Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một đêm Ả Rập ở quảng trường Ma-đi-xơn

của O. Henry

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 13.050 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Phi-líp mang thư buổi chiều tới cho Các-xơn Sam-mơ…
  2. 1:23Ông rầu rĩ lắng nghe những cơn gió tháng…
  3. 2:52Đúng nửa tiếng sau, Phi-líp đã làm xong bổn…
  4. 5:03Tuyệt! Plu-mơ sủa lên. Ăn theo từng món hả?…
  5. 8:27Tôi có nhớ cái tên ấy, Sam-mơ nói. Hình…
  6. 10:29Chẳng bao lâu người ta cho tôi thất nghiệp.…
  7. 13:15Một lần nữa Sam-mơ lại đi tới đi lui…
  8. 14:27Anh thấy... nó... thế nào? Ông chậm rãi hỏi.

Phi-líp mang thư buổi chiều tới cho Các-xơn Sam-mơ trong căn hộ của ông gần quảng trường. Ngoài những thư từ thường lệ, có hai món cùng mang dấu bưu điện nước ngoài.

Một gói đựng bức ảnh của một người đàn bà. Gói kia đựng một bức thư dài dằng dặc, và Sam-mơ cúi xuống đọc nó rất lâu, chăm chú. Bức thư là của một người đàn bà khác. Trong đó có những mũi tên tẩm độc, được nhúng ngọt ngào vào mật ong, gắn lông bằng những lời bóng gió về người đàn bà trong ảnh.

Sam-mơ xé bức thư ra thành nghìn mảnh, rồi bắt đầu đi tới đi lui trên tấm thảm đắt tiền như muốn giẫm cho nó mòn đi. Một con thú rừng khi bị nhốt vào chuồng thì cũng hành động như thế. Và một con người cũng hành động như thế khi bị nhốt trong một khu rừng ngờ vực.

Một lúc sau, cơn bồn chồn dịu xuống. Tấm thảm chẳng phải là tấm thảm thần. Ông có thể đi dọc nó được năm mét. Còn ba nghìn dặm thì vượt quá sức giúp đỡ của nó.

Phi-líp hiện ra. Anh ta không bao giờ bước vào. Lúc nào anh ta cũng hiện ra, như một vị thần đèn được tra dầu kĩ lưỡng.

— Thưa ông, ông dùng bữa tối ở nhà hay ra ngoài ạ? Anh ta hỏi.

— Ở nhà, Sam-mơ nói. Nửa tiếng nữa.

Ông rầu rĩ lắng nghe những cơn gió tháng Giêng thổi qua con phố vắng tanh, rền rĩ như một cây kèn trôm-bon.

— Khoan đã, ông nói với vị thần đèn đang biến mất. Lúc đi về qua đầu quảng trường, tôi thấy rất nhiều người đứng xếp hàng ở đó. Có một người đứng trên một cái gì đó, đang nói. Sao những người ấy lại đứng xếp hàng, và họ ở đó làm gì?

— Họ là những người vô gia cư, thưa ông, Phi-líp nói. Người đứng trên cái thùng kia tìm chỗ ngủ qua đêm cho họ. Người ta đi qua dừng lại nghe, rồi cho ông ấy tiền. Thế là có bao nhiêu tiền thì ông ấy gửi được bấy nhiêu người tới nhà trọ. Vì thế họ mới đứng xếp hàng, ai tới trước thì được đi ngủ trước.

— Đến lúc dọn bữa tối, Sam-mơ nói, hãy đưa một trong những người ấy tới đây. Ông ta sẽ ăn tối với tôi.

— Người n-n-nào ạ... Phi-líp mở lời, lần đầu tiên lắp bắp trong suốt thời gian làm việc ở đây.

— Chọn bừa một người, Sam-mơ nói. Anh có thể để ý xem ông ta có tương đối tỉnh táo không. Còn sạch sẽ được chút nào thì cũng chẳng ai trách ông ta. Thế thôi.

Các-xơn Sam-mơ mà đóng vai vị hoàng đế Ca-líp trong truyện Nghìn lẻ một đêm thì là chuyện hiếm có. Nhưng đêm ấy ông thấy những liều thuốc giải sầu thông thường đều vô hiệu. Ông phải có một cái gì đó ngông cuồng, khác thường, một cái gì đậm đà hương vị Ả Rập, thì mới vơi được nỗi buồn.

Đúng nửa tiếng sau, Phi-líp đã làm xong bổn phận của tên nô lệ cây đèn thần. Bồi bàn của nhà hàng dưới nhà đã mang lên một bữa tối ngon lành. Chiếc bàn ăn bày cho hai người sáng rực vui vẻ dưới những ngọn nến chụp hồng.

Và giờ đây Phi-líp, như đang dẫn vào một vị hồng y giáo chủ, hay như đang áp giải một tên trộm, đưa vào người khách đang run rẩy được lôi ra từ hàng người ăn xin chờ chỗ ngủ.

Người ta hay gọi những người như thế là những con tàu đắm. Nếu dùng phép so sánh ấy ở đây, thì phải nói đó là một con tàu bị bỏ trôi vì một trận hoả hoạn. Trên cái xác tàu trôi dạt ấy vẫn còn le lói một chút lửa cháy âm ỉ. Mặt mũi chân tay ông ta vừa được rửa, một nghi thức mà Phi-líp nhất quyết đòi, như một đài tưởng niệm những phép tắc đã bị giết chết. Ông ta đứng dưới ánh nến, một vết gợn giữa những đồ đạc trang nhã của căn hộ. Mặt ông trắng bệch ốm yếu, râu ria lởm chởm gần tới tận mắt, màu đỏ như bộ lông của một con chó săn Ai-len. Chiếc lược của Phi-líp đã không trị nổi mái tóc nâu nhạt bết lại từ lâu, mang đúng hình cái mũ ông thường đội. Đôi mắt ông đầy một vẻ thách thức tuyệt vọng và láu cá, như mắt con chó hoang bị những kẻ hành hạ dồn vào góc. Chiếc áo khoác tồi tàn cài khuy lên tận cổ, nhưng phía trên vẫn ló ra một phân cổ áo cứu vãn thể diện. Khi Sam-mơ đứng dậy khỏi ghế ở bên kia chiếc bàn tròn, dáng điệu ông khách lạ lùng thay chẳng có chút gì ngượng nghịu.

— Nếu ông vui lòng, chủ nhà nói, tôi rất mừng được ông dùng bữa tối cùng.

— Tên tôi là Plu-mơ, vị khách từ ngoài đường nói, giọng khàn khàn và gây gổ. Nếu ông cũng giống tôi, thì ông cũng thích biết tên người mình ngồi ăn cùng.

— Tôi đang định nói tiếp, Sam-mơ hơi vội vàng nói, rằng tên tôi là Sam-mơ. Mời ông ngồi phía đối diện.

Plu-mơ, với bộ lông xù, hơi khuỵu gối cho Phi-líp đẩy ghế vào dưới người mình. Ông ta có vẻ như đã từng ngồi ở những bàn tiệc có người hầu hạ. Phi-líp bày ra món cá trổng và ô liu.

— Tuyệt! Plu-mơ sủa lên. Ăn theo từng món hả? Được lắm, hỡi vị chúa tể vui tính của thành Bát-đa. Tôi sẽ là nàng San-ha-rát kể chuyện cho ông nghe, từ đầu cho tới lúc xỉa răng. Ông là vị Ca-líp đầu tiên đậm chất phương Đông thứ thiệt mà tôi gặp từ đầu mùa đông tới giờ. May mắn làm sao! Mà tôi đứng thứ bốn mươi ba trong hàng đấy. Tôi vừa đếm xong thì sứ giả đáng mến của ông tới mời tôi dự tiệc. Khả năng tôi kiếm được giường ngủ đêm nay cũng ngang với khả năng tôi được làm tổng thống khoá tới. Ông muốn nghe chuyện đời buồn bã của tôi theo kiểu nào, thưa ngài Ha-run An Ra-sít? Mỗi món ăn một chương, hay cả cuốn một lần khi tới xì gà với cà phê?

— Có vẻ tình cảnh này chẳng mới mẻ gì với ông, Sam-mơ mỉm cười nói.

— Thề có chòm râu cằm của nhà tiên tri, không đâu! Ông khách đáp. New York đầy những Ha-run An Ra-sít rẻ tiền, nhiều như bọ chét ở thành Bát-đa. Đã hai chục lần tôi bị người ta chĩa một bữa ăn lên nòng vào đầu bắt kể chuyện đời rồi. Ở New York này mà gặp được ai cho không ông cái gì à? Họ đánh vần tính tò mò với lòng từ thiện bằng cùng một bộ chữ ghép. Khối người sẽ cho ông một hào với một đĩa mì xào. Vài người sẽ đóng vai Ca-líp đãi ông món thịt thăn hảo hạng. Nhưng ai cũng sẽ đứng sát bên ông cho tới khi vắt được cả cuốn tự truyện của ông ra, có đủ chú thích, phụ lục và những mảnh chưa công bố. Ồ, tôi biết phải làm gì khi thấy đồ ăn tiến về phía mình ở cái thành Bát-đa bên đường tàu điện ngầm này. Tôi cúi rạp đầu xuống mặt nhựa đường ba lần, rồi sẵn sàng kể chuyện để đổi lấy bữa tối. Tôi tự nhận là dòng dõi của chú bé trong bài hát đồng dao, phải hát lên mới được ăn cháo.

— Tôi không hỏi chuyện đời ông, Sam-mơ nói. Tôi nói thật với ông, chỉ vì một ý thích bất chợt mà tôi cho mời một người lạ tới ăn tối với mình. Tôi xin cam đoan ông sẽ không phải khổ sở vì tính tò mò của tôi.

— Ồ, vớ vẩn! Ông khách kêu lên, hăng hái xử lí bát xúp. Tôi chẳng phiền chút nào. Tôi đúng là một tờ tạp chí phương Đông bìa đỏ, các trang đã rọc sẵn mỗi khi vị Ca-líp đi dạo. Thật ra, cánh chúng tôi trong hàng chờ giường ngủ có một thứ biểu giá chung cho mấy chuyện kiểu này. Lúc nào cũng có người dừng lại hỏi vì sao chúng tôi sa sút tới thế. Đổi một cái bánh kẹp với một cốc bia, tôi bảo họ là tại rượu chè. Đổi thịt bò muối với bắp cải và một tách cà phê, tôi kể chuyện ông chủ nhà nhẫn tâm, sáu tháng nằm viện, mất việc. Một miếng bít tết thăn với hai hào rưỡi tiền giường thì được nghe tấn bi kịch phố Uôn, cơ nghiệp bị cuốn sạch rồi sa sút dần dần. Đây là bữa tiệc đầu tiên thuộc loại này mà tôi vấp phải. Tôi chẳng có câu chuyện nào xứng với nó. Thế này nhé, ông Sam-mơ, để đáp lại bữa này, tôi sẽ kể ông nghe sự thật, nếu ông chịu nghe. Nó sẽ khó tin hơn những chuyện bịa ra.

Một giờ sau, vị khách Ả Rập ngả người ra sau, thở một hơi dài mãn nguyện, trong khi Phi-líp mang cà phê với xì gà tới và dọn bàn.

— Ông có bao giờ nghe nói tới Sê-rát Plu-mơ không? Ông ta hỏi, với một nụ cười kì lạ.

— Tôi có nhớ cái tên ấy, Sam-mơ nói. Hình như ông ấy là một hoạ sĩ khá nổi tiếng mấy năm trước.

— Năm năm trước, ông khách nói. Rồi tôi chìm xuống như một cục chì. Tôi là Sê-rát Plu-mơ đây! Bức chân dung cuối cùng tôi vẽ bán được hai nghìn đô-la. Sau đó thì vẽ không lấy tiền tôi cũng chẳng tìm được ai ngồi cho tôi vẽ.

— Có chuyện gì thế? Sam-mơ không nén được, hỏi.

— Chuyện buồn cười lắm, Plu-mơ đáp, giọng chua chát. Chính tôi cũng chưa bao giờ hiểu hết. Có một dạo tôi nổi như cái nút bấc. Tôi chen được vào giới thượng lưu, đơn đặt hàng tới tới tấp. Báo chí gọi tôi là hoạ sĩ thời thượng. Rồi những chuyện buồn cười bắt đầu xảy ra. Mỗi khi tôi vẽ xong một bức, người ta tới xem, rồi thì thầm với nhau, nhìn nhau một cách kì quặc.

Ông ta kể tiếp:

— Chẳng bao lâu tôi phát hiện ra trục trặc là ở đâu. Tôi có biệt tài làm hiện ra trên gương mặt bức chân dung cái tính cách thầm kín của người mẫu. Tôi chẳng biết mình làm thế nào. Tôi vẽ những gì tôi thấy. Nhưng tôi biết chính cái tài ấy đã hại tôi. Có những người ngồi mẫu nổi giận đùng đùng, từ chối nhận tranh. Tôi vẽ chân dung một quý bà thượng lưu rất đẹp và rất được hâm mộ. Khi bức tranh vẽ xong, chồng bà nhìn nó với một vẻ mặt khác thường, và tuần sau ông ta đâm đơn li dị.

— Tôi còn nhớ một trường hợp, một chủ ngân hàng có tiếng ngồi cho tôi vẽ. Trong khi bức chân dung còn đang trưng ở xưởng vẽ của tôi, một người quen của ông ta tới xem. "Trời đất ơi", ông ấy nói, "trông ông ta thật sự như thế này à?" Tôi bảo người ta đều cho là bức tranh giống hệt. "Trước giờ tôi chưa bao giờ để ý cái vẻ ấy quanh đôi mắt ông ta", ông ấy nói, "tôi nghĩ tôi phải xuống phố chuyển tài khoản ngân hàng thôi." Ông ấy xuống phố thật, nhưng tài khoản đã đi mất, mà ngài chủ ngân hàng cũng đi mất.

— Chẳng bao lâu người ta cho tôi thất nghiệp. Người ta đâu muốn những điều đê tiện thầm kín của mình bị phơi ra trong một bức tranh. Họ có thể mỉm cười, có thể nhăn mặt mà lừa ông được, nhưng bức tranh thì không. Tôi chẳng nhận được đơn đặt hàng nào nữa, đành phải bỏ nghề. Tôi làm hoạ sĩ minh hoạ cho báo một thời gian, rồi làm cho một xưởng in đá, nhưng ở đó việc của tôi cũng gây ra rắc rối y như thế. Hễ tôi vẽ theo một tấm ảnh, thì bức vẽ của tôi lại làm hiện ra những nét tính cách và những vẻ mặt không hề thấy trong ảnh, nhưng tôi đoán chúng có thật ở người mẫu. Khách hàng làm ầm ĩ, nhất là các bà, và tôi chẳng bao giờ giữ được việc lâu. Thế là tôi bắt đầu gục cái đầu mệt mỏi vào lòng Ông Rượu để tìm an ủi. Rồi chẳng mấy chốc tôi đã đứng trong hàng chờ giường miễn phí, và kể chuyện hư cấu bằng miệng để đổi lấy của bố thí giữa các chợ đồ ăn. Lời kể trung thực có làm ngài mệt mỏi không, hỡi đức Ca-líp? Tôi có thể bật sang phím thảm hoạ phố Uôn nếu ngài thích hơn, nhưng cái ấy phải có một giọt nước mắt, mà tôi e sau bữa tối ngon lành này tôi chẳng nặn ra nổi một giọt nào.

— Không, không, Sam-mơ nói, giọng tha thiết. Ông làm tôi thích thú lắm. Có phải bức chân dung nào của ông cũng để lộ ra một nét xấu xa nào đó, hay có những bức đã qua được thử thách của ngọn bút kì lạ ấy mà không hề hấn gì?

— Có chứ, Plu-mơ nói. Trẻ con thường là thế. Khá nhiều phụ nữ, và cũng đủ nhiều đàn ông. Ông biết đấy, đâu phải ai cũng xấu. Khi người ta tốt thì tranh cũng tốt. Như tôi đã nói, tôi không giải thích được, nhưng tôi kể ông nghe sự thật.

Trên bàn viết của Sam-mơ có bức ảnh ông nhận được hôm ấy theo đường thư nước ngoài. Mười phút sau, ông đã nhờ Plu-mơ vẽ một bức phác hoạ theo tấm ảnh ấy bằng phấn màu. Sau một tiếng đồng hồ, người hoạ sĩ đứng dậy, vươn vai mệt mỏi.

— Xong rồi, ông ta ngáp. Ông thứ lỗi vì tôi làm lâu quá. Tôi mải mê với công việc. Trời ơi, mệt quá đi mất. Đêm qua tôi không có giường ngủ, ông biết đấy. Chắc giờ thì phải chúc ngủ ngon thôi, hỡi Đấng Thống Lĩnh Các Tín Đồ!

Sam-mơ tiễn ông ta ra tận cửa và dúi vào tay ông ta mấy tờ giấy bạc.

— Ồ! Tôi nhận đấy, Plu-mơ nói. Tất cả những thứ ấy đều nằm trong cái sự sa cơ. Cảm ơn ông. Và cảm ơn bữa tối rất ngon. Đêm nay tôi sẽ ngủ trên nệm lông và mơ thấy thành Bát-đa. Mong là sáng mai nó không hoá ra chỉ là giấc mơ. Vĩnh biệt, hỡi vị Ca-líp tuyệt vời nhất!

Một lần nữa Sam-mơ lại đi tới đi lui bồn chồn trên tấm thảm. Nhưng ông đi ở chỗ xa nhất mà căn phòng cho phép, cách chiếc bàn có bức phác hoạ bằng phấn màu. Hai lần, ba lần, ông định lại gần nó, nhưng không làm nổi. Ông nhìn thấy những màu xám vàng, vàng óng và nâu, nhưng quanh nó có một bức tường do nỗi sợ hãi của ông dựng lên, giữ ông ở xa. Ông ngồi xuống, cố bình tĩnh lại. Rồi ông bật dậy, rung chuông gọi Phi-líp.

— Trong toà nhà này có một hoạ sĩ trẻ, ông nói, một anh Rai-nơ-man nào đó. Anh có biết căn hộ của anh ta ở đâu không?

— Tầng trên cùng, phía trước ạ, thưa ông, Phi-líp nói.

— Lên mời anh ta vui lòng xuống đây gặp tôi vài phút.

Rai-nơ-man tới ngay. Sam-mơ tự giới thiệu.

— Anh Rai-nơ-man, ông nói, trên chiếc bàn đằng kia có một bức phác hoạ nhỏ bằng phấn màu. Tôi sẽ rất mừng nếu anh cho tôi biết ý kiến về nó, xét về giá trị nghệ thuật, và xét như một bức tranh.

Người hoạ sĩ trẻ đi tới bên bàn, cầm bức phác hoạ lên. Sam-mơ quay nửa người đi, tì vào lưng một chiếc ghế.

— Anh thấy... nó... thế nào? Ông chậm rãi hỏi.

— Về mặt hội hoạ, người hoạ sĩ nói, tôi khen nó không hết lời. Đây là tác phẩm của một bậc thầy, táo bạo, tinh tế và chân thực. Tôi hơi khó hiểu một chút. Đã nhiều năm nay tôi chưa thấy bức tranh phấn màu nào đẹp được bằng một nửa thế này.

— Cái gương mặt cơ, anh bạn. Nhân vật ấy, người mẫu ấy, anh thấy thế nào?

— Gương mặt ấy, Rai-nơ-man nói, là gương mặt của một thiên thần của Chúa. Tôi xin phép hỏi đó là...

— Vợ tôi! Sam-mơ hét lên, quay phắt lại, chồm tới người hoạ sĩ đang sửng sốt, nắm chặt tay anh, đập thùm thụp vào lưng anh. Cô ấy đang đi du lịch châu Âu. Cầm lấy bức phác hoạ ấy đi, cậu bé, mà vẽ bức tranh để đời của cậu dựa theo nó, còn giá cả cứ để tôi lo.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Madison Square Arabian Night, O. Henry, in trong tuyển tập The Trimmed Lamp
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →