Chương 1: Túp lều bên chỗ nuôi ong
Sau bữa tiệc mừng tên thánh với tám món ăn và những câu chuyện bất tận, vợ người được mừng tên thánh là Ôn-ga Mi-khai-lốp-na đi ra vườn. Bổn phận phải luôn mỉm cười và nói chuyện, tiếng bát đĩa lanh canh, sự đần độn của người ở, những quãng nghỉ dài giữa các món, và chiếc áo nịt chị mặc để giấu khách việc mình đang có mang, đã làm chị mệt đến kiệt sức. Chị muốn đi thật xa khỏi ngôi nhà, ngồi trong bóng mát và nghỉ ngơi với những ý nghĩ về đứa con mà khoảng hai tháng nữa chị sẽ sinh. Chị đã quen với việc những ý nghĩ ấy đến với chị khi từ con đường lớn rợp cây chị rẽ trái vào lối mòn hẹp. Ở đây, trong bóng râm dày của những cây mận và anh đào, những cành khô cào vào vai và cổ chị, mạng nhện vương lên mặt, và trong ý nghĩ chị lớn dần lên hình ảnh một con người bé nhỏ chưa rõ là trai hay gái, đường nét còn mờ mờ, và chị bắt đầu có cảm giác như không phải mạng nhện mà chính con người bé nhỏ ấy đang âu yếm cù vào mặt và cổ mình. Còn khi ở cuối lối mòn hiện ra hàng rào thưa, và sau đó là những tổ ong bụng tròn lợp ngói, khi trong không khí bất động, ngưng đọng bắt đầu thoang thoảng mùi cỏ khô và mùi mật ong, và nghe tiếng ong vo ve hiền lành, thì con người bé nhỏ ấy hoàn toàn chiếm lấy Ôn-ga Mi-khai-lốp-na. Chị ngồi xuống chiếc ghế nhỏ cạnh túp lều đan bằng cành liễu và bắt đầu suy nghĩ.
Lần này chị cũng đi đến chiếc ghế nhỏ, ngồi xuống và bắt đầu nghĩ. Nhưng trong trí tưởng tượng của chị, thay cho con người bé nhỏ, hiện lên những con người lớn mà chị vừa rời đi. Chị rất bứt rứt vì chị, bà chủ nhà, đã bỏ khách. Và chị nhớ lại trong bữa tiệc, chồng chị là Pi-ốt Đmi-tri-tsơ và cậu chị là Ni-cô-lai Ni-cô-la-ích đã tranh cãi về toà bồi thẩm, về báo chí và về việc học của phụ nữ. Chồng chị như mọi khi tranh cãi để khoe với khách sự bảo thủ của mình, mà chủ yếu là để không đồng ý với người cậu mà anh không ưa. Còn người cậu thì cãi lại anh và bắt bẻ từng lời anh nói để cho những người dự tiệc thấy rằng ông, dù đã năm mươi chín tuổi, vẫn giữ được sự tươi trẻ của tâm hồn và sự tự do của tư tưởng. Và chính Ôn-ga Mi-khai-lốp-na đến cuối bữa cũng không nhịn được mà bắt đầu vụng về bênh vực các khoá học cho phụ nữ, không phải vì những khoá học ấy cần được bênh vực, mà đơn giản vì chị muốn chọc tức chồng, người mà theo chị là bất công. Khách khứa mệt mỏi vì cuộc tranh cãi ấy, nhưng ai cũng thấy cần phải xen vào, và họ nói rất nhiều, dù chẳng ai quan tâm chút nào đến toà bồi thẩm hay việc học của phụ nữ…
Ôn-ga Mi-khai-lốp-na ngồi ở phía bên này hàng rào, cạnh túp lều. Mặt trời nấp sau những đám mây, cây cối và không khí u ám như trước cơn mưa, nhưng dù vậy trời vẫn nóng và oi bức. Đám cỏ cắt dưới gốc cây hôm trước ngày lễ thánh Phê-rô nằm đó chưa dọn, buồn bã, lốm đốm những bông hoa đã héo, toả ra một mùi ngọt lợ nặng nề. Lặng im. Sau hàng rào ong vo ve đều đều…
Bỗng có tiếng chân và tiếng người. Có ai đó đang theo lối mòn đi về phía chỗ nuôi ong.
Một giọng phụ nữ nói:
— Oi quá! Ông nghĩ sao, trời có mưa không?
Một giọng đàn ông rất quen đáp, uể oải:
— Có mưa đấy, người đẹp của tôi, nhưng không trước đêm đâu. Sẽ có một trận mưa tốt.
Ôn-ga Mi-khai-lốp-na nghĩ nếu chị vội nấp vào túp lều thì người ta sẽ không thấy chị mà đi qua, và chị sẽ không phải nói chuyện và gượng cười. Chị vén váy, cúi xuống bước vào túp lều. Lập tức mặt, cổ và tay chị bị một luồng không khí nóng và ngột ngạt như hơi nước phả vào. Nếu không có sự ngột ngạt và cái mùi ngạt thở của bánh mì lúa mạch đen, thìa là và cành liễu, thì ở đây, dưới mái rơm và trong bóng mờ, thật tuyệt để trốn khách và nghĩ về con người bé nhỏ. Ấm cúng và yên tĩnh.
Giọng phụ nữ nói:
— Ở đây có một chỗ xinh quá! Ta ngồi đây đi, ông Pi-ốt Đmi-tri-tsơ.
Ôn-ga Mi-khai-lốp-na nhìn qua khe hở giữa hai cành cây. Chị trông thấy chồng mình là Pi-ốt Đmi-tri-tsơ và cô khách Liu-bốt-tsca Sê-le, một cô gái mười bảy tuổi mới tốt nghiệp trường nữ học. Pi-ốt Đmi-tri-tsơ, mũ đẩy ra sau gáy, uể oải và lười nhác vì uống nhiều trong bữa tiệc, đi lững thững cạnh hàng rào và lấy chân gom cỏ khô thành đống. Liu-bốt-tsca hồng hào vì nóng và, như mọi khi, xinh xắn, đứng chắp tay sau lưng, theo dõi những cử động lười nhác của tấm thân to lớn, đẹp đẽ của anh.
Ôn-ga Mi-khai-lốp-na biết chồng mình được phụ nữ ưa, và chị không thích thấy anh ở cạnh họ. Chẳng có gì đặc biệt trong việc Pi-ốt Đmi-tri-tsơ lười nhác gom cỏ để ngồi với Liu-bốt-tsca mà tán chuyện vặt. Cũng chẳng có gì đặc biệt trong việc cô Liu-bốt-tsca xinh xắn nhìn anh hiền lành. Nhưng dù sao Ôn-ga Mi-khai-lốp-na vẫn cảm thấy bực mình với chồng, vừa sợ hãi, vừa thích thú vì giờ chị có thể nghe trộm.
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ nói, ngồi phịch xuống cỏ và vươn vai:
— Ngồi đi, cô nàng mê hồn. Thế. Nào, kể cho tôi nghe chuyện gì đi.
— Còn lâu! Tôi kể thì ông lại ngủ mất.
— Tôi mà ngủ ư? Lạy thánh A-la! Làm sao tôi ngủ được khi có đôi mắt thế này đang nhìn tôi?
Trong lời của chồng, và trong việc anh ngồi ưỡn ra, mũ đẩy ra sau gáy trước mặt cô khách, cũng chẳng có gì đặc biệt. Anh được phụ nữ nuông chiều, biết mình được họ ưa, và khi giao tiếp với họ, anh có một giọng điệu riêng mà ai cũng bảo là hợp với anh. Với Liu-bốt-tsca anh cư xử cũng y như với mọi phụ nữ khác. Nhưng dù sao Ôn-ga Mi-khai-lốp-na vẫn ghen.
Im lặng một lúc, Liu-bốt-tsca bắt đầu:
— Ông nói cho tôi nghe với, có thật người ta bảo ông sắp phải ra toà không?
— Tôi à? Phải, sắp ra toà… Bị liệt vào hàng kẻ ác rồi, người đẹp của tôi.
— Nhưng vì sao?
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ ngáp:
— Chẳng vì sao cả, thế thôi… phần nhiều vì chính trị. Cuộc đấu tranh giữa phái tả và phái hữu. Tôi, kẻ ngu dân và bảo thủ, đã dám dùng trong một văn bản chính thức những lời lẽ xúc phạm những ông Glát-xtôn không bao giờ sai lầm như ông thẩm phán hoà giải khu vực của chúng ta là Cu-dơ-ma Gri-gô-ri-ê-vích Vô-xtơ-ri-a-cốp và ông Vla-đi-mia Páp-lô-vích Vla-đi-mi-rốp.
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ lại ngáp lần nữa, rồi nói tiếp:
— Ở chỗ chúng ta có cái lệ là cô có thể chê bai mặt trời, mặt trăng, bất cứ thứ gì cô muốn, nhưng Chúa giữ cho cô đừng có đụng đến bọn tự do! Chúa giữ cho cô! Kẻ tự do là cái cây nấm khô bẩn thỉu mà nếu cô lỡ chạm ngón tay vào, nó sẽ phụt vào cô cả một đám bụi.
— Thế ở chỗ ông đã xảy ra chuyện gì?
— Chẳng có gì đặc biệt. Cả một đám cháy lớn bùng lên vì một chuyện vặt vô cùng. Một ông giáo nào đó, một kẻ còm cõi gốc con nhà gác chuông, nộp đơn lên Vô-xtơ-ri-a-cốp kiện một ông chủ quán rượu, tố ông này xúc phạm mình bằng lời nói và hành động ở chỗ công cộng. Xét mọi bề thì cả ông giáo lẫn ông chủ quán đều say bí tỉ, và cả hai đều cư xử tồi tệ như nhau. Nếu có xúc phạm, thì dù sao cũng là xúc phạm lẫn nhau. Vô-xtơ-ri-a-cốp lẽ ra nên phạt cả hai vì gây mất trật tự rồi đuổi ra khỏi phòng, thế thôi. Nhưng ở chỗ chúng ta thì sao? Ở chỗ chúng ta, đứng hàng đầu bao giờ cũng không phải là con người hay sự việc, mà là cái nhãn hiệu. Ông giáo, dù là đồ vô lại đến đâu, bao giờ cũng đúng, vì ông ta là thầy giáo. Còn ông chủ quán thì bao giờ cũng có tội, vì ông ta là chủ quán, là phú nông. Vô-xtơ-ri-a-cốp kết án giam ông chủ quán, ông này kháng cáo lên hội đồng thẩm phán. Hội đồng long trọng y án của Vô-xtơ-ri-a-cốp. Thế là tôi giữ ý kiến riêng… Hơi nóng nảy một chút… Thế thôi.
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ nói bình thản, với giọng mỉa mai hờ hững. Thật ra phiên toà sắp tới làm anh rất lo lắng. Ôn-ga Mi-khai-lốp-na nhớ lại khi anh trở về từ phiên họp xui xẻo ấy, anh đã cố hết sức giấu người nhà rằng anh thấy nặng nề và không hài lòng với chính mình. Là người thông minh, anh không thể không cảm thấy rằng trong ý kiến riêng của mình anh đã đi quá xa, và anh đã phải dối trá biết bao để giấu cảm giác ấy với chính mình và với mọi người! Bao nhiêu câu chuyện vô ích, bao nhiêu lời càu nhàu, bao nhiêu tiếng cười giả tạo trước những điều chẳng buồn cười! Còn khi biết mình bị đưa ra toà, anh bỗng mệt mỏi và nản lòng, bắt đầu ngủ kém, hay đứng bên cửa sổ gõ ngón tay lên kính hơn thường lệ. Và anh xấu hổ không dám thú nhận với vợ rằng mình thấy nặng nề, còn chị thì bực mình…
Liu-bốt-tsca hỏi:
— Nghe nói ông vừa ở tỉnh Pôn-ta-va về phải không?
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ đáp:
— Phải. Hôm kia tôi mới về.
— Chắc ở đó đẹp lắm?
— Đẹp. Thậm chí rất đẹp. Phải nói với cô là tôi đến đúng mùa cắt cỏ, mà ở xứ Ukraina mùa cắt cỏ là thời thơ mộng nhất. Ở đây chúng tôi có ngôi nhà lớn, khu vườn lớn, nhiều người và nhiều chuyện lăng xăng, nên cô chẳng thấy người ta cắt cỏ thế nào, ở đây mọi thứ trôi qua chẳng ai để ý. Còn ở đó, trang trại của tôi có mười lăm đê-xi-a-tin đồng cỏ phơi ra như trên lòng bàn tay: đứng ở cửa sổ nào cũng thấy thợ cắt cỏ. Ngoài đồng cắt cỏ, trong vườn cắt cỏ, chẳng có khách, cũng chẳng lăng xăng, nên chẳng muốn cô cũng chỉ thấy, nghe và cảm thấy mỗi mùa cắt cỏ. Ngoài sân và trong phòng thơm mùi cỏ khô, từ rạng đông đến hoàng hôn tiếng lưỡi hái vang lên. Nói chung xứ Ukraina là một miền đất dễ thương. Cô có tin không, khi tôi uống nước ở những cái giếng có cần vọt, và uống thứ vốt-ca tồi trong những quán trọ, khi những buổi chiều yên ả vọng đến tôi tiếng vĩ cầm và tiếng trống lục lạc của người Ukraina, thì một ý nghĩ quyến rũ cứ vẫy gọi tôi: về ngồi lì ở trang trại của mình mà sống ở đó, chừng nào còn sống được, cho xa những phiên họp này, những câu chuyện thông minh, những người đàn bà ưa triết lý, những bữa tiệc dài dằng dặc…
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ không nói dối. Anh thấy nặng nề và quả thật muốn được nghỉ ngơi. Và anh đi tỉnh Pôn-ta-va chỉ để khỏi phải nhìn thấy phòng làm việc của mình, người ở, người quen, và mọi thứ có thể nhắc anh nhớ đến lòng tự ái bị tổn thương và những sai lầm của mình.
Liu-bốt-tsca bỗng nhảy bật dậy và kinh hãi xua tay.
Cô ré lên:
— Ôi, ong, ong! Nó đốt bây giờ!
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ nói:
— Thôi nào, nó không đốt đâu! Cô nhát thế!
Liu-bốt-tsca kêu lên, ngoái nhìn con ong, rồi đi nhanh trở lại:
— Không, không, không!
Pi-ốt Đmi-tri-tsơ đi theo cô, nhìn theo cô với vẻ cảm động và buồn bã. Có lẽ nhìn cô, anh nghĩ đến trang trại của mình, đến sự cô đơn, và ai biết được, có khi còn nghĩ rằng giá vợ anh là cô gái này, trẻ trung, trong trắng, tươi tắn, không bị các khoá học làm hư hỏng, không mang thai, thì anh sẽ sống ở trang trại ấm áp và ấm cúng biết bao…
Khi tiếng người và tiếng chân đã lặng, Ôn-ga Mi-khai-lốp-na ra khỏi túp lều và đi về nhà. Chị muốn khóc. Chị đã ghen dữ dội. Chị hiểu rằng Pi-ốt Đmi-tri-tsơ mệt mỏi, không hài lòng với chính mình và xấu hổ, mà khi xấu hổ thì người ta trốn tránh trước hết những người thân và thổ lộ với người dưng. Chị cũng hiểu rằng Liu-bốt-tsca chẳng có gì nguy hiểm, cũng như tất cả những người đàn bà đang uống cà phê trong nhà lúc này. Nhưng nói chung mọi thứ đều khó hiểu, đáng sợ, và Ôn-ga Mi-khai-lốp-na đã có cảm giác như một nửa Pi-ốt Đmi-tri-tsơ không còn thuộc về chị nữa…
Chị lẩm bẩm, cố hiểu cơn ghen và nỗi bực mình của mình với chồng:
— Anh ấy không có quyền! Anh ấy hoàn toàn không có quyền. Mình sẽ nói hết với anh ấy ngay bây giờ!
Chị quyết định ngay bây giờ phải tìm chồng mà nói hết với anh: thật ghê tởm, ghê tởm vô cùng khi anh được những người đàn bà khác ưa và cứ tìm kiếm điều đó như tìm ma-na trên trời. Thật bất công và không lương thiện khi anh đem cho người dưng những gì thuộc quyền của vợ anh, giấu vợ tâm hồn và lương tâm của mình để mở chúng ra với gương mặt xinh xắn đầu tiên gặp được. Vợ anh đã làm gì xấu với anh? Chị có lỗi gì? Rốt cuộc, chị đã chán ngấy những lời dối trá của anh từ lâu: anh lúc nào cũng làm dáng, làm duyên, nói không đúng điều mình nghĩ, và cố tỏ ra không phải là con người thật của mình, không phải là con người anh phải là. Dối trá để làm gì? Nó có hợp với một người tử tế không? Nếu anh dối trá, thì anh xúc phạm cả mình lẫn những người anh dối, và không tôn trọng điều mà anh dối. Lẽ nào anh không hiểu rằng nếu anh làm dáng và làm bộ ở ghế thẩm phán, hay ngồi trong bữa tiệc mà bàn về đặc quyền của nhà cầm quyền chỉ để chọc tức người cậu, lẽ nào anh không hiểu rằng chính vì thế mà anh coi rẻ cả toà án, cả bản thân mình, cả tất cả những ai nghe và nhìn anh?
Ra đến con đường lớn rợp cây, Ôn-ga Mi-khai-lốp-na làm ra vẻ như đang đi lo việc nhà. Trên hiên, đàn ông đang uống rượu mùi và ăn nhắm bằng quả mọng. Một người trong số họ, viên dự thẩm, một người béo, đã đứng tuổi, hay pha trò và nói đùa, có lẽ đang kể một chuyện tiếu lâm không nên kể, vì thấy bà chủ nhà, ông ta bỗng lấy tay bịt đôi môi dày lại, trợn mắt và ngồi thụp xuống. Ôn-ga Mi-khai-lốp-na không ưa những viên chức huyện. Chị không thích những bà vợ vụng về, kiểu cách của họ, những chuyện ngồi lê đôi mách, những cuộc thăm viếng liên miên, sự xu nịnh của họ trước chồng chị, người mà tất cả họ đều căm ghét. Còn giờ đây, khi họ đang uống, đã no nê và chưa có ý định về, chị cảm thấy sự có mặt của họ mệt mỏi đến não nề. Nhưng để khỏi tỏ ra thiếu niềm nở, chị mỉm cười thân thiện với viên dự thẩm và giơ ngón tay doạ ông ta. Chị đi qua phòng lớn và phòng khách, mỉm cười, với vẻ như đang đi ra lệnh và sai bảo việc gì. Chị nghĩ: "Chúa đừng để ai giữ mình lại!" Nhưng chính chị lại buộc mình dừng lại ở phòng khách, để vì phép lịch sự mà nghe một chàng trai đang ngồi chơi dương cầm. Đứng một phút, chị kêu lên: "Hay lắm, hay lắm, anh Gioóc-giơ!", vỗ tay hai cái, rồi đi tiếp.
Chị tìm thấy chồng trong phòng làm việc. Anh ngồi bên bàn, nghĩ ngợi điều gì đó. Mặt anh nghiêm khắc, đăm chiêu và có vẻ có lỗi. Đây đã không còn là Pi-ốt Đmi-tri-tsơ tranh cãi trong bữa tiệc mà khách khứa biết, mà là một người khác, mệt mỏi, có lỗi và không hài lòng với chính mình, người mà chỉ một mình vợ anh biết. Có lẽ anh vào phòng làm việc để lấy thuốc lá. Trước mặt anh là hộp thuốc mở, đầy thuốc lá, và một tay anh thò vào ngăn kéo. Đang lấy thuốc thì anh khựng lại như thế.
Ôn-ga Mi-khai-lốp-na thấy thương anh. Rõ như ban ngày là người đàn ông này đang day dứt, không tìm được chỗ yên, có lẽ đang vật lộn với chính mình. Ôn-ga Mi-khai-lốp-na lặng lẽ đến bên bàn. Muốn tỏ ra rằng mình không nhớ chuyện tranh cãi trong bữa tiệc và đã hết giận, chị đóng hộp thuốc lại và bỏ vào túi áo bên cho chồng.
Chị nghĩ: "Nói gì với anh ấy bây giờ? Mình sẽ nói rằng dối trá cũng như rừng: càng vào sâu càng khó ra. Mình sẽ nói: anh đã sa đà vào vai diễn giả dối của mình và đi quá xa rồi. Anh đã xúc phạm những người quý mến anh và chẳng làm gì hại anh. Anh hãy đi xin lỗi họ, hãy tự cười mình, và anh sẽ thấy nhẹ nhõm. Còn nếu anh muốn yên tĩnh và cô đơn, thì ta cùng đi khỏi đây."
Gặp ánh mắt vợ, Pi-ốt Đmi-tri-tsơ bỗng khoác lên mặt vẻ mặt anh có trong bữa tiệc và ngoài vườn, dửng dưng và hơi giễu cợt, ngáp một cái rồi đứng dậy.
Anh nhìn đồng hồ, nói:
— Giờ đã hơn năm giờ. Nếu khách rủ lòng thương mà về lúc mười một giờ, thì chúng ta cũng còn phải chờ sáu tiếng nữa. Vui quá đi chứ, khỏi phải nói!
Và vừa huýt sáo gì đó, anh chậm rãi đi ra khỏi phòng làm việc với dáng đi đường bệ quen thuộc của mình. Nghe thấy anh bước đường bệ qua phòng lớn, rồi qua phòng khách, cười đường bệ vì điều gì đó, và nói với chàng trai đang chơi đàn: "Hay-y! Hay-y!" Chẳng mấy chốc tiếng bước chân anh lặng đi: có lẽ anh đã ra vườn. Và không còn là ghen tuông hay bực bội nữa, mà là một nỗi căm ghét thật sự đối với những bước chân ấy, tiếng cười giả tạo và giọng nói ấy xâm chiếm Ôn-ga Mi-khai-lốp-na. Chị đến bên cửa sổ nhìn ra vườn. Pi-ốt Đmi-tri-tsơ đã đi trên con đường rợp cây. Một tay đút túi, tay kia búng ngón, đầu hơi ngả ra sau, anh đi đường bệ, lắc lư, với vẻ như rất hài lòng cả về mình, cả về bữa tiệc, cả về sự tiêu hoá, cả về thiên nhiên…
Trên con đường rợp cây xuất hiện hai cậu học sinh trung học nhỏ, con bà điền chủ Tsi-giép-xcai-a, vừa mới đến, cùng với một anh sinh viên làm gia sư, mặc áo khoác trắng và quần rất chật. Đến ngang chỗ Pi-ốt Đmi-tri-tsơ, hai cậu bé và anh sinh viên dừng lại, có lẽ chúc mừng anh nhân ngày lễ tên thánh. Nhún vai một cách đẹp đẽ, anh vỗ vỗ má hai cậu bé và chìa tay cho anh sinh viên một cách hờ hững, không nhìn anh ta. Có lẽ anh sinh viên khen thời tiết và so sánh nó với thời tiết ở Pê-téc-bua, vì Pi-ốt Đmi-tri-tsơ nói to, với giọng như đang nói không phải với khách mà với một viên mõ toà hay một nhân chứng:
— Sao ạ? Ở Pê-téc-bua nhà các anh lạnh à? Còn ở đây, anh bạn ạ, khí trời ôn hoà và hoa trái của đất đai dồi dào. Hả? Sao?
Rồi đút một tay vào túi, búng ngón tay kia, anh bước tiếp. Cho đến khi anh khuất sau những bụi phỉ, Ôn-ga Mi-khai-lốp-na vẫn nhìn mãi vào gáy anh mà ngơ ngác. Ở đâu ra cái dáng đi đường bệ như tướng của một người ba mươi tư tuổi? Ở đâu ra những bước chân nặng nề, đẹp đẽ ấy? Ở đâu ra cái âm rung của kẻ bề trên trong giọng nói, ở đâu ra tất cả những "sao ạ", "vâng ạ" và "anh bạn" ấy?
Ôn-ga Mi-khai-lốp-na nhớ lại hồi những tháng đầu mới cưới, để khỏi buồn khi ở nhà một mình, chị đã lên tỉnh dự các phiên họp của hội đồng thẩm phán, nơi đôi khi Pi-ốt Đmi-tri-tsơ chủ toạ thay cho cha đỡ đầu của chị là bá tước A-lếch-xây Pê-trô-vích. Trên ghế chủ toạ, mặc quân phục và đeo dây xích trên ngực, anh hoàn toàn thay đổi. Những cử chỉ oai vệ, giọng nói như sấm, những tiếng "sao ạ", "vâng ạ", giọng điệu hờ hững… Tất cả những gì bình thường, con người, những gì riêng của anh mà Ôn-ga Mi-khai-lốp-na quen nhìn thấy ở nhà, đều biến mất trong sự oai vệ, và ngồi trên ghế không phải là Pi-ốt Đmi-tri-tsơ, mà là một người khác nào đó, mà mọi người gọi là ngài chủ toạ. Ý thức rằng mình là quyền lực khiến anh không ngồi yên được, và anh tìm dịp để rung chuông, nghiêm khắc nhìn công chúng, quát lên… Ở đâu ra bệnh cận thị và lãng tai, khi anh bỗng bắt đầu nhìn kém và nghe kém, và oai vệ nhăn mặt, đòi người ta nói to hơn và lại gần bàn hơn. Từ trên đỉnh cao oai vệ, anh khó mà phân biệt được các gương mặt và âm thanh, đến nỗi có lẽ nếu lúc ấy chính Ôn-ga Mi-khai-lốp-na đến gần, anh cũng sẽ quát chị: "Tên bà là gì?" Với những nông dân làm nhân chứng, anh xưng mày tao, quát công chúng to đến nỗi ngoài phố cũng nghe thấy, còn với các luật sư thì anh cư xử không thể chấp nhận nổi. Nếu một luật sư hành nghề chính thức phát biểu, Pi-ốt Đmi-tri-tsơ ngồi hơi nghiêng người đi, nheo mắt nhìn lên trần, muốn tỏ ra rằng luật sư ở đây hoàn toàn chẳng cần thiết, rằng anh không thừa nhận và không nghe ông ta. Còn nếu là một luật sư tư ăn mặc xoàng xĩnh phát biểu, thì Pi-ốt Đmi-tri-tsơ dỏng tai lên mà nghe, đo người luật sư bằng ánh mắt giễu cợt, nghiền nát: đấy, luật sư bây giờ là thế đấy! "Ông muốn nói gì vậy?", anh ngắt lời. Nếu một luật sư nói hoa mỹ dùng sai một từ nước ngoài nào đó, chẳng hạn nói "hư cấu" thành "hư cẩu", thì Pi-ốt Đmi-tri-tsơ bỗng hăng hái hẳn lên mà hỏi: "Sao ạ? Gì cơ? Hư cẩu? Thế nghĩa là gì?" Rồi dạy bảo: "Đừng dùng những từ mà ông không hiểu." Và người luật sư, nói xong, rời khỏi bàn mặt đỏ gay, đẫm mồ hôi, còn Pi-ốt Đmi-tri-tsơ thì mỉm cười tự mãn, đắc thắng, ngả người ra lưng ghế. Trong cách đối xử với luật sư, anh có phần bắt chước bá tước A-lếch-xây Pê-trô-vích, nhưng ở ông bá tước, khi ông nói chẳng hạn: "Bên bào chữa, im lặng một chút nào!", thì nghe hiền hậu và tự nhiên như một ông già, còn ở Pi-ốt Đmi-tri-tsơ thì thô và gượng gạo.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn