Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ngày trở về

của Guy de Maupassant

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 10.154 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Biển quất vào bờ những con sóng ngắn và…
  2. 2:43Chị Mác-tanh chờ chồng suốt mười năm, khó nhọc…
  3. 4:01Một ngày chậm chạp trôi qua. Khoảng giữa trưa,…
  4. 5:23Người mẹ đứng nhìn chằm chằm vào ông ta.…
  5. 6:23"Ông là người ở đây à?"
  6. 7:14Chị Mác-tanh đã khóc, úp mặt vào tạp dề.
  7. 7:46Mác-tanh bối rối, cũng chẳng biết hơn gì. Cuối…
  8. 9:21Rồi hai người đàn ông cùng nhau đi ra.

Biển quất vào bờ những con sóng ngắn và đều đều. Những đám mây trắng nhỏ trôi vội qua bầu trời xanh mênh mông, bị gió mạnh cuốn đi như những cánh chim. Và ngôi làng, nằm trong nếp gấp của thung lũng đổ xuống đại dương, đang sưởi mình dưới nắng.

Ngay đầu làng là nhà Mác-tanh Lê-vếch, đứng trơ trọi bên đường. Đó là một ngôi nhà nhỏ của dân chài, tường đất sét, mái rạ cắm đầy hoa diên vĩ xanh. Một mảnh vườn bằng chiếc khăn tay, trồng hành, mấy cây bắp cải, rau mùi tây, rau ngò, nằm vuông vắn trước cửa. Một hàng rào cây chắn mảnh vườn dọc theo con đường.

Người đàn ông đi đánh cá. Còn người vợ, trước cửa, đang vá những mắt lưới của một tấm lưới lớn màu nâu căng trên tường như một tấm mạng nhện khổng lồ. Một cô bé mười bốn tuổi ngồi ở cổng vườn, trên một chiếc ghế rơm ngả ra phía sau, lưng tựa vào hàng rào, đang mạng quần áo, thứ quần áo của nhà nghèo, đã vá víu, đã mạng chằng mạng đụp. Một đứa bé gái khác, kém một tuổi, đang ru trên tay một đứa bé tí, còn chưa biết cử động, chưa biết nói. Và hai đứa nhóc hai ba tuổi ngồi bệt dưới đất, mặt đối mặt, làm vườn bằng đôi tay vụng về, ném vào mặt nhau những nắm bụi.

Không ai nói gì. Chỉ có đứa bé mà người ta đang cố ru ngủ là khóc mãi không thôi, bằng một giọng nhỏ, chua và yếu. Một con mèo ngủ trên bậu cửa sổ. Và những khóm hoa đinh hương dại nở rộ dưới chân tường thành một vành hoa trắng đẹp đẽ, trên đó cả một đàn ruồi vo ve.

Cô bé ngồi khâu gần cổng bỗng gọi:

"Mẹ ơi!"

Người mẹ đáp:

"Gì thế?"

"Lão lại tới kìa."

Từ sáng mấy mẹ con đã lo lắng, vì có một người đàn ông cứ lảng vảng quanh nhà: một ông già trông như một kẻ ăn mày. Họ đã nhìn thấy ông ta lúc đưa người bố ra thuyền. Ông ta ngồi trên bờ mương, đối diện cửa nhà họ. Rồi khi họ từ bãi biển về, họ lại thấy ông ta vẫn ở đó, đang nhìn ngôi nhà.

Ông ta có vẻ ốm yếu và khốn khổ lắm. Ông ngồi im hơn một giờ. Rồi thấy người ta nhìn mình như nhìn một kẻ gian, ông đứng dậy, lê chân bỏ đi.

Nhưng chẳng bao lâu họ lại thấy ông quay lại với những bước chậm chạp, mệt mỏi. Và ông lại ngồi xuống, lần này xa hơn một chút, như để rình họ.

Người mẹ và hai cô con gái sợ hãi. Người mẹ lại càng bồn chồn, vì chị vốn nhút nhát, mà chồng chị, anh Lê-vếch, phải tới tối mịt mới ở biển về.

Chồng chị tên là Lê-vếch. Còn chị, người ta gọi là chị Mác-tanh, và người ta gọi gộp hai vợ chồng là nhà Mác-tanh Lê-vếch. Vì sao thế, là vì thế này: lần đầu chị lấy một anh thuỷ thủ tên là Mác-tanh, mùa hè nào cũng đi đánh cá tuyết ở vùng biển Tơ-rơ Nơ-vơ.

Sau hai năm chung sống, chị có với anh một bé gái, và đang mang thai đứa nữa được sáu tháng thì con tàu chở chồng chị, tàu Hai Chị Em, một chiếc tàu ba cột buồm ở cảng Đi-ép, mất tích.

Người ta không bao giờ có tin tức gì về nó. Không một thuỷ thủ nào trên tàu trở về. Vậy là người ta coi như nó đã mất tích cả người lẫn hàng.

Chị Mác-tanh chờ chồng suốt mười năm, khó nhọc nuôi hai đứa con. Rồi, vì chị là người đàn bà tháo vát và tử tế, một anh dân chài trong vùng, anh Lê-vếch, goá vợ với một đứa con trai, tới hỏi chị làm vợ. Chị lấy anh, và trong ba năm có thêm với anh hai đứa con nữa.

Họ sống vất vả, cần cù. Bánh mì thì đắt, còn thịt thì trong nhà gần như chẳng biết tới. Mùa đông, những tháng gió bão, có lúc phải mua chịu ở hàng bánh mì. Thế nhưng lũ trẻ vẫn khoẻ mạnh. Người ta bảo:

"Nhà Mác-tanh Lê-vếch là những người tử tế. Chị Mác-tanh chịu thương chịu khó, còn anh Lê-vếch thì đánh cá chẳng ai bằng."

Cô bé ngồi ở hàng rào nói tiếp:

"Hình như lão biết nhà mình đấy mẹ ạ. Có khi là một ông ăn mày nào ở Ê-prơ-vin hay Ô-dơ-bốt."

Nhưng người mẹ không lầm. Không, không, đó không phải là người trong vùng, chắc chắn thế!

Vì ông ta cứ ngồi im như một cái cọc, và cứ nhìn chòng chọc vào ngôi nhà của nhà Mác-tanh Lê-vếch, chị Mác-tanh nổi giận. Nỗi sợ làm chị bạo dạn lên, chị cầm lấy một cái xẻng và bước ra cửa.

Chị quát kẻ lang thang:

"Ông làm gì ở đấy thế?"

Ông ta đáp bằng một giọng khàn khàn:

"Tôi ngồi hóng mát thôi! Tôi có làm hại gì bà đâu?"

Chị nói tiếp:

"Sao ông cứ như rình mò trước cửa nhà tôi thế?"

Người đàn ông vặn lại:

"Tôi có làm hại ai đâu. Ngồi bên vệ đường mà cũng không được à?"

Không biết đáp lại thế nào, chị đi vào nhà.

Một ngày chậm chạp trôi qua. Khoảng giữa trưa, người đàn ông biến mất. Nhưng khoảng năm giờ ông ta lại đi qua. Buổi tối thì không thấy ông ta nữa.

Anh Lê-vếch về lúc trời đã tối. Người ta kể cho anh nghe chuyện. Anh kết luận:

"Chắc là một gã tò mò hay một gã gian manh nào đó."

Rồi anh đi ngủ chẳng chút lo lắng, trong khi người bạn đời của anh cứ nghĩ tới kẻ lảng vảng đã nhìn mình bằng đôi mắt khác lạ ấy.

Sáng ra, gió to quá, người thuỷ thủ thấy không thể ra khơi được, nên ở nhà giúp vợ vá lưới.

Khoảng chín giờ, cô con gái lớn, đứa con của Mác-tanh, đi mua bánh mì, chạy về, mặt hớt hải, kêu lên:

"Mẹ ơi, lão lại tới kìa!"

Người mẹ xúc động, mặt tái mét, bảo chồng:

"Anh Lê-vếch, anh ra nói chuyện với lão xem, để lão đừng rình nhà mình thế nữa, vì em thấy rối cả ruột gan."

Và anh Lê-vếch, một anh thuỷ thủ cao lớn, nước da đỏ như gạch, râu rậm đỏ hoe, mắt xanh có một chấm đen, cái cổ to lúc nào cũng quấn khăn len vì sợ gió và mưa ngoài khơi, thong thả đi ra và tới gần kẻ lảng vảng.

Rồi hai người bắt đầu nói chuyện.

Người mẹ và lũ trẻ nhìn họ từ xa, lo lắng và run rẩy.

Bỗng người lạ đứng dậy, cùng anh Lê-vếch đi về phía ngôi nhà.

Chị Mác-tanh hoảng hốt lùi lại. Chồng chị bảo:

"Em đưa ông ấy một mẩu bánh mì với một cốc rượu táo. Từ hôm kia ông ấy chưa có gì vào bụng."

Rồi cả hai người cùng bước vào nhà, theo sau là người vợ và lũ trẻ. Kẻ lang thang ngồi xuống và bắt đầu ăn, đầu cúi xuống dưới mọi ánh mắt.

Người mẹ đứng nhìn chằm chằm vào ông ta. Hai cô con gái lớn, con của Mác-tanh, tựa lưng vào cửa, một đứa bế đứa em út, dán mắt vào ông với vẻ thèm khát được biết. Còn hai đứa nhóc ngồi trong đống tro của lò sưởi đã thôi chơi với cái nồi đen, như để cùng ngắm người lạ.

Anh Lê-vếch kéo một chiếc ghế, hỏi ông ta:

"Thế ông từ xa tới à?"

"Tôi ở Xét tới."

"Đi bộ thế này à?..."

"Phải, đi bộ. Không có tiền thì phải thế thôi."

"Thế ông đi đâu?"

"Tôi tới đây."

"Ông có quen ai ở đây à?"

"Có lẽ thế."

Họ im lặng. Ông ta ăn chậm rãi, mặc dù đang đói, và cứ mỗi miếng bánh mì ông lại uống một ngụm rượu táo. Ông có một khuôn mặt tàn tạ, nhăn nheo, hõm sâu khắp chỗ, có vẻ như đã khổ sở nhiều lắm.

Anh Lê-vếch đột ngột hỏi:

"Ông tên là gì?"

Ông đáp, không ngẩng lên:

"Tôi tên là Mác-tanh."

Một cơn rùng mình lạ lùng làm người mẹ run lên. Chị bước tới một bước, như để nhìn kẻ lang thang cho gần hơn, rồi đứng sững trước mặt ông, hai tay buông thõng, miệng há ra. Không ai nói gì nữa. Cuối cùng anh Lê-vếch hỏi tiếp:

"Ông là người ở đây à?"

Ông đáp:

"Tôi là người ở đây."

Và khi ông rốt cuộc ngẩng đầu lên, mắt người đàn bà và mắt ông gặp nhau, đứng lặng, hoà vào nhau, như thể những ánh nhìn đã móc chặt vào nhau.

Và bỗng chị nói, bằng một giọng khác hẳn, trầm, run run:

"Mình đấy à, mình ơi?"

Ông chậm rãi nói:

"Phải, tôi đây."

Ông không cử động, vẫn tiếp tục nhai bánh mì. Anh Lê-vếch, ngạc nhiên nhiều hơn là xúc động, lắp bắp:

"Anh đấy à, Mác-tanh?"

Người kia đáp gọn:

"Phải, tôi đây."

Và người chồng thứ hai hỏi:

"Thế anh ở đâu về?"

Người chồng thứ nhất kể:

"Ở bờ biển châu Phi. Tàu chúng tôi đắm vì mắc cạn trên một bãi cát. Ba chúng tôi thoát được, Pi-ca, Va-ti-nen và tôi. Rồi chúng tôi bị những người man rợ bắt giữ mười hai năm. Pi-ca với Va-ti-nen chết rồi. Một nhà du hành người Anh đi ngang qua đã cứu tôi và đưa tôi về tới Xét. Và tôi đây."

Chị Mác-tanh đã khóc, úp mặt vào tạp dề.

Anh Lê-vếch nói:

"Bây giờ ta làm thế nào đây?"

Mác-tanh hỏi:

"Anh là chồng của cô ấy à?"

Anh Lê-vếch đáp:

"Phải, tôi là chồng cô ấy!"

Hai người nhìn nhau và im lặng.

Thế là Mác-tanh, nhìn lũ trẻ đang đứng vòng quanh mình, hất đầu chỉ hai cô bé lớn.

"Hai đứa này là con tôi à?"

Anh Lê-vếch nói:

"Là con anh đấy."

Ông không đứng dậy. Ông không ôm hôn chúng. Ông chỉ nhận xét:

"Lạy Chúa, chúng lớn quá!"

Anh Lê-vếch nhắc lại:

"Ta làm thế nào đây?"

Mác-tanh bối rối, cũng chẳng biết hơn gì. Cuối cùng ông quyết định:

"Tôi thì tôi theo ý anh. Tôi không muốn làm hại anh. Dù sao cũng phiền đấy, vì cái nhà. Tôi có hai đứa con, anh có ba, con ai người nấy nuôi. Còn mẹ chúng, là của anh hay của tôi? Anh muốn thế nào tôi cũng bằng lòng. Nhưng cái nhà là của tôi, vì bố tôi để lại cho tôi, tôi sinh ra ở đây, mà giấy tờ còn ở chỗ ông công chứng."

Chị Mác-tanh vẫn khóc, từng tiếng nấc nhỏ giấu trong tấm vải xanh của chiếc tạp dề. Hai cô bé lớn đã lại gần hơn, lo lắng nhìn bố mình.

Ông đã ăn xong. Tới lượt ông nói:

"Ta làm thế nào đây?"

Anh Lê-vếch nảy ra một ý:

"Phải tới gặp cha xứ, cha sẽ quyết định."

Mác-tanh đứng dậy. Và khi ông tiến về phía vợ, chị lao vào ngực ông mà nức nở:

"Mình ơi! Mình về rồi! Mác-tanh, Mác-tanh tội nghiệp của em, mình về rồi!"

Và chị ôm chặt lấy ông bằng cả hai tay, bỗng bị xuyên qua bởi một làn hơi ngày xưa, bởi một cơn chấn động lớn của kỷ niệm, gợi lại cho chị tuổi hai mươi và những vòng tay đầu tiên.

Mác-tanh, chính ông cũng xúc động, hôn lên chiếc mũ vải của chị. Hai đứa trẻ trong lò sưởi nghe mẹ khóc thì cùng gào lên. Còn đứa út, trong tay cô con gái thứ hai của Mác-tanh, rống lên bằng một giọng chói tai như một cây sáo thổi sai.

Anh Lê-vếch đứng chờ:

"Thôi nào, phải làm cho đúng lề lối đã."

Mác-tanh buông vợ ra. Và vì ông đang nhìn hai cô con gái, người mẹ bảo chúng:

"Hôn bố đi chứ."

Hai đứa cùng tiến lại, mắt ráo hoảnh, ngạc nhiên, hơi rụt rè. Và ông hôn từng đứa một, lên cả hai má, bằng những cái hôn chùn chụt kiểu nhà quê. Thấy người lạ tới gần, đứa bé út khóc thét lên tới mức suýt lên cơn co giật.

Rồi hai người đàn ông cùng nhau đi ra.

Lúc đi qua quán cà phê Thương Mại, anh Lê-vếch hỏi:

"Hay mình làm một ly đã?"

Mác-tanh tuyên bố:

"Tôi thì được thôi."

Họ bước vào, ngồi xuống trong gian phòng còn vắng.

"Ê! Si-cô, hai ly rượu mạnh, thứ ngon ấy nhé, Mác-tanh đã về rồi đây, Mác-tanh, chồng của vợ tôi ấy, anh biết mà, Mác-tanh tàu Hai Chị Em, người bị mất tích ấy."

Và ông chủ quán, một tay cầm ba cái ly, một tay cầm bình rượu, bước tới, bụng phệ, mặt đỏ gay, béo núc ních, hỏi bằng một vẻ bình thản:

"Ồ! Anh về đấy à, Mác-tanh?"

Mác-tanh đáp:

"Tôi về đây!..."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1884
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Retour, 1884, tập Yvette, Ollendorff 1902
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →