn ai nhìn tôi cũng nảy ra một ý nghĩ nghiêm khắc, đáng nể: "Xem chừng người này sắp chết".

Tôi vẫn giảng bài không tồi như xưa; như trước, tôi vẫn giữ được sự chú ý của người nghe suốt hai tiếng đồng hồ. Sự say mê, lối trình bày giàu chất văn và tính hài hước của tôi khiến người ta hầu như không nhận ra những khuyết điểm của giọng nói, mà giọng tôi thì khô, gắt và ngân nga như giọng một kẻ đạo đức giả. Còn viết thì tôi viết tồi. Cái mẩu nhỏ trong óc tôi phụ trách khả năng viết lách đã thôi phục vụ. Trí nhớ tôi kém đi, ý nghĩ không đủ mạch lạc, và khi trình bày chúng ra giấy, lần nào tôi cũng có cảm giác mình đã mất cái cảm quan về mối liên hệ hữu cơ giữa chúng; kết cấu đơn điệu, câu văn nghèo nàn và rụt rè. Tôi thường viết không đúng điều mình muốn: khi viết đến đoạn cuối thì không nhớ đoạn đầu. Tôi thường quên những từ thông thường, và lúc nào cũng phải tốn nhiều sức lực để tránh những câu thừa và những mệnh đề chen ngang không cần thiết trong thư từ, cả hai điều này đều là chứng cớ rõ ràng của sự suy thoái trí tuệ. Và lạ thay, bức thư càng đơn giản thì tôi càng căng thẳng khổ sở. Ngồi viết một bài báo khoa học tôi thấy mình thoải mái và thông minh hơn nhiều so với khi viết một bức thư chúc mừng hay một tờ báo cáo. Thêm điều này nữa: viết bằng tiếng Đức hay tiếng Anh với tôi lại dễ hơn bằng tiếng Nga.

Còn về lối sống hiện nay của tôi, thì trước hết tôi phải kể đến chứng mất ngủ mà dạo này tôi mắc phải. Nếu có ai hỏi tôi: "Bây giờ cái gì là nét chính, nét căn bản trong sự tồn tại của ông?", tôi sẽ đáp: "Mất ngủ". Như trước, theo thói quen, đúng nửa đêm tôi cởi quần áo đi nằm. Tôi ngủ thiếp đi nhanh, nhưng tới gần hai giờ thì thức giấc, với cảm giác như chưa ngủ chút nào. Đành phải ra khỏi giường thắp đèn. Một hai tiếng đồng hồ tôi đi từ góc này sang góc kia trong phòng, ngắm những bức tranh và những tấm ảnh quen thuộc từ lâu. Đi chán thì tôi ngồi vào bàn. Tôi ngồi bất động, chẳng nghĩ gì và chẳng thấy mong muốn gì; nếu trước mặt có cuốn sách thì tôi máy móc kéo nó lại gần và đọc chẳng chút hứng thú. Thế đấy, mới đây trong một đêm tôi máy móc đọc hết cả một cuốn tiểu thuyết có cái tên kỳ cục: "Con chim én đã hót những gì". Hoặc, để giữ cho đầu óc có việc, tôi bắt mình đếm tới một nghìn, hay hình dung gương mặt một bạn đồng nghiệp nào đó rồi bắt đầu nhớ lại: ông ta vào làm năm nào và trong hoàn cảnh nào? Tôi thích lắng nghe những tiếng động. Khi thì cách tôi hai phòng, con gái tôi là Li-da nói mê điều gì đó thật nhanh, khi thì vợ tôi cầm nến đi qua phòng khách và thế nào cũng đánh rơi hộp diêm, khi thì cái tủ đang khô nứt kêu kẽo kẹt hay ngọn bấc đèn bỗng kêu u u, và chẳng hiểu sao tất cả những tiếng động ấy đều làm tôi xao động.

Không ngủ được ban đêm nghĩa là mỗi phút đều ý thức rằng mình không bình thường, vì vậy tôi nóng ruột chờ buổi sáng và ban ngày, khi tôi có quyền không ngủ. Phải qua rất nhiều thời gian mỏi mệt con gà trống ngoài sân mới gáy. Đó là sứ giả báo tin vui đầu tiên của tôi. Nó vừa gáy là tôi đã biết rằng một giờ nữa dưới nhà người gác cổng sẽ thức dậy, ho lụ khụ một cách cáu kỉnh, và đi lên cầu thang để làm gì đó. Rồi bên ngoài cửa sổ không khí sẽ nhạt dần, ngoài phố vang lên tiếng người…

Ngày của tôi bắt đầu bằng việc vợ tôi bước vào. Bà vào phòng tôi, mặc váy lót, tóc chưa chải nhưng đã rửa mặt, thơm mùi nước hoa, với cái vẻ như vô tình mà vào, và lần nào cũng nói đúng một câu:

— Xin lỗi, tôi vào một phút thôi… Ông lại không ngủ à?

Rồi bà tắt đèn, ngồi xuống cạnh bàn và bắt đầu nói. Tôi chẳng phải nhà tiên tri, nhưng tôi biết trước bà sẽ nói gì. Sáng nào cũng y như vậy. Thường thì sau khi hỏi han lo lắng về sức khoẻ của tôi, bà bỗng nhớ tới đứa con trai sĩ quan của chúng tôi đang đóng ở Vác-sa-va. Sau ngày hai mươi mỗi tháng, chúng tôi gửi cho nó năm mươi rúp, và đó chủ yếu là đề tài cho câu chuyện của chúng tôi.

Vợ tôi thở dài:

— Dĩ nhiên là chúng ta vất vả, nhưng chừng nào nó chưa đứng vững hẳn trên đôi chân mình thì chúng ta có bổn phận phải giúp nó. Thằng bé ở nơi đất khách, lương ít… Mà nếu ông muốn, tháng sau ta gửi cho nó không phải năm mươi mà bốn mươi thôi. Ông nghĩ sao?

Kinh nghiệm hằng ngày lẽ ra đã có thể khiến vợ tôi tin rằng chi tiêu không vì chúng tôi hay bàn tới mà ít đi, nhưng vợ tôi không công nhận kinh nghiệm, và sáng nào cũng đều đặn kể chuyện viên sĩ quan của chúng tôi, rồi chuyện bánh mì, tạ ơn Chúa, đã rẻ đi, còn đường thì lên giá hai kô-pếch, và tất cả bằng cái giọng như đang báo cho tôi một tin mới.

Tôi lắng nghe, máy móc ừ hữ, và có lẽ vì thức trắng đêm mà những ý nghĩ lạ lùng, vô ích xâm chiếm tôi. Tôi nhìn vợ mình và ngạc nhiên như một đứa trẻ. Tôi ngơ ngác tự hỏi: lẽ nào người đàn bà già nua, rất béo, vụng về này, với vẻ đờ đẫn của nỗi lo toan vụn vặt và nỗi sợ thiếu miếng ăn, với ánh mắt mờ đi vì lúc nào cũng nghĩ tới nợ nần và túng thiếu, chỉ biết nói về chi tiêu và chỉ biết mỉm cười khi thấy thứ gì rẻ, lẽ nào người đàn bà này đã từng là cô Va-ri-a mảnh mai, người mà tôi yêu say đắm vì trí óc tốt, sáng suốt, vì tâm hồn trong sạch, vì sắc đẹp, và, như Ô-ten-lô yêu Đét-đê-mô-na, vì "lòng thương cảm" với khoa học của tôi? Lẽ nào đây chính là Va-ri-a, vợ tôi, người đã có lần sinh cho tôi một đứa con trai?

Tôi căng mắt nhìn vào gương mặt của bà già phục phịch, vụng về ấy, đi tìm ở bà cô Va-ri-a của tôi, nhưng của quá khứ bà chỉ còn giữ lại nỗi lo cho sức khoẻ của tôi, và cái lối gọi đồng lương của tôi là lương của chúng ta, cái mũ của tôi là mũ của chúng ta. Nhìn bà tôi thấy đau lòng, và để an ủi bà chút ít, tôi để mặc bà muốn nói gì thì nói, thậm chí im lặng cả khi bà phán xét người khác không công bằng, hay trách tôi không chịu mở phòng khám và không xuất bản sách giáo khoa.

Câu chuyện của chúng tôi bao giờ cũng kết thúc như nhau. Vợ tôi bỗng nhớ ra tôi chưa uống trà, và hoảng lên.

Bà vừa đứng dậy vừa nói:

— Sao tôi lại cứ ngồi đây thế này? Ấm xa-mô-va đặt trên bàn lâu rồi, mà tôi cứ ngồi đây tán chuyện. Lạy Chúa, sao dạo này tôi đãng trí thế!

Bà đi nhanh ra, rồi dừng lại ở cửa để nói:

— Chúng ta còn nợ Ê-gô năm tháng lương. Ông có biết không? Đã bao lần tôi nói là không được để nợ lương người làm! Trả mỗi tháng mười rúp dễ hơn nhiều so với trả năm mươi rúp cho năm tháng một lúc!

Ra khỏi cửa rồi, bà lại dừng lại và nói:

— Tôi chẳng thương ai bằng thương con Li-da tội nghiệp của chúng ta. Con bé học ở nhạc viện, lúc nào cũng giao du với chỗ tử tế, thế mà ăn mặc thì có trời biết. Cái áo lông ấy ra phố còn thấy xấu hổ. Giá nó là con nhà ai khác thì còn chẳng sao, đằng này ai cũng biết cha nó là giáo sư lừng danh, là cơ mật cố vấn!

Và sau khi trách tôi bằng chính tên tuổi và phẩm hàm của tôi, rốt cuộc bà cũng đi ra. Ngày của tôi bắt đầu như thế. Và nó tiếp diễn cũng chẳng hay ho gì hơn.

Khi tôi đang uống trà thì con gái tôi là Li-da bước vào, mặc áo lông, đội mũ, cầm tập nhạc, đã sẵn sàng đi tới nhạc viện. Nó hai mươi hai tuổi. Trông nó trẻ hơn tuổi, xinh, và hơi giống vợ tôi hồi trẻ. Nó hôn dịu dàng lên thái dương và lên tay tôi rồi nói:

— Con chào bố. Bố khoẻ không?

Hồi bé nó rất thích kem, và tôi thường phải dắt nó tới hiệu bánh kẹo. Với nó kem là thước đo mọi điều tốt đẹp. Muốn khen tôi, nó nói: "Bố ơi, bố là kem sữa". Ngón tay này nó gọi là ngón hạt dẻ cười, ngón kia là ngón kem sữa, ngón nữa là ngón mâm xôi, vân vân. Thường thì khi buổi sáng nó tới chào tôi, tôi đặt nó lên đùi, hôn những ngón tay nó và nói:

— Kem sữa… hạt dẻ cười… chanh…

Bây giờ, vì kỷ niệm xưa, tôi vẫn hôn những ngón tay Li-da và lẩm bẩm: "Hạt dẻ cười… kem sữa… chanh…", nhưng điều đó ở tôi chẳng còn như xưa. Tôi lạnh như kem, và tôi thấy xấu hổ. Khi con gái vào và chạm môi lên thái dương tôi, tôi giật mình như bị ong đốt vào thái dương, gượng cười và quay mặt đi. Từ khi tôi mắc chứng mất ngủ, trong óc tôi có một câu hỏi cắm chặt như cây đinh: con gái tôi thường thấy tôi, một ông già, một người nổi tiếng, đỏ mặt khổ sở vì nợ tiền người hầu; nó thấy những món nợ vặt hay bắt tôi bỏ dở công việc, đi từ góc này sang góc kia hàng mấy tiếng liền mà nghĩ ngợi, vậy sao nó chưa lần nào giấu mẹ tới chỗ tôi và thì thầm: "Bố ơi, đây là đồng hồ của con, vòng tay, hoa tai, váy áo… Bố đem cầm hết đi, bố đang cần tiền…"? Thấy tôi và mẹ nó, vì một thứ tình cảm giả dối, cố giấu mọi người cảnh nghèo của mình, sao nó không từ bỏ cái thú đắt tiền là học nhạc? Tôi sẽ chẳng nhận đồng hồ, vòng tay hay bất cứ sự hy sinh nào, Chúa giữ cho tôi khỏi thế, tôi đâu cần những thứ ấy.

Tiện thể tôi nhớ tới con trai tôi, viên sĩ quan ở Vác-sa-va. Nó là người thông minh, trung thực và tỉnh táo. Nhưng với tôi như thế là chưa đủ. Tôi nghĩ, nếu tôi có một người cha già và nếu tôi biết có những lúc ông xấu hổ vì cảnh nghèo của mình, thì tôi sẽ nhường chỗ làm sĩ quan cho người khác, còn mình thì đi làm thuê. Những ý nghĩ như thế về con cái đầu độc tôi. Để làm gì chứ? Nuôi trong lòng một ác cảm với những người bình thường vì họ không phải là anh hùng thì chỉ có kẻ hẹp hòi hay cay độc mới làm. Nhưng thôi, nói thế đủ rồi.

Mười giờ kém mười lăm tôi phải tới chỗ những chàng trai thân mến của tôi để giảng bài. Tôi mặc quần áo và đi trên con đường mà tôi đã quen ba mươi năm nay và với tôi nó có lịch sử của riêng nó. Đây là ngôi nhà lớn màu xám có hiệu thuốc; ngày xưa ở đây có một ngôi nhà nhỏ, trong đó có một quán bia; trong quán bia ấy tôi đã nghiền ngẫm luận án của mình và viết bức thư tình đầu tiên cho Va-ri-a. Tôi viết bằng bút chì, trên một tờ giấy có tiêu đề "Bệnh sử". Đây là cửa hàng tạp hoá nhỏ; ngày xưa chủ là một ông bé nhỏ hay bán chịu thuốc lá cho tôi, rồi sau đó một bà béo, thương sinh viên vì "đứa nào cũng có mẹ"; bây giờ ngồi đó là một lão lái buôn tóc đỏ, một người rất thờ ơ, uống trà bằng ấm đồng. Còn đây là cái cổng trường đại học u ám, lâu ngày không sửa sang; người gác cổng buồn chán mặc áo lông cừu, cây chổi, những đống tuyết… Với một cậu bé tươi tắn mới từ tỉnh lẻ tới, tưởng rằng ngôi đền khoa học thì thật là một ngôi đền, cái cổng như thế không thể để lại ấn tượng lành mạnh. Nói chung, sự cũ nát của các toà nhà đại học, những hành lang u ám, những bức tường ám khói, sự thiếu ánh sáng, vẻ ảm đạm của bậc thềm, mắc áo và ghế dài, trong lịch sử chủ nghĩa bi quan ở Nga, chiếm một trong những vị trí đầu tiên trong hàng các nguyên nhân dẫn tới… Đây là khu vườn của chúng tôi. Từ hồi tôi còn là sinh viên đến giờ, hình như nó chẳng tốt lên mà cũng chẳng tệ đi. Tôi không thích nó. Sẽ khôn ngoan hơn nhiều nếu thay những cây đoạn ho lao, những bụi keo vàng và những bụi tử đinh hương lưa thưa, cắt tỉa, ở đây mọc những cây thông cao và những cây sồi tốt. Người sinh viên, mà tâm trạng phần lớn là do khung cảnh tạo nên, ở từng bước chân, nơi mình học, phải được thấy trước mắt toàn những gì cao cả, mạnh mẽ và thanh nhã… Chúa giữ cho cậu khỏi những cái cây còi cọc, những ô cửa kính vỡ, những bức tường xám và những cánh cửa bọc vải sơn rách bươm.

Khi tôi tới gần bậc thềm của mình, cửa bật mở, và người đón tôi là ông bạn đồng sự lâu năm, người cùng tuổi và cùng tên với tôi, bác gác cổng Ni-cô-lai. Để tôi vào xong, bác hắng giọng và nói:

— Rét quá, bẩm quan lớn!

— Hết chương 1 —

Mục lục Một chuyện buồn tẻ

  1. 1Một cái tên lừng danh12 phút
  2. 2Giờ giảngĐang thu âm
  3. 3Những vị khách và cô con nuôiĐang thu âm
  4. 4Bữa trưa trong nhàĐang thu âm
  5. 5Những buổi tối ở nhà Ca-ti-aĐang thu âm
  6. 6Mùa hèĐang thu âm
  7. 7Đêm chim sẻ và thành phố lạĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1889
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Скучная история, 1889
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →