Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, có một nhà buôn lớn giàu tới tám trăm triệu đồng. Ông sinh được một cậu con trai, đặt tên là Ma-ha-đa-na-ca, nghĩa là Cậu Lắm Tiền. Nhưng ông chẳng dạy con điều gì cả, vì ông bảo:
— Con ta mà học hành thì chỉ thêm mệt xác.
Ngoài ca hát, nhảy múa, ăn uống tiệc tùng, cậu chẳng biết gì khác. Khi cậu tới tuổi trưởng thành, cha mẹ cưới cho cậu một người vợ xứng đôi, rồi qua đời. Cha mẹ mất rồi, chàng trai bị đám ăn chơi, đám bợm rượu, đám cờ bạc vây quanh, phung phí hết sạch gia tài bằng đủ mọi cách tiêu xài hoang phí. Rồi chàng đi vay tiền, không trả nổi, bị chủ nợ đòi ráo riết.
Cuối cùng chàng nghĩ: "Sống mà làm gì nữa? Ngay trong kiếp này mà mình đã như biến thành một kẻ khác rồi. Chết còn hơn."
Thế là chàng bảo các chủ nợ:
— Các ông mang giấy nợ theo, đi với tôi. Nhà tôi có một kho báu chôn ở bờ sông Hằng, tôi sẽ trả cho các ông bằng kho báu ấy.
Các chủ nợ đi theo chàng. Chàng làm bộ chỉ chỗ này chỗ kia, như thể đang tìm chỗ chôn kho báu, nhưng thật ra trong bụng đã định nhảy xuống sông cho chết đuối. Cuối cùng, chàng chạy ào tới, gieo mình xuống sông Hằng. Dòng nước xiết cuốn chàng đi, chàng kêu cứu thảm thiết.
Thuở ấy, bậc Đại Sĩ sinh làm một con nai. Nai đã rời đàn, sống một mình gần khúc quanh của dòng sông, trong một lùm cây sa-la mọc xen với những cây xoài trổ hoa tuyệt đẹp. Bộ da của nai mang màu một tấm vàng đánh bóng. Bốn chân như được quét sơn mài. Đuôi như đuôi bò rừng. Đôi sừng như những vòng xoắn bằng bạc. Đôi mắt sáng như ngọc được mài nhẵn. Nai quay mõm về phía nào thì như một nắm vải đỏ hướng về phía ấy.
Chừng nửa đêm, nai nghe tiếng kêu cứu thảm thiết, nghĩ: "Ta nghe tiếng người. Ta còn sống thì không để người ấy chết. Ta sẽ cứu mạng anh ta."
Rời chỗ nằm trong bụi rậm, nai chạy xuống bờ sông, cất giọng ân cần gọi:
— Này anh kia! Đừng sợ, tôi sẽ cứu sống anh.
Rồi nai rẽ dòng nước, bơi tới, đặt chàng lên lưng, đưa vào bờ, mang về chỗ mình ở. Nai cho chàng ăn trái cây rừng suốt hai ba ngày. Sau đó nai bảo:
— Này anh, giờ tôi sẽ đưa anh ra khỏi khu rừng này, đặt anh lên đường về Ba-la-nại, anh cứ bình an mà đi. Nhưng tôi xin anh, đừng vì tham tiền mà đi nói với nhà vua hay với một ông lớn nào rằng ở chỗ này chỗ nọ có một con nai vàng.
Chàng trai hứa sẽ làm theo lời nai dặn. Nhận lời hứa của chàng rồi, bậc Đại Sĩ cõng chàng trên lưng, mang ra tới đường về Ba-la-nại, rồi quay về.
Đúng ngày chàng về tới Ba-la-nại, sáng sớm, hoàng hậu Khê-ma nằm mơ thấy một con nai màu vàng giảng đạo cho mình nghe. Hoàng hậu nghĩ: "Nếu trên đời không có con vật như thế, ta đã chẳng mơ thấy. Hẳn là phải có. Ta sẽ tâu với nhà vua."
Rồi hoàng hậu tới tâu vua:
— Tâu đại vương, thiếp khao khát được nghe một con nai vàng giảng đạo. Nếu được nghe, thiếp sẽ sống. Bằng không, thiếp chẳng sống nổi.
Vua an ủi hoàng hậu:
— Nếu ở cõi người có con vật như thế, nàng sẽ được như ý.
Rồi vua cho mời các vị bà-la-môn tới, hỏi:
— Trên đời có nai lông vàng không?
— Tâu bệ hạ, có ạ.
Vua cho đặt lên lưng một con voi trang hoàng lộng lẫy một túi nghìn đồng tiền, đựng trong một cái hộp bằng vàng. Ai báo tin về con nai vàng, vua sẵn lòng ban cho người ấy túi nghìn đồng, cái hộp vàng, lại thêm cả con voi ấy hoặc một con voi tốt hơn. Vua sai khắc mấy câu lên một tấm bảng vàng, trao cho một vị quan trong triều, bảo đi rao khắp dân trong thành. Mấy câu ấy như sau:
— Ai báo cho ta tin về con nai ấy, con nai quý nhất trong loài nai, sẽ được thưởng những người hầu xinh đẹp và một ngôi làng trù phú.
Vị quan cầm tấm bảng vàng, cho rao khắp kinh thành. Đúng lúc ấy, chàng trai con nhà buôn đang đi vào Ba-la-nại. Nghe lời rao, chàng tới gặp vị quan, nói:
— Tôi có thể báo cho nhà vua tin về con nai ấy. Xin ngài đưa tôi vào gặp nhà vua.
Vị quan xuống voi, dẫn chàng vào trước mặt vua, tâu:
— Tâu bệ hạ, người này nói có thể báo tin cho bệ hạ về con nai ấy.
— Có thật thế không, anh kia?
— Tâu đại vương, thật ạ. Xin đại vương ban cho thần phần thưởng ấy. Thần xin báo tin về con nai quý nhất trong loài nai. Xin đại vương ban cho thần những người hầu xinh đẹp và một ngôi làng trù phú.
Nghe lời kẻ bạn phản trắc ấy, vua mừng lắm, hỏi:
— Thế thì nói đi, con nai ấy ở đâu?
— Tâu đại vương, ở chỗ này chỗ nọ.
Rồi chàng chỉ đường cho mọi người đi. Vua cùng đông đảo tuỳ tùng theo kẻ phản bội dẫn đường tới nơi. Tới nơi, chàng ta bảo:
— Xin đại vương cho quân dừng lại.
Khi quân lính đã dừng, chàng ta đưa tay chỉ, nói:
— Con nai vàng ở chỗ kia kìa, trong lùm cây sa-la và cây xoài đang trổ hoa đằng kia, chỗ mặt đất đỏ rực như son ấy.
Nghe vậy, vua bảo các quan:
— Đừng để con nai chạy thoát. Mau cho người cầm khí giới vây kín lùm cây.
Quân lính làm theo, rồi hò hét ầm ĩ. Vua cùng một số người đứng riêng ra một chỗ, kẻ kia cũng đứng không xa.
Bậc Đại Sĩ nghe tiếng động, nghĩ: "Đây là tiếng của một đạo quân đông đảo. Ta phải coi chừng." Nai đứng dậy, nhìn khắp đám đông, thấy chỗ nhà vua đứng. Nai nghĩ: "Chỗ nhà vua đứng, ta sẽ được an toàn. Ta phải tới đó." Rồi nai chạy về phía nhà vua.
Thấy nai chạy tới, vua nghĩ: "Con vật khoẻ như voi thế này sẽ quật ngã mọi thứ trên đường nó chạy. Ta sẽ lắp tên vào cung doạ nó. Nếu nó định chạy trốn, ta sẽ bắn cho nó yếu đi mà bắt." Thế là vua giương cung, đứng đối mặt với đức Bồ Tát.
Vua tiến lên, cung đã giương, tên đã lắp. Bấy giờ nai trông thấy vua, từ xa cất tiếng gọi:
— Hỡi đức vua, vị chúa tể của những người đánh xe, xin hãy đứng yên! Xin đừng bắn tôi! Ai đã báo cho đức vua biết rằng con nai này ở đây?
Nghe giọng nói ngọt ngào như mật của nai, vua mê mẩn, buông cung, đứng yên đầy kính cẩn. Bậc Đại Sĩ đi tới gần vua, đứng sang một bên, trò chuyện vui vẻ với vua. Cả đạo quân cũng buông khí giới, kéo tới đứng vây quanh nhà vua. Bấy giờ bậc Đại Sĩ hỏi lại vua, giọng ngọt ngào như tiếng chuông vàng lanh canh:
— Ai đã báo cho đức vua biết rằng con nai này ở đây?
Đúng lúc ấy, kẻ độc ác kia tiến lại gần hơn, đứng ngay chỗ nghe được. Vua chỉ vào hắn, nói:
— Kẻ đầy tội lỗi đứng đằng kia, bạn hiền của ta ạ, chính hắn đã báo cho ta biết con nai ở đây.
Nghe vậy, bậc Đại Sĩ trách người bạn phản trắc, rồi nói với nhà vua:
— Trên đời có nhiều người đúng như câu tục ngữ: cứu một khúc gỗ trôi sông còn hơn cứu một kẻ như ngươi.
Nghe vậy, vua hỏi:
— Hỡi nai, ngươi đang trách ai thế? Một người, một con thú, hay một con chim? Ta sợ hãi khôn cùng khi nghe ngươi vừa nói tiếng người.
Bậc Đại Sĩ đáp:
— Tâu đại vương, tôi không trách thú, cũng chẳng trách chim, mà trách một con người. Tôi đã cứu hắn một lần, khi hắn sắp chết đuối giữa dòng nước lũ cuồn cuộn cuốn hắn đi. Và giờ đây tôi gặp nguy chính vì việc ấy. Kết bạn với kẻ xấu, rồi ắt sẽ phải hối hận.
Nghe vậy, vua nổi giận với gã kia:
— Sao? Được giúp đỡ như thế mà không biết ơn! Ta sẽ bắn chết hắn!
Rồi vua nói:
— Ta sẽ buông mũi tên bốn cánh này, xuyên thẳng vào tim hắn! Hãy cho kẻ làm điều ác phải chết, kẻ phản trắc được giúp đỡ như thế mà chẳng mảy may biết ơn!
Bấy giờ bậc Đại Sĩ nghĩ: "Ta không muốn hắn phải chết vì ta." Rồi nai nói:
— Tâu đại vương, kẻ ngu dại ấy thật đáng hổ thẹn! Nhưng người hiền không ai tán thành việc giết chóc. Xin hãy tha cho kẻ khốn khổ ấy đi, và ban cho hắn phần thưởng, giữ trọn lời đã hứa. Còn tôi, tôi xin giúp đỡ đại vương khi đại vương cần.
Nghe vậy, vua mừng lắm, ngợi khen nai:
— Con nai này quả thật hiền lành, không muốn lấy ác trả ác. Hãy tha cho kẻ khốn khổ ấy! Ta ban cho hắn phần thưởng, giữ trọn mọi lời ta đã hứa. Còn ngươi, ngươi muốn đi đâu thì đi, chúc ngươi thuận buồm xuôi gió!
Bậc Đại Sĩ nói:
— Tâu đại vương, người ta thường miệng nói một đằng, tay làm một nẻo. Tiếng kêu của chó rừng và của chim chóc, người ta hiểu được dễ dàng. Nhưng lời nói của con người, tâu đức vua, lại khó hiểu hơn nhiều. Một người có thể nghĩ: đây là bạn ta, là bạn đồng hành, là người thân của ta. Nhưng rồi tình bạn mất đi, và thường thì lòng thù ghét, mối oán hận lại bắt đầu.
Nghe vậy, vua đáp:
— Hỡi chúa nai, đừng nghĩ rằng ta là hạng người như thế. Ta sẽ không nuốt lời đã hứa ban cho ngươi một điều, dù có phải mất cả vương quốc đi nữa. Hãy tin ta.
Rồi vua cho nai chọn một điều ước. Bậc Đại Sĩ nhận điều ước ấy, và xin rằng: muôn loài, bắt đầu từ chính mình, đều được sống yên ổn, không gặp hiểm nguy. Vua ban cho điều ước ấy, rồi đưa nai về thành Ba-la-nại. Vua cho trang hoàng kinh thành, trang điểm cho cả bậc Đại Sĩ, rồi mời nai giảng đạo cho hoàng hậu nghe.
Bậc Đại Sĩ giảng đạo cho hoàng hậu, rồi cho cả nhà vua và triều đình, bằng giọng nói của người ngọt ngào như mật. Nai khuyên vua giữ vững mười đức của bậc làm vua, an ủi dân chúng, rồi trở về rừng, sống giữa những đàn nai.
Vua cho đánh trống đi khắp kinh thành, rao rằng:
— Ta ban cho muôn loài được sống yên ổn!
Từ đó trở đi, không ai còn dám giơ tay hại một con thú hay một con chim nào.
Rồi các đàn nai kéo nhau ra ăn lúa của người ta, không ai dám xua đuổi. Dân chúng kéo tới tụ tập trong sân cung điện mà kêu ca. Cả người thôn quê lẫn người thành thị đều tới tâu vua:
— Lũ nai đang ăn hết lúa của chúng thần, xin nhà vua ngăn chuyện ấy lại!
Nghe vậy, vua nói:
— Dù dân có muốn hay không, dù vương quốc của ta có mất đi, ta cũng không thể làm hại loài nai, mà ta đã hứa cho được sống yên lành. Dân chúng có thể bỏ ta mà đi hết, quyền vua của ta có thể mất, nhưng điều ước ta đã ban cho chúa nai, ta không bao giờ nuốt lời.
Nghe nhà vua nói vậy, dân chúng chẳng biết nói gì thêm, đành ra về. Câu chuyện lan truyền khắp nơi. Bậc Đại Sĩ nghe được, bèn tập hợp hết các đàn nai lại, căn dặn:
— Từ nay về sau, các con không được ăn lúa của người ta nữa.
Rồi nai nhắn tới mọi người, bảo ai nấy cắm một tấm bảng làm dấu trên ruộng của mình. Mọi người làm theo. Từ đó cho tới tận ngày nay, thấy dấu ấy là nai không ăn lúa nữa.
Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: chàng con nhà buôn thuở ấy là Đề-bà-đạt-đa, nhà vua là A-nan, còn con nai vàng chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích