Ngày xưa, ở vương quốc Ma-hinh-sa-ca, trong thành Sa-cu-la, có vị vua tên là Sa-cu-la trị nước công minh. Thuở ấy, cách kinh thành không xa, trong một làng bẫy chim, có một người thợ bẫy chim sống bằng nghề đánh bẫy chim rồi mang vào thành bán.
Gần kinh thành có một hồ sen tên là Ma-nu-si-a, chu vi mười hai dặm, mặt hồ phủ kín năm loại sen. Đủ mọi loài chim kéo nhau tới đó, và người thợ bẫy tha hồ giăng bẫy.
Bấy giờ, vua của loài ngỗng trời Đa-ta-rát-tha, cùng chín mươi sáu nghìn con ngỗng theo hầu, sống trong Hang Vàng trên núi Chít-ta-cu-ta. Vị tướng đứng đầu đàn ngỗng tên là Su-mu-kha.
Một hôm, có một đàn ngỗng vàng bay tới hồ Ma-nu-si-a. Ăn uống no nê ở chỗ đầy mồi ấy xong, chúng bay về ngọn núi Chít-ta-cu-ta xinh đẹp, thưa với ngỗng chúa:
— Tâu bệ hạ, có một hồ sen tên là Ma-nu-si-a, một chỗ kiếm ăn rất nhiều mồi, nằm giữa chốn người ở. Chúng thần xin tới đó kiếm ăn.
Ngỗng chúa đáp:
— Chốn người ở nguy hiểm lắm. Các ngươi đừng nên đi.
Tuy ngỗng chúa không muốn đi, nhưng bị nài nỉ mãi, cuối cùng đành bảo:
— Nếu các ngươi muốn thế, chúng ta sẽ đi.
Rồi ngỗng chúa dẫn cả đàn tới hồ. Từ trên không đáp xuống, chân ngỗng chúa vừa chạm đất thì đúng lúc giẫm phải một chiếc bẫy thòng lọng. Chiếc thòng lọng kẹp chặt lấy chân như một cái êtô bằng sắt, giữ chặt không buông. Ngỗng chúa cố giật cho đứt bẫy. Da rách trước, rồi tới thịt, rồi tới gân, cho tới khi sợi dây bẫy chạm vào tận xương. Máu chảy ròng ròng, đau đớn khôn cùng.
Ngỗng chúa nghĩ: "Nếu bây giờ ta kêu lên tiếng kêu của con chim sa bẫy, cả đàn sẽ hoảng sợ, chưa kịp ăn đã bay đi. Đói lả như thế, chúng sẽ kiệt sức mà rơi xuống nước." Thế là ngỗng chúa cố chịu đau. Đợi tới khi cả đàn đã ăn no nê, đang vui đùa theo kiểu loài ngỗng, ngỗng chúa mới cất lên tiếng kêu thật to của con chim bị bẫy.
Nghe tiếng kêu ấy, đàn ngỗng hoảng sợ như sắp chết tới nơi, vội vã bay về phía núi Chít-ta-cu-ta.
Cả đàn vừa bay đi, tướng Su-mu-kha nghĩ: "Hay là đã có chuyện chẳng lành xảy ra với đức vua? Ta phải tìm cho ra." Su-mu-kha bay thật nhanh, nhưng không thấy bậc Đại Sĩ trong những con dẫn đầu đàn ngỗng đang bay về. Su-mu-kha tìm trong đám đông ở giữa đàn, cũng không thấy, bèn nói:
— Hẳn là đã có chuyện chẳng lành rồi.
Rồi Su-mu-kha quay lại, thấy bậc Đại Sĩ mắc trong bẫy, mình đầy máu, đau đớn quằn quại, nằm trên bãi bùn. Su-mu-kha đáp xuống, đậu bên cạnh, an ủi:
— Tâu bệ hạ, xin đừng sợ. Thần sẽ cứu bệ hạ ra khỏi bẫy, dù phải đánh đổi bằng mạng sống của mình.
Để thử lòng Su-mu-kha, bậc Đại Sĩ nói:
— Mọi con chim khác đều chẳng đoái hoài tới ta, đã vội vã bay đi cả rồi. Kẻ sa bẫy thì còn bạn bè gì nữa? Ngươi hãy đi đi, đừng chần chừ.
Su-mu-kha đáp:
— Dù thần đi hay ở lại bên bệ hạ, rồi một ngày nào đó thần cũng phải chết. Thần đã theo bệ hạ những lúc yên vui, nay bệ hạ gặp hoạn nạn, thần không thể bay đi. Thần hoặc là chết cùng bệ hạ, hoặc là sống một cuộc đời cô độc. Thà chết ngay còn hơn sống mà khóc thương vì mất bệ hạ. Bỏ bệ hạ trong cảnh khốn khổ thế này là không phải. Không, thần vui lòng cùng chịu số phận với bệ hạ, dù là số phận nào.
Ngỗng chúa nói:
— Kẻ đã sa bẫy thì còn số phận nào ngoài cái xiên nướng tàn nhẫn? Ngươi còn tỉnh táo, lại đang tự do, sao lại chịu như thế? Hỡi chim kia, nếu cả hai ta cùng chết, thì ngươi thấy điều gì tốt cho ngươi, cho ta, hay cho bà con còn sống của chúng ta? Hỡi con chim cánh vàng, việc làm cao quý của ngươi rồi sẽ chìm vào bóng tối, chẳng ai hay biết. Một sự hy sinh như thế, dù có ai biết tới, thì cũng dạy được điều gì?
Su-mu-kha đáp:
— Tâu chúa của loài chim, bệ hạ không thấy rằng điều tốt lành luôn theo sau lẽ phải hay sao? Lẽ phải được tôn trọng đúng mực sẽ chỉ cho người ta thấy đâu là điều tốt thật sự. Thần thấy rõ lẽ phải và mọi điều tốt lành từ lẽ phải mà ra, nên vì thương bệ hạ, thần vui lòng hy sinh mạng sống của mình. Người biết nghĩ tới lẽ phải thì không bao giờ bỏ rơi bạn mình lúc hoạn nạn, dù để giữ lấy mạng mình. Việc như thế, bậc hiền trí đều khen là đúng với lẽ phải.
Ngỗng chúa nói:
— Ngươi đã làm trọn bổn phận một cách cao quý, và ta đã thấy rõ lòng thương của ngươi. Nếu ngươi muốn làm điều ta mong nhất, hãy đi ngay đi. Biết đâu một ngày kia, những ràng buộc giữa ta với họ hàng đang được ta cai quản, sẽ về tay ngươi, người hiểu biết hơn và vững vàng hơn.
Hai con chim cao quý đang trao đổi với nhau những ý nghĩ cao cả như thế, thì kìa, người thợ bẫy hiện ra, như Thần Chết hiện ra trước kẻ ốm liệt giường. Hai người bạn nhận ra kẻ thù mà chúng sợ hãi, ngồi lặng im bất động hồi lâu trong khi hắn tiến lại gần.
Thấy đàn ngỗng bay lên tán loạn rồi biến mất trên bầu trời, người thợ bẫy vội vã chạy tới chỗ hai con chim cao quý đang ngồi. Vừa chạy hết sức tới đúng chỗ ấy, hắn vừa run run tự hỏi: "Có mắc bẫy không đây?"
Hắn thấy một con mắc trong bẫy, còn con kia thì đang ngồi trông chừng người bạn bị bắt, chẳng hề bị trói buộc gì. Bối rối và ngờ vực, hắn ngắm nhìn đôi chim cao quý, cả hai đều to lớn, đẹp đẽ, rồi hắn hỏi Su-mu-kha:
— Con chim mắc bẫy thì đành không bay đi được. Còn ngươi, hỡi con chim to lớn, ngươi vẫn tự do, sao lại quyết ở lại với nó? Con chim này là gì đối với ngươi, mà khi cả đàn đã bay đi hết, ngươi vẫn tự do mà ngồi lại một mình bên con chim bị bắt?
Su-mu-kha đáp:
— Hỡi kẻ thù của loài chim, đây là bạn ta, là vua ta, thân thiết với ta như chính mạng sống của ta. Bỏ ngài ư? Không, ta không bao giờ bỏ, cho tới khi Thần Chết gọi ta đi.
Người thợ bẫy hỏi tiếp:
— Sao con chim này lại không trông thấy chiếc bẫy giấu kín của người bẫy chim? Đã là bậc làm chúa thì phải biết đề phòng nguy hiểm chứ.
Su-mu-kha đáp:
— Khi tai hoạ ập tới và giờ chết đã gần kề, thì dù có tới sát bên, cũng chẳng thấy bẫy, chẳng thấy lưới. Bẫy đủ mọi loại, nhiều khi người ta giăng ra mà chẳng bắt được gì. Nhưng tới giờ định mệnh, rồi cũng có lúc người ta sa vào cái bẫy giấu kín mà chết.
Bằng những lời ấy, Su-mu-kha làm cho lòng người thợ bẫy dịu lại. Rồi Su-mu-kha xin cho bậc Đại Sĩ được sống:
— Liệu câu chuyện thân tình giữa ta với ngươi có đem lại kết cục tốt đẹp chăng? Ngươi có chịu tha mạng cho chúng ta, để cả hai được tự do ra đi không?
Bị lời lẽ ngọt ngào của Su-mu-kha làm cho xiêu lòng, người thợ bẫy nói:
— Ngươi không phải tù binh của ta. Đi đi, đi nhanh khỏi nơi này. Ta không muốn làm ngươi đổ máu. Hãy bình an mà sống thêm nhiều năm nữa.
Su-mu-kha đáp:
— Nếu bạn ta chết thì ta cũng chẳng thiết sống làm gì. Ngươi hãy bằng lòng với một con thôi, hãy tha cho ngài, rồi ăn thịt ta thay vào. Hai ta tuổi tác ngang nhau, thân hình dài rộng cũng như nhau. Ngươi đổi ta lấy ngài thì cũng chẳng thiệt gì. Hãy nghĩ như thế, rồi lấy thịt ta mà ăn cho thoả. Trước hết hãy trói ta vào bẫy, rồi thả vua của loài chim ra. Như thế ngươi được điều ngươi muốn, ta được điều lòng ta mong, và giữa loài ngỗng với ngươi sẽ có hoà bình chừng nào ngươi còn sống.
Nhờ những lời giảng về lẽ phải ấy, lòng người thợ bẫy mềm ra như bông thấm dầu. Hắn trao bậc Đại Sĩ lại cho Su-mu-kha, như người đầy tớ trao lại cho chủ, và nói:
— Hỡi các bậc hiền giả, hỡi bạn bè, hỡi tôi tớ và họ hàng, hãy làm chứng cho ta. Chỉ nhờ có ngươi mà vua của loài chim được tự do. Ít ai có được một người bạn như ngươi, sẵn lòng cùng chịu chung số phận khi vua mình sa vào bẫy chết người. Vì thế ta thả người bạn của ngươi, vị vua ấy, để ngài theo ngươi bay đi thật xa. Hãy đi nhanh lên, về giữa họ hàng mà toả sáng như một vì sao.
Nói rồi, người thợ bẫy lòng đầy thương cảm tới gần bậc Đại Sĩ. Hắn cắt dây trói, ôm ngỗng chúa vào lòng, nhấc lên khỏi mặt nước, đặt nằm trên bãi cỏ non bên bờ hồ. Hắn nhẹ nhàng gỡ chiếc thòng lọng khỏi chân ngỗng chúa, ném ra thật xa. Rồi với một tình thương sâu đậm dành cho bậc Đại Sĩ, hắn lấy nước rửa sạch máu nơi vết thương, lau đi lau lại.
Nhờ sức mạnh của lòng nhân từ ấy, vết thương ở chân đức Bồ Tát liền lại, gân liền với gân, thịt liền với thịt, da liền với da. Da non mọc ra, lông tơ mới phủ lên. Đức Bồ Tát trở lại y như chân chưa từng mắc bẫy, ngồi đó hân hoan trong dáng vẻ thường ngày của mình.
Thấy bậc Đại Sĩ vui vẻ như thế, đều là nhờ việc làm của người thợ bẫy, Su-mu-kha mừng rỡ cất lời ngợi khen:
— Hỡi người thợ bẫy, cầu cho anh cùng với tất cả họ hàng bà con được hạnh phúc, như ta đang hạnh phúc khi thấy vua của loài chim được tự do.
Ngợi khen người thợ bẫy xong, Su-mu-kha nói với đức Bồ Tát:
— Tâu bệ hạ, người này đã giúp chúng ta một việc lớn. Nếu không nghe lời chúng ta, anh ta đã có thể kiếm được bộn tiền, hoặc bằng cách thuần dưỡng chúng ta làm chim cảnh dâng lên các bậc quyền quý, hoặc bằng cách giết chúng ta mà bán thịt. Vậy mà anh ta chẳng màng tới miếng cơm manh áo của mình, chịu nghe lời chúng ta. Chúng ta hãy dẫn anh ta tới gặp nhà vua, để anh ta được sung sướng suốt đời.
Bậc Đại Sĩ bằng lòng. Su-mu-kha bàn với bậc Đại Sĩ bằng tiếng của loài ngỗng xong, quay sang nói với người thợ bẫy bằng tiếng người:
— Này bạn, vì sao bạn giăng bẫy?
— Để kiếm sống.
— Đã vậy thì bạn hãy mang chúng tôi vào thành, dâng lên nhà vua của bạn. Tôi sẽ xin nhà vua ban cho bạn thật nhiều của cải. Nào, tôi sẽ chỉ cho bạn cách kiếm được nhiều của cải, vì danh dự của vị ngỗng chúa này không thể để vướng một vết nhơ nào. Hãy mau đưa chúng tôi tới triều đình, thân thể vẹn nguyên, đứng thong thả không trói buộc ở hai đầu chiếc đòn gánh của bạn. Rồi hãy tâu rằng: Tâu bệ hạ, đây là đôi ngỗng trời chúng thần mang tới dâng bệ hạ, một con là vị tướng đứng đầu đàn, con kia là vua của chúng. Vị chúa của loài người ấy trông thấy ngỗng chúa sẽ vui mừng khôn xiết, và ban cho bạn thật nhiều của cải.
Nghe vậy, người thợ bẫy đáp:
— Thôi, các ngài đừng nên tới gặp vua. Vua chúa hay thay lòng đổi dạ lắm. Họ sẽ nhốt các ngài lại để mua vui, hoặc giết các ngài đi.
Su-mu-kha nói:
— Đừng sợ, bạn ơi. Nhờ giảng về lẽ phải mà tôi đã làm mềm được lòng một kẻ dữ dằn như bạn, đưa bạn tới phục dưới chân tôi, một người bẫy chim tay còn đỏ máu. Vua chúa vốn đầy lòng tốt và sự sáng suốt, biết phân biệt lời hay lẽ dở. Vậy bạn hãy mau đưa chúng tôi tới gặp nhà vua của bạn.
— Vậy xin các ngài đừng giận tôi. Các ngài đã muốn thế thì tôi xin đưa các ngài tới.
Thế là người thợ bẫy đặt đôi chim lên đòn gánh, mang vào triều, dâng lên nhà vua. Vua hỏi, người thợ bẫy kể lại hết mọi sự:
— Tâu bệ hạ, đây là đôi ngỗng trời chúng thần mang tới dâng bệ hạ. Một con là vị tướng đứng đầu đàn, con kia là vua của chúng.
Vua hỏi:
— Hỡi người thợ bẫy, làm sao đôi chim có cánh hùng mạnh này lại sa vào tay ngươi? Làm sao ngươi rón rén tới được sát bên chúng mà không làm chúng sợ bay đi?
— Tâu chúa của loài người, ở mỗi ao hồ, ở mỗi chốn chim muông lui tới, thần đều giăng sẵn bẫy, sẵn lưới. Chính trong một chiếc bẫy giấu kín như thế mà thần bắt được vua của loài ngỗng. Còn người bạn của ngài, vẫn tự do, cứ ngồi cạnh ngài mà tìm cách cứu chủ. Con chim này đã làm một việc mà kẻ tầm thường không làm nổi: quyết dốc hết sức để giải thoát cho chủ mình. Nó ngồi đó, một kẻ đáng được sống, mà vui lòng dâng mạng sống của mình, miễn sao vị chúa mà nó ca ngợi được sống. Nghe những lời nó nói, bỗng chốc lòng thần trở nên hiền thiện. Thần vui lòng thả con chim bị bắt, bảo chúng hãy rời khỏi chỗ ấy. Con ngỗng mừng rỡ vì chúa được tự do, đã nói với thần những lời ngọt ngào, rồi bảo thần đưa chúng tới đây để thần được ban thưởng. Thế là theo lời nó, thần dẫn đôi chim tới đây, dù chúng hoàn toàn tự do quay về núi. Đó là chuyện đã xảy ra với con chim này. Nó hiền đức tới mức làm động lòng thương của cả một kẻ bẫy chim dữ dằn như thần. Tâu chúa của loài người, thần xin dâng con ngỗng này lên bệ hạ. Giữa chốn những người đi săn chim, khó mà tìm được con nào sánh bằng.
Người thợ bẫy đứng đó ca ngợi đức hạnh của Su-mu-kha như vậy. Vua Sa-cu-la bèn mời ngỗng chúa ngồi lên một chiếc ngai quý giá, mời Su-mu-kha ngồi lên một chiếc ghế vàng quý báu. Khi đôi chim đã an toạ, vua sai dọn lúa rang, mật ong, mật mía và những món tương tự trong những chiếc đĩa vàng. Chờ đôi chim ăn xong, vua chắp tay xin bậc Đại Sĩ giảng đạo, rồi ngồi xuống một chiếc ghế vàng. Theo lời thỉnh cầu của vua, ngỗng chúa trò chuyện thân mật với vua.
Thấy nhà vua đã ngồi trên chiếc ghế vàng xinh đẹp, ngỗng chúa cất giọng êm tai mà hỏi han:
— Tâu đức vua, ngài có được mạnh khoẻ, mọi sự đều tốt đẹp chứ? Tôi mong rằng đất nước của ngài thịnh vượng và được cai trị công bằng.
— Hỡi vua ngỗng, ta vẫn mạnh khoẻ, mọi sự đều tốt đẹp. Đất nước ta rất thịnh vượng và được cai trị công bằng.
— Ngài có những người ngay thẳng giúp việc, không vết nhơ, không đáng chê trách, sẵn sàng chết khi cần, vì sự nghiệp tốt đẹp và danh dự của ngài chứ?
— Ta có những người ngay thẳng giúp việc, không vết nhơ, không đáng chê trách, sẵn sàng chết khi cần, vì sự nghiệp tốt đẹp và danh dự của ta.
— Ngài có một người vợ môn đăng hộ đối, biết nghe lời, ăn nói dịu dàng, con cái đề huề, nhan sắc đẹp đẽ, tiếng tốt, hoà thuận với chồng chứ?
— Ta có một người vợ môn đăng hộ đối, biết nghe lời, ăn nói dịu dàng, con cái đề huề, nhan sắc đẹp đẽ, tiếng tốt, hoà thuận với chồng.
Khi đức Bồ Tát hỏi han thân tình xong, nhà vua lại trò chuyện:
— Hỡi chim, khi rủi ro đưa ngài vào tay kẻ thù nguy hiểm nhất của mình, ngài có phải chịu nhiều đau đớn dưới tay hắn không? Hắn có chạy tới lấy gậy đánh ngài không? Ta nghe nói bọn người hèn hạ ấy thường vẫn làm như thế.
— Tôi chưa từng gặp nguy hiểm gì, tôi xin biết ơn mà nhắc lại như vậy. Hắn cũng không đối xử với chúng tôi như kẻ thù chút nào cả. Người thợ bẫy run run, ngạc nhiên, muốn hỏi chuyện chúng tôi, và Su-mu-kha, con chim khôn ngoan nhất trong loài chim, đã trả lời hắn. Nghe những lời ấy, bỗng chốc lòng hắn trở nên hiền thiện. Hắn vui lòng gỡ tôi ra khỏi bẫy, bảo chúng tôi rời khỏi chỗ ấy. Su-mu-kha muốn tới thăm ngài, tâu đức vua, nghĩ rằng như thế người bạn thợ bẫy của chúng tôi sẽ được nhiều của cải.
— Ta rất mừng được gặp các ngài ở đây, các ngài cứ tin như thế. Và người bạn thợ bẫy của các ngài sẽ được ban thưởng của cải thật đầy đủ.
Nói rồi, vua đưa mắt nhìn một vị quan. Vị quan hỏi:
— Bệ hạ có điều chi sai bảo?
— Hãy đưa người thợ bẫy này đi cắt tóc, tỉa râu, tắm rửa, xoa dầu thơm, mặc cho anh ta bộ quần áo thật sang, rồi đưa trở lại đây.
Làm xong, người thợ bẫy được đưa trở lại. Vua ban cho anh ta một ngôi làng mỗi năm thu được một trăm nghìn đồng tiền, lại thêm một ngôi nhà nằm ở góc hai con phố, một cỗ xe lộng lẫy và rất nhiều vàng ròng.
Nhà vua ban thưởng hậu hĩnh cho người thợ bẫy như thế, rồi quay sang trò chuyện với ngỗng chúa. Bậc Đại Sĩ giảng cho vua nghe về lẽ phải. Nghe ngỗng chúa giảng giải, vua vui lòng lắm. Muốn tỏ lòng kính trọng người giảng đạo, vua dâng ngỗng chúa chiếc lọng trắng, nhường cả vương quốc cho ngài, và nói:
— Tất cả những gì ta sở hữu một cách chính đáng, tất cả những gì ta có quyền đòi hỏi một cách chính đáng, đều sẽ thuộc quyền các ngài, nếu các ngài nói ra điều mình mong muốn. Dù để bố thí, hay để hưởng dùng cho riêng mình, ta xin nhường các ngài tất cả của cải, nhường cả ngai vàng.
Bậc Đại Sĩ trả lại chiếc lọng trắng cho nhà vua. Vua lại nghĩ: "Ta đã được nghe ngỗng chúa giảng đạo. Nhưng Su-mu-kha này được người thợ bẫy hết lời ca ngợi là ăn nói ngọt như mật. Ta cũng phải được nghe ngài giảng đạo nữa." Thế là vua nói:
— Nếu Su-mu-kha hiền trí và thông thái vui lòng nói đôi lời, thì niềm vui của ta sẽ còn lớn hơn nữa.
Su-mu-kha đáp:
— Tâu bệ hạ, trước mặt bệ hạ, tôi không dám tự tiện nói lấy một lời, như thể tôi là một vị hoàng tử nào đó. Bởi vì vị chúa của loài ngỗng đây, và bệ hạ, vị vua hùng mạnh, đều xứng đáng nhận lòng tôn kính của tôi vì nhiều lẽ. Tôi chỉ là kẻ bề dưới, thưa bệ hạ, đâu dám chen lời khi hai bậc vua chúa đang bàn chuyện lớn.
Nghe vậy, vua vui lòng lắm, nói:
— Người thợ bẫy khen ngài thật đúng. Chắc hẳn không ai giảng đạo ngọt ngào bằng ngài. Người thợ bẫy khen con chim này khôn ngoan hơn đồng loại là phải lắm. Sự thận trọng như thế không thể có ở kẻ không biết rèn giũa tâm trí. Trong những sinh vật cao quý mà ta từng thấy, những sinh vật mang bản tính cao quý nhất, chắc chắn con chim có một không hai này là tốt đẹp hơn cả. Dáng vẻ cao quý và lời lẽ ngọt ngào của các ngài làm ta say mê, chỉ mong sao cả hai ngài ở lại với ta thật lâu.
Bấy giờ bậc Đại Sĩ ngợi khen nhà vua:
— Ngài đã đối xử với chúng tôi như người ta đối xử với người bạn thân thiết nhất. Lòng tốt mà ngài dành cho những con chim tội nghiệp chúng tôi lớn lao như vậy đó. Nhưng họ hàng chúng tôi đang thấy một khoảng trống lớn lao, và biết bao con chim đang đau buồn vì không còn thấy mặt chúng tôi. Để xua tan nỗi buồn của họ, xin đức vua hãy cho chúng tôi được đi. Chúng tôi xin cúi đầu từ biệt để bay về gặp lại bạn bè. Tôi rất mừng được quen biết đức vua. Từ nay về sau, tôi mong bạn bè của tôi sẽ bớt đi nỗi sợ hãi.
Nghe vậy, vua để cho đôi chim ra đi. Bậc Đại Sĩ giảng cho vua nghe về những khổ đau theo sau năm điều xấu và những phúc lành theo sau đức hạnh, rồi khuyên:
— Xin ngài hãy giữ giới, trị nước theo lẽ phải, và lấy bốn cách đối đãi tốt đẹp mà chiếm lấy lòng dân.
Nói rồi, ngỗng chúa lập tức bay về núi Chít-ta-cu-ta.
Thấy hai vị chủ của mình từ chốn người ở trở về bình an vô sự, cả đàn ngỗng kêu vang mừng đón. Chúng bay vòng quanh vị vua mà chúng tin cậy, kính cẩn chào mừng, vui sướng vì ngài đã được tự do. Trong khi hộ tống ngỗng chúa, đàn ngỗng hỏi:
— Tâu bệ hạ, làm sao bệ hạ thoát được?
Bậc Đại Sĩ kể cho chúng nghe rằng mình đã thoát nạn nhờ Su-mu-kha, và kể lại việc làm của vua Sa-cu-la cùng người thợ bẫy. Nghe xong, đàn ngỗng vui mừng ca ngợi:
— Cầu cho Su-mu-kha, vị tướng của chúng ta, cầu cho vua Sa-cu-la và người thợ bẫy được sống lâu. Cầu cho họ được hạnh phúc, không bao giờ phải buồn đau.
Những ai mang lòng yêu thương đầy ắp thì làm việc gì cũng thành, như đôi ngỗng trời kia lại được bình an bay về với bạn bè.
Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: người thợ bẫy thuở ấy là Xa-nặc, nhà vua là Xá-lợi-phất, Su-mu-kha là A-nan, đàn ngỗng là các đệ tử của Ngài, còn ngỗng chúa chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích