Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Nhà thờ trong cối xay

Ngôi nhà thờ có bánh xe nước · Chương 1/2 · của O. Henry

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 8.770 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Làng Xứ Hồ không có tên trong danh mục…
  2. 1:19Khách của nhà trọ Đại Bàng là những người…
  3. 2:44Cha Áp-ram tới làng Xứ Hồ từ một nơi…
  4. 4:07Khi A-gla-gia lên bốn, chiều nào bé và bố…
  5. 4:41Bố ơi, đưa bé Đô về nhà!
  6. 5:02Dĩ nhiên người ta làm mọi cách để tìm…
  7. 6:07Người thợ xay giữ nguyên dáng vẻ cái cối…
  8. 7:34Bất cứ nơi nào xảy ra tai hoạ khiến…

Chương 1: Nhà thờ trong cối xay

Làng Xứ Hồ không có tên trong danh mục những khu nghỉ mát mùa hè sang trọng. Nó nằm trên một nhánh núi thấp của dãy Cam-bơ-len, bên một nhánh sông nhỏ đổ vào sông Clinh. Bản thân làng Xứ Hồ là một ngôi làng yên phận chừng hai chục nóc nhà, nằm dọc một tuyến đường sắt khổ hẹp hiu quạnh. Người ta tự hỏi không biết con đường sắt đi lạc trong rừng thông, rồi vì sợ hãi và cô đơn mà chạy vào làng Xứ Hồ, hay chính làng Xứ Hồ đi lạc, rồi co cụm bên đường sắt chờ tàu tới chở về nhà.

Người ta lại tự hỏi vì sao nó tên là Xứ Hồ. Ở đây chẳng có cái hồ nào, còn đất đai quanh vùng thì cằn cỗi chẳng đáng nhắc tới.

Cách làng nửa dặm có nhà trọ Đại Bàng, một toà nhà cũ to lớn, rộng rãi, do ông Giô-xai-a Ran-kin quản lý, để đón những vị khách muốn hưởng khí trời núi non với giá phải chăng. Nhà trọ Đại Bàng được quản lý lộn xộn một cách dễ thương. Nó đầy những tiện nghi cổ lỗ thay vì hiện đại, và nói chung bị bỏ bê một cách dễ chịu, bừa bộn một cách thú vị như chính nhà của anh. Nhưng anh được ở phòng sạch sẽ, ăn uống ngon và đầy đủ. Phần còn lại là việc của anh với rừng thông. Thiên nhiên ban cho một mạch nước khoáng, những chiếc đu bằng dây nho rừng, và sân chơi bóng gỗ, đến cái cầu môn cũng bằng gỗ. Anh chỉ phải cảm ơn Nghệ thuật vì tiếng vĩ cầm với ghi-ta mỗi tuần hai lần ở buổi khiêu vũ trong nhà lục giác mộc mạc.

Khách của nhà trọ Đại Bàng là những người coi nghỉ ngơi vừa là nhu cầu vừa là niềm vui. Họ là những người bận rộn, có thể ví như những chiếc đồng hồ cần lên dây cót hai tuần để bánh xe chạy được cả năm. Ở đó anh sẽ gặp sinh viên từ các thị trấn dưới xuôi, thỉnh thoảng có một hoạ sĩ, hay một nhà địa chất mải mê giải nghĩa những tầng đá cổ trong núi. Vài gia đình trầm lặng tới nghỉ cả mùa hè. Và thường có một hai người mệt mỏi thuộc cái hội chị em nhẫn nại mà dân làng Xứ Hồ gọi là "các cô giáo".

Cách nhà trọ Đại Bàng một phần tư dặm có một thứ mà nếu nhà trọ có in danh mục thì hẳn sẽ được giới thiệu với khách là "một danh thắng đáng xem". Đó là một cái cối xay cũ, rất cũ, giờ không còn là cối xay nữa. Theo lời ông Giô-xai-a Ran-kin, đó là "ngôi nhà thờ duy nhất ở Hợp chủng quốc có bánh xe nước, thưa ông, và cái cối xay duy nhất trên thế giới có hàng ghế với đàn ống, thưa ông." Chủ nhật nào khách nhà trọ Đại Bàng cũng tới dự lễ ở nhà thờ cối xay cũ, nghe ông mục sư ví người tín đồ đã được thanh lọc như thứ bột đã rây, được nghiền cho hữu ích giữa hai thớt cối của từng trải và khổ đau.

Năm nào cũng vậy, khoảng đầu mùa thu, có một ông Áp-ram Xtron tới nhà trọ Đại Bàng, ở lại một thời gian làm vị khách được kính trọng và yêu mến. Ở làng Xứ Hồ người ta gọi ông là "Cha Áp-ram", vì tóc ông trắng phau, gương mặt ông cương nghị, hiền hậu, hồng hào, tiếng cười ông vui vẻ, còn bộ đồ đen với chiếc mũ rộng vành trông như của một vị linh mục. Ngay cả khách mới tới, quen ông được ba bốn ngày, cũng gọi ông bằng cái tên thân mật ấy.

Cha Áp-ram tới làng Xứ Hồ từ một nơi rất xa. Ông sống ở một thành phố lớn ồn ào miền tây bắc, nơi ông có những nhà máy xay. Không phải những cối xay nhỏ có hàng ghế với đàn ống bên trong, mà là những nhà máy xay đồ sộ, xấu xí, to như núi, quanh đó những đoàn tàu chở hàng suốt ngày bò quanh như kiến bò quanh tổ. Giờ tôi phải kể cho các anh nghe về Cha Áp-ram và cái cối xay đã thành nhà thờ, vì câu chuyện của hai bên quyện vào nhau.

Hồi nhà thờ còn là cối xay, ông Xtron là người thợ xay. Khắp xứ không có người thợ xay nào vui tính hơn, lấm bụi hơn, bận rộn hơn, hạnh phúc hơn ông. Ông sống trong một ngôi nhà nhỏ bên kia đường, đối diện cối xay. Tay ông nặng, nhưng tiền công ông lấy nhẹ, nên dân núi đi bao dặm đường đá mệt nhọc mang lúa tới cho ông xay.

Niềm vui của đời người thợ xay là cô con gái nhỏ A-gla-gia. Thật là một cái tên oai vệ cho một cô bé tóc vàng hoe mới chập chững biết đi, nhưng dân núi vẫn ưa những cái tên kêu và trang trọng. Bà mẹ bắt gặp cái tên ấy trong một cuốn sách nào đó, thế là xong. Còn bé, chính A-gla-gia đã chối bỏ cái tên ấy trong lúc gọi hằng ngày, cứ khăng khăng tự gọi mình là "Đô". Người thợ xay với vợ thường dỗ A-gla-gia nói xem cái tên bí ẩn ấy từ đâu ra, nhưng chẳng được gì. Cuối cùng họ đi tới một giả thuyết. Trong mảnh vườn nhỏ sau nhà có một luống hoa đỗ quyên mà cô bé đặc biệt thích thú, chăm chút. Có lẽ bé thấy chữ "Đô" có họ hàng với cái tên của loài hoa bé yêu nhất, hoa đỗ quyên.

Khi A-gla-gia lên bốn, chiều nào bé và bố cũng diễn một màn nhỏ trong cối xay, trời không xấu là chẳng bao giờ bỏ. Khi bữa tối đã sẵn, mẹ bé chải tóc cho bé, mặc cho bé chiếc tạp dề sạch, rồi cho bé sang cối xay gọi bố về. Thấy bé hiện ra ở cửa cối xay, người thợ xay bước ra, trắng toát bụi bột, vẫy tay, hát một bài hát cũ của thợ xay quen thuộc trong vùng, đại loại thế này:

Bánh xe quay tròn,
Hạt lúa xay mòn,
Bác thợ xay bụi trắng mà vui.
Hát suốt ngày dài,
Việc nhẹ như chơi,
Vì lòng còn nhớ tới người thương.

Thế là A-gla-gia cười khanh khách chạy lại, gọi:

— Bố ơi, đưa bé Đô về nhà!

Người thợ xay nhấc bé lên vai, vừa hát bài ca thợ xay vừa sải bước về nhà ăn tối. Tối nào cũng thế.

Một hôm, chỉ một tuần sau sinh nhật lần thứ tư, A-gla-gia biến mất. Lần cuối cùng người ta thấy bé là khi bé đang hái hoa dại bên vệ đường trước nhà. Một lát sau mẹ bé ra xem bé có đi xa quá không, thì bé đã biến mất.

Dĩ nhiên người ta làm mọi cách để tìm bé. Hàng xóm kéo nhau đi lục soát rừng và núi khắp mấy dặm quanh vùng. Họ vét từng tấc mương dẫn nước vào cối xay và con suối một quãng dài dưới đập. Chẳng thấy một dấu vết nào của bé. Một hai đêm trước đó có một gia đình dân lang bạt cắm trại trong một lùm cây gần đó. Người ta đoán có thể họ đã bắt cóc đứa bé. Nhưng khi đuổi kịp cỗ xe của họ lục soát thì không thấy bé đâu.

Người thợ xay ở lại cối xay gần hai năm, rồi hy vọng tìm thấy con lụi tắt. Ông bà dọn về miền tây bắc. Vài năm sau ông đã là chủ một nhà máy xay hiện đại ở một trong những thành phố xay xát quan trọng của vùng ấy. Bà Xtron không bao giờ gượng dậy được sau cú sốc mất A-gla-gia, và hai năm sau khi dọn đi, người thợ xay còn lại một mình mang nỗi đau.

Khi Áp-ram Xtron đã giàu có, ông về thăm làng Xứ Hồ và cái cối xay cũ. Cảnh ấy làm ông buồn, nhưng ông là người mạnh mẽ, lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ, hiền hậu. Chính lúc ấy ông nảy ra ý định biến cái cối xay cũ thành nhà thờ. Làng Xứ Hồ quá nghèo, không xây nổi một nhà thờ, còn dân núi thì nghèo hơn nữa, chẳng góp được gì. Chỗ thờ phụng gần nhất cũng cách hai mươi dặm.

Người thợ xay giữ nguyên dáng vẻ cái cối xay nhiều nhất có thể. Chiếc bánh xe nước lớn kiểu nước đổ từ trên xuống vẫn để nguyên chỗ cũ. Đám thanh niên tới nhà thờ hay khắc tên mình lên lớp gỗ mềm đang mục dần của nó. Con đập bị phá một phần, dòng suối núi trong vắt róc rách chảy tự do xuống lòng đá. Bên trong cối xay thì thay đổi nhiều hơn. Dĩ nhiên trục quay, thớt cối, dây đai, ròng rọc đều được dỡ hết. Có hai dãy ghế băng với lối đi ở giữa, một bục nhỏ và một bục giảng ở một đầu. Ở ba mặt phía trên có một gác lửng đặt ghế ngồi, lên bằng một cầu thang bên trong. Trên gác còn có một cây đàn, một cây đàn ống thật sự, niềm tự hào của giáo đoàn Nhà thờ Cối xay Cũ. Cô Phi-bi Xam-mơ là người chơi đàn. Lũ con trai làng Xứ Hồ hãnh diện thay phiên nhau bơm hơi đàn cho cô trong mỗi buổi lễ Chủ nhật. Mục sư Ban-brít là người giảng đạo, cưỡi con ngựa trắng già từ đèo Con Sóc xuống, chưa từng vắng một buổi lễ nào. Và Áp-ram Xtron trả tiền mọi thứ. Ông trả ông mục sư năm trăm đô-la một năm, trả cô Phi-bi hai trăm đô-la.

Thế là, để tưởng nhớ A-gla-gia, cái cối xay cũ đã thành một phúc lành cho cộng đồng nơi bé từng sống. Dường như cuộc đời ngắn ngủi của đứa trẻ đã đem lại nhiều điều tốt hơn cả bảy mươi năm sống của nhiều người. Nhưng Áp-ram Xtron còn dựng thêm một tượng đài nữa để tưởng nhớ bé.

Từ những nhà máy của ông ở miền tây bắc tuôn ra loại bột mì "A-gla-gia", làm từ thứ lúa mì cứng nhất, tốt nhất có thể trồng được. Chẳng bao lâu cả nước phát hiện ra bột mì "A-gla-gia" có hai giá. Một là giá cao nhất trên thị trường, giá kia là không đồng.

Bất cứ nơi nào xảy ra tai hoạ khiến người ta lâm vào cảnh khốn cùng, hoả hoạn, lũ lụt, lốc xoáy, đình công hay nạn đói, là có một chuyến hàng "A-gla-gia" hào phóng vội vã tới đó với cái giá "không đồng" của nó. Bột được phát một cách thận trọng, khôn ngoan, nhưng là phát không, những người đói chẳng phải trả lấy một xu. Người ta còn truyền nhau câu nói rằng hễ ở khu nghèo của thành phố nào xảy ra một vụ cháy lớn, thì xe của ông đội trưởng cứu hoả tới trước tiên, kế đó là xe bột mì "A-gla-gia", rồi mới tới xe chữa cháy.

Đó là tượng đài thứ hai Áp-ram Xtron dựng cho A-gla-gia. Có lẽ với một nhà thơ, đề tài này quá thực dụng để mà đẹp. Nhưng với một số người, sẽ thấy ngọt ngào và đẹp đẽ cái ý ví thứ bột trắng tinh khiết, trinh nguyên, bay đi làm sứ mạng yêu thương và nhân ái, với linh hồn của đứa trẻ đã mất mà nó mang tên để tưởng nhớ.

— Hết chương 1 —

Mục lục Ngôi nhà thờ có bánh xe nước

  1. 1Nhà thờ trong cối xay8 phút
  2. 2Tiếng đàn ốngĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1911
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Church with an Overshot-Wheel, O. Henry, in trong tuyển tập Sixes and Sevens
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →