Tôi có được đặc ân tiếp xúc với dăm ông biên tập. Cách đây chưa lâu, chính họ mới là người quen tiếp xúc với tôi. Hai chuyện khác nhau lắm đấy.
Họ bảo rằng rất nhiều bản thảo gửi tới toà soạn có kèm lời quả quyết của tác giả, coi như một cú đẩy, rằng mọi chuyện trong truyện đều có thật. Số phận những bài như thế hoàn toàn tuỳ vào chuyện có gửi kèm tem hay không. Một số được gửi trả lại, số còn lại bị ném xuống sàn ở một góc, chồng lên một đôi giày cao su, một bức tượng nữ thần Chiến Thắng có cánh bị lật nghiêng, và một chồng tạp chí cũ in hình ông biên tập đang đọc số mới nhất của một tờ báo Pháp, cầm xuôi hẳn hoi, nhìn tranh minh hoạ là biết. Chuyện trong phòng biên tập có giỏ rác chỉ là truyền thuyết.
Sự thật bị coi rẻ như thế đấy. Nhưng rồi sẽ có ngày sự thật, khoa học và thiên nhiên phải tự thích nghi với nghệ thuật. Mọi việc sẽ xảy ra hợp lôgích, và kẻ gian ác sẽ bị bẽ mặt chứ không được bầu vào hội đồng quản trị. Còn trong khi chờ đợi, hư cấu không những phải ly dị với sự thật, mà còn phải trả tiền cấp dưỡng và được giao quyền nuôi mấy bản tin điện báo.
Đoạn mào đầu này là để cảnh báo bạn tránh xa chỗ đường ray cắt ngang của một câu chuyện có thật. Vì là chuyện thật, nó sẽ được kể giản dị, chỗ nào có thể thì thay tính từ bằng liên từ, còn nếu có chút văn phong nào lộ ra thì đó là công của anh thợ sắp chữ. Đây là câu chuyện về đời sống văn chương ở một thành phố lớn, hẳn sẽ đáng quan tâm với mọi tác giả trong bán kính ba mươi cây số quanh một thị trấn nhỏ miền Trung Tây, những người có trên bàn một bản thảo truyện mở đầu như sau: "Trong khi tiếng hò reo sau lễ đề cử anh vẫn còn vang khắp toà án cũ, Ha-út thoát khỏi những cái bắt tay chúc mừng của đám tay chân và vội vã tới nhà quan toà Cờ-rét-uên tìm Ai-đa."
Pe-tít từ A-la-ba-ma lên đây để viết truyện. Báo chí miền Nam đã in tám truyện của anh, có kèm lời toà soạn giới thiệu tác giả là con trai "ngài Thiếu tá Pe-tinh-gin Pe-tít dũng cảm, nguyên Biện lý quận ta và là anh hùng trận núi Lúc-ao".
Pe-tít là một gã chắc nịch, có một thứ học thức ngượng ngùng, và là bạn tốt của tôi. Bố anh có một cửa hàng tạp hoá ở một thị trấn nhỏ tên là Hô-di-a. Pe-tít lớn lên giữa những rừng thông và những cánh đồng cỏ chổi quanh đó. Trong túi xách anh có hai bản thảo tiểu thuyết kể chuyện phiêu lưu ở xứ Pi-các-đi của một ngài Ga-xtông La-bu-lê, tử tước Mông-tơ-pô, vào năm 1329. Chuyện đó chẳng có gì. Ai trong chúng ta chẳng làm thế. Rồi một ngày kia, khi ta thành công với một mẩu chuyện nhỏ về thằng bé bán báo và con chó què của nó, ông biên tập sẽ in nốt cuốn kia cho ta, hay nói đúng hơn là in để trêu ta, thế rồi, thế rồi ta phải sắm một cái va-li to đi bán rong loại đèn ga có ống hút gió được cấp bằng sáng chế. Có một đô-la hai lăm thôi, nhà nào cũng nên có.
Tôi đưa Pe-tít tới ngôi nhà gạch đỏ, ngôi nhà sẽ xuất hiện trong bài báo nhan đề "Những di tích văn chương của New York xưa" vào một ngày nào đó khi chúng tôi đã thành danh. Anh thuê một phòng, chi phí rút từ cửa hàng tạp hoá. Tôi dẫn anh đi xem New York, và anh không hề nhắc tới chuyện Brốt-uê hẹp hơn đại lộ Li ở Hô-di-a bao nhiêu. Có vẻ là dấu hiệu tốt, nên tôi đưa ra phép thử cuối cùng.
— Hay anh thử viết một bài tả cảnh, — tôi gợi ý, — nói lên ấn tượng của anh về New York nhìn từ cầu Brúc-lin. Một góc nhìn mới mẻ, một...
— Đừng có ngớ ngẩn, — Pe-tít nói. — Đi uống bia thôi. Nói chung tôi cũng khá thích thành phố này.
Chúng tôi khám phá ra và tận hưởng cái chốn phóng túng nghệ sĩ đích thực duy nhất. Ngày nào đêm nào chúng tôi cũng tới một trong những quán ăn bình dân lát đá cẩm thạch, kính và gạch men, những cung điện nơi đang diễn ra một thiên anh hùng ca vang dội của đời sống. Cung điện của các vị thần trên trời cũng không thể huy hoàng và vang vọng hơn. Mặt bàn đá cẩm thạch cổ điển nơi chúng tôi ăn, mặt tiền bằng kính lớn ngập ánh sáng điểm những đường hoa văn trắng như tuyết, tiếng ồn hùng tráng kiểu nhạc kịch Vác-ne của tách và bát va nhau lanh canh, tiếng dao dĩa vung lên loang loáng dồn dập, tiếng hô như hát của các cô hầu bàn đeo tạp dề trắng bên những bàn tiệc lạnh lẽo như nhà xác, điệp khúc lặp đi lặp lại của chiếc máy tính tiền. Đó là một cuộc hàn gắn khổng lồ, đắc thắng giữa nghệ thuật và âm thanh, một cuộc diễu hành inh tai mà nâng bổng tâm hồn của đời sống anh hùng và đầy biểu tượng. Mà món đậu chỉ có mười xu. Chúng tôi lấy làm lạ sao các bạn nghệ sĩ khác lại thích ăn tối ở những chiếc bàn nhỏ buồn bã trong mấy cái gọi là nhà hàng nghệ sĩ, và chúng tôi rùng mình lo họ sẽ tìm ra chỗ của chúng tôi, rồi có mặt ở đó làm nó trở nên lộ liễu.
Pe-tít viết nhiều truyện, và các ông biên tập gửi trả lại hết. Anh viết truyện tình, cái thứ tôi luôn tránh xa, vì tôi tin rằng thứ tình cảm phổ biến và được ưa chuộng ấy không nên đem in, mà nên để các bác sĩ tâm thần và các hiệu hoa xử lý riêng. Nhưng các ông biên tập bảo anh rằng họ cần truyện tình, vì họ bảo phụ nữ đọc loại ấy.
Dĩ nhiên các ông biên tập nhầm. Phụ nữ không đọc truyện tình trên tạp chí. Họ đọc truyện đánh bài xì phé và công thức làm nước dưỡng da bằng dưa chuột. Truyện tình là thứ dành cho mấy anh chào hàng xì-gà béo phị và mấy cô bé mười tuổi. Tôi không chê trách óc phán đoán của các ông biên tập. Phần lớn họ là những người rất tốt, nhưng một người chỉ là một người, có ý kiến và sở thích riêng. Tôi biết hai phó biên tập một tạp chí giống nhau lạ lùng ở hầu hết mọi chuyện. Vậy mà một ông thì rất mê Phlô-be, còn ông kia lại thích rượu gin hơn.
Pe-tít mang tới cho tôi những bản thảo bị trả về, và chúng tôi cùng xem xét để tìm ra vì sao chúng không được nhận. Tôi thấy chúng là những truyện khá được, văn hay, và kết thúc, đúng như phải thế, ở cuối trang cuối cùng.
Chúng được dựng khéo, các sự việc được dàn xếp theo trình tự ngay ngắn và hợp lý. Nhưng tôi ngờ ngợ thấy thiếu một chất sống. Cứ như tôi đang ngắm một dãy vỏ sò cân đối, trông được mắt, mà phần thịt mọng nước, sống động bên trong đã bị lấy mất. Tôi bóng gió rằng tác giả nên tìm hiểu đề tài của mình kỹ hơn.
— Tuần trước anh bán được một truyện, — Pe-tít nói, — về một trận đấu súng ở một thị trấn mỏ ở A-ri-dô-na, trong đó nhân vật chính rút khẩu súng côn bắn chết bảy tên cướp ngay khi chúng vừa bước qua cửa. Này, nếu một khẩu súng sáu viên mà...
— Ồ, thì, — tôi nói, — chuyện đó khác. A-ri-dô-na cách New York xa lắm. Nếu muốn, tôi có thể cho một người bị đâm bằng dây thòng lọng hay bị một chiếc quần da cao bồi rượt đuổi, mà chẳng ai để ý cho tới khi một tay chuyên bắt lỗi ở một ga xép nào đó phát hiện ra lỗi rồi viết thư cho báo. Nhưng anh thì đang đụng phải chuyện khác. Cái thứ người ta gọi là tình yêu ở New York cũng nhan nhản như ở một thị trấn miền quê mùa hành non. Ở đây nó có thể trộn chút tính toán buôn bán, người ta đọc thơ Bai-rơn, nhưng cũng tiện tay tra luôn sổ xếp hạng tín dụng, nhưng ở đâu thì nó cũng gần như vẫn là cái cơn rối loạn bên trong cũ rích ấy. Anh có thể lừa một ông biên tập bằng bức tranh giả vẽ anh cao bồi trèo lên ngựa mà tay trái bám vào núm yên, nhưng anh không thể qua mặt ông ta bằng một truyện tình. Cho nên anh phải đi yêu đã, rồi mới viết ra được hàng thật.
Pe-tít làm thế thật. Tôi không bao giờ biết là anh nghe lời khuyên của tôi hay chỉ tình cờ thành nạn nhân.
Có một cô gái anh gặp ở một buổi tụ họp trong xưởng vẽ nào đó, một cô gái rực rỡ, xấc xược, sáng suốt, cởi mở, tóc màu bia đen Đức, và có một kiểu khinh người rất dễ chịu. Cô là gái New York.
Thế rồi, nói như lối văn kể chuyện thỉnh thoảng cho phép, Pe-tít suy sụp tan tành. Tất cả những nỗi đau, những ngờ vực của kẻ yêu, những dằn vặt, những run rẩy mà anh từng viết ra chẳng ai tin nổi, giờ là của chính anh. Nói gì tới cân thịt của lão cho vay nặng lãi Sai-lốc! Thần Ái tình đã lấy của Pe-tít mười hai cân. Vậy ai mới là kẻ cho vay nặng lãi?
Một đêm, Pe-tít tới phòng tôi, hân hoan. Nhợt nhạt, hốc hác, nhưng hân hoan. Cô ấy vừa tặng anh một bông thuỷ tiên vàng.
— Ông bạn già ơi, — anh nói, một nụ cười mới chập chờn quanh miệng, — tôi tin tối nay tôi viết được cái truyện ấy, cái truyện sẽ thắng ấy mà, ông biết đấy. Tôi cảm thấy nó. Tôi không biết nó có ra hay không, nhưng tôi cảm thấy nó.
Tôi đẩy anh ra khỏi cửa phòng mình.
— Về phòng mà viết đi, — tôi ra lệnh. — Không thì tôi thấy trước kết cục của anh rồi. Tôi đã bảo anh là phải có cái này trước đã. Viết ngay tối nay, viết xong thì nhét dưới cửa phòng tôi. Viết xong là nhét ngay dưới cửa phòng tôi tối nay, đừng để tới mai.
Hai giờ sáng, tôi đang đọc Mông-te-nhơ, ông bạn già tuyệt vời của tôi, thì nghe tiếng giấy sột soạt dưới khe cửa. Tôi nhặt lên và đọc truyện.
Tiếng ngỗng kêu quàng quạc, tiếng bồ câu gù gù tha thiết, tiếng lừa hí be be, tiếng lũ chim sẻ líu lo vô trách nhiệm, đó là những gì vang lên trong tai tâm hồn tôi khi đọc. "Lạy nữ thi sĩ Xa-phô!" tôi tự kêu lên. "Đây là ngọn lửa thần thánh được cho là sẽ thắp sáng thiên tài và biến nó thành thứ thực dụng kiếm ra tiền đấy ư?"
Truyện ấy là một mớ uỷ mị nhảm nhí, đầy những nỗi mềm lòng rên rỉ và cái tôi tuôn trào. Mọi tay nghề Pe-tít học được đã biến mất. Đọc hết những câu văn béo ngậy như bơ ấy, đến cô hầu phòng hay thở dài cũng phải hoá thành người hoài nghi đời.
Sáng ra Pe-tít tới phòng tôi. Tôi đọc bản án cho anh, không chút thương xót. Anh cười ngây ngô.
— Được rồi, ông bạn già, — anh vui vẻ nói, — đem nó làm giấy châm xì-gà đi. Thì đã sao? Trưa nay tôi đưa cô ấy đi ăn ở nhà hàng Cờ-le-mông.
Chuyện ấy kéo dài chừng một tháng. Rồi Pe-tít tới gặp tôi, mặt như người vừa bị từ hôn, cứng cỏi chẳng hơn một miếng giẻ rửa bát. Anh nói về nấm mồ, về Nam Mỹ, về thuốc độc, và tôi mất cả một buổi chiều để kéo anh về nếp. Tôi đưa anh ra ngoài và lo cho anh được uống những liều rượu whisky lớn có tác dụng chữa bệnh. Tôi đã báo trước đây là chuyện thật rồi đấy. Suốt hai tuần, tôi cho anh uống whisky và đọc thơ Ô-ma Khay-am, và tối nào cũng đều đặn đọc cho anh nghe cái mục trên báo chiều tiết lộ bí quyết làm đẹp của phụ nữ. Tôi xin giới thiệu phương pháp chữa trị này.
Khi Pe-tít khỏi bệnh, anh lại viết thêm truyện. Anh lấy lại được sự trôi chảy ngày xưa và viết ra những thứ chỉ thiếu một chút là đủ hay. Rồi màn ba của vở kịch mở ra.
Một cô gái nhỏ nhắn, mắt đen, ít nói, người bang Niu Hem-sơ, đang học trang trí ứng dụng, yêu anh tha thiết. Cô thuộc loại người mãnh liệt, nhưng bề ngoài thì lạnh như băng, kiểu mà vùng Niu Inh-lơn đôi khi vẫn đánh lừa chúng ta. Pe-tít mến cô vừa phải, hay đưa cô đi đây đi đó. Cô tôn thờ anh, và đôi khi làm anh chán.
Rồi tới lúc cao trào, khi cô định nhảy qua cửa sổ, và anh phải cứu cô bằng mấy lời tán tỉnh lấy lệ, chẳng thật lòng. Đến tôi cũng phải chấn động trước chiều sâu của thứ tình cảm cuốn hút mà cô bày ra. Nhà cửa, bạn bè, truyền thống, đức tin, tất cả nhẹ bỗng như bông cỏ trên bàn cân so với tình yêu của cô. Thật khiến người ta bối rối.
Một đêm, Pe-tít lại thong thả bước vào, ngáp dài. Như lần trước, anh bảo anh cảm thấy mình có thể viết một truyện thật hay, và như lần trước, tôi đuổi anh về phòng, đứng nhìn anh mở lọ mực. Một giờ sáng, những tờ giấy trượt qua khe cửa phòng tôi.
Tôi đọc truyện ấy, và dù đã khuya, tôi vẫn nhảy dựng lên, hét một tiếng sung sướng. Ông bạn Pe-tít đã làm được. Như thể nó đang nằm đó, đỏ tươi và rỉ máu, một trái tim đàn bà đã được viết vào từng dòng. Không thấy đâu là đường nối, nhưng nghệ thuật, thứ nghệ thuật tinh tế, và sự sống đang đập rộn ràng đã hoà làm một trong một truyện tình bóp nghẹt cổ họng người đọc như cơn viêm họng. Tôi xông vào phòng Pe-tít, đấm thùm thụp vào lưng anh, gọi anh bằng đủ thứ tên, những cái tên trên tận dải ngân hà của những bậc bất tử mà chúng tôi ngưỡng mộ. Còn Pe-tít thì ngáp và xin được để yên cho ngủ.
Hôm sau tôi lôi anh tới một ông biên tập. Vị vĩ nhân đọc xong, đứng dậy, bắt tay Pe-tít. Thế là được gắn huân chương, được đội vòng nguyệt quế, và có bảo đảm trả được tiền thuê nhà.
Rồi ông bạn Pe-tít chậm rãi mỉm cười. Giờ tôi thầm gọi anh là Quý ông Pe-tít. Gọi một người như thế thì tội nghiệp, nhưng nghe còn đỡ hơn là in ra giấy.
— Tôi hiểu rồi, — ông bạn Pe-tít nói, cầm truyện của mình lên, bắt đầu xé ra từng mảnh nhỏ. — Giờ tôi hiểu cái trò này rồi. Anh không thể viết bằng mực, cũng không thể viết bằng máu từ tim mình, nhưng anh có thể viết bằng máu từ tim một người khác. Phải làm một thằng đểu trước đã rồi mới thành nghệ sĩ được. Thôi, tôi về với A-la-ba-ma và cửa hàng của ông Thiếu tá đây. Ông có lửa không, ông bạn già?
Tôi tiễn Pe-tít ra ga và cố cãi tới hơi thở cuối cùng.
— Thế còn thơ của Sếch-xpia? — tôi buột miệng, gắng chống đỡ lần cuối. — Ông ấy thì sao?
— Một thằng đểu, — Pe-tít nói. — Người ta trao nó cho anh, và anh đem bán, tình yêu ấy mà. Tôi thà về bán cày cho bố còn hơn.
— Nhưng, — tôi phản đối, — anh đang lật ngược phán quyết của những bậc vĩ đại nhất thế giới...
— Chào ông bạn già, — Pe-tít nói.
— Của các nhà phê bình, — tôi nói tiếp. — Nhưng mà, này, nếu ở cửa hàng dưới ấy ông Thiếu tá cần một anh bán hàng kiêm kế toán kha khá, thì báo tôi nhé, được không?
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn