Truyện Đỉnh

😄 Truyện cười dân gian

Người bán tiếng vọng

của Mark Twain

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 13.643 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Người khách lạ đáng thương, cặp mắt buồn rầu!…
  2. 2:01Tôi viết thư kể cho chú nghe về bộ…
  3. 4:45Giờ thì chú chờ đợi, và suy nghĩ. Chú…
  4. 6:11Có lẽ ông cũng biết, thưa ông, trên thị…
  5. 8:24Thế, ông có thấy hậu quả tất yếu không?…
  6. 10:48Một tuần trước ngày cưới của tôi, trong khi…
  7. 12:53Còn bây giờ, thưa ông, nếu ông vui lòng…

Người khách lạ đáng thương, cặp mắt buồn rầu! Có một cái gì đó trong dáng vẻ khiêm nhường, trong vẻ mệt mỏi, trong bộ quần áo của một người sang trọng đã sa sút của anh ta, gần như chạm tới được cái hạt cải lòng nhân từ còn sót lại, xa xôi và cô độc, giữa khoảng trống mênh mông của trái tim tôi. Ấy vậy mà tôi đã kịp để ý thấy anh ta kẹp một chiếc cặp giấy dưới nách, và tự nhủ: Kìa, Trời đã trao tôi tớ của Người vào tay một gã chào hàng nữa rồi.

Thì đấy, những người này bao giờ cũng làm người ta chú ý. Tôi chưa kịp hiểu chuyện xảy ra thế nào thì anh này đã kể cho tôi nghe lai lịch của anh, còn tôi thì chăm chú lắng nghe, đầy cảm thông. Anh kể đại khái thế này:

Than ôi, cha mẹ tôi mất từ khi tôi còn là một đứa trẻ thơ ngây vô tội. Chú I-thu-ri-en của tôi đem tôi về nuôi, thương yêu tôi như con đẻ. Ông là người thân duy nhất của tôi trên cõi đời rộng lớn này, nhưng ông tốt bụng, giàu có và hào phóng. Ông nuôi tôi trong nhung lụa. Tôi chưa từng biết thiếu thốn thứ gì mà tiền bạc có thể thoả mãn.

Tới tuổi, tôi tốt nghiệp, rồi cùng hai người hầu, một quản gia và một người hầu phòng, đi du lịch nước ngoài. Suốt bốn năm, tôi chao lượn trên đôi cánh vô tư giữa những khu vườn tươi đẹp của miền đất xa xôi, nếu ông cho phép một kẻ mà lưỡi lúc nào cũng hoà nhịp với thi ca được nói kiểu ấy. Mà quả thật tôi nói thế một cách tự tin, như nói với người cùng loại, vì tôi nhận ra qua ánh mắt ông rằng ông cũng được trời phú cho cái hồn thơ phơi phới. Ở những xứ sở xa xôi ấy, tôi say sưa thưởng thức thứ thức ăn thần tiên nuôi dưỡng tâm hồn, trí óc và trái tim.

Nhưng trong mọi thứ, điều hấp dẫn nhất đối với cái khiếu thẩm mỹ bẩm sinh của tôi là thói quen thịnh hành trong giới nhà giàu ở đó: sưu tập những món đồ quý hiếm, đắt tiền, thanh nhã. Và vào một giờ phút xui xẻo, tôi đã cố nâng chú I-thu-ri-en của tôi lên tới chỗ đồng cảm với cái thú tao nhã ấy.

Tôi viết thư kể cho chú nghe về bộ sưu tập vỏ sò đồ sộ của ông này, bộ sưu tập tẩu bọt biển cao quý của ông kia, bộ sưu tập chữ ký không ai đọc nổi đầy tính giáo dục và tinh tế của ông nọ, bộ sưu tập đồ sứ cổ vô giá của một ông khác, bộ sưu tập tem thư mê hồn của một ông khác nữa, vân vân và vân vân. Chẳng bao lâu những lá thư của tôi đã đơm hoa kết trái. Chú tôi bắt đầu tìm kiếm thứ gì đó để sưu tập.

Có lẽ ông cũng biết một cái thú như thế lan rộng nhanh tới mức nào. Chẳng mấy chốc nó thành một cơn sốt dữ dội trong người chú, dù tôi chẳng hề hay biết. Chú bắt đầu sao nhãng công việc buôn bán thịt lợn đồ sộ của mình. Rồi chú nghỉ hẳn, biến những ngày nhàn nhã thanh lịch thành cuộc săn lùng điên cuồng những thứ kỳ lạ. Gia tài chú to lớn, và chú chẳng tiếc tiền.

Đầu tiên chú thử sưu tập chuông bò. Chú gom được một bộ sưu tập chật kín năm phòng khách lớn, gồm đủ mọi loại chuông bò từng được làm ra trên đời, chỉ thiếu một cái. Cái ấy, một món đồ cổ, mẫu duy nhất còn tồn tại, lại nằm trong tay một nhà sưu tập khác. Chú tôi trả những số tiền khổng lồ, nhưng quý ông kia không chịu bán. Hẳn ông cũng biết hậu quả tất yếu là gì. Một nhà sưu tập thực thụ chẳng coi trọng một bộ sưu tập không trọn vẹn. Trái tim lớn của ông ta tan nát, ông ta bán hết kho báu, rồi quay sang một lĩnh vực có vẻ còn chưa ai chiếm.

Chú tôi đã làm như thế. Tiếp theo chú thử sưu tập gạch vỡ. Sau khi chất được một bộ sưu tập đồ sộ, cực kỳ thú vị, thì cái khó cũ lại xảy ra. Trái tim lớn của chú lại tan nát. Chú bán thần tượng của lòng mình cho một ông chủ lò bia đã nghỉ hưu, người đang giữ viên gạch còn thiếu. Rồi chú thử sưu tập rìu đá và các dụng cụ khác của Người Nguyên Thuỷ, nhưng ít lâu sau phát hiện ra rằng cái xưởng làm ra chúng cũng đang cung cấp hàng cho cả những nhà sưu tập khác nữa.

Chú thử sưu tập bia khắc của người A-dơ-tếch và cá voi nhồi bông. Lại thất bại, sau bao công sức, tiền của không thể tin nổi. Khi bộ sưu tập tưởng như cuối cùng đã hoàn hảo, thì một con cá voi nhồi bông được gửi tới từ Grơn-len, và một tấm bia khắc A-dơ-tếch tới từ vùng Cun-đu-ran-gô ở Trung Mỹ, khiến mọi mẫu vật trước đó trở nên tầm thường. Chú tôi vội vàng tìm cách giành lấy những viên ngọc cao quý ấy. Chú có được con cá voi nhồi bông, nhưng một nhà sưu tập khác lại giành được tấm bia. Một tấm Cun-đu-ran-gô thật, có lẽ ông cũng biết, là thứ của quý tới mức một khi nhà sưu tập đã có được nó, ông ta thà rời bỏ gia đình còn hơn rời bỏ nó. Thế là chú tôi bán hết, nhìn những báu vật của mình ra đi, không bao giờ trở lại. Và mái tóc đen nhánh như than của chú bạc trắng như tuyết chỉ sau một đêm.

Giờ thì chú chờ đợi, và suy nghĩ. Chú biết một nỗi thất vọng nữa có thể giết chết chú. Chú quyết lần sau sẽ chọn những thứ không ai khác sưu tập. Chú suy tính kỹ càng, rồi lại bước vào trận địa một lần nữa. Lần này, để sưu tập tiếng vọng.

“Sưu tập cái gì cơ?” Tôi hỏi.

Tiếng vọng, thưa ông. Món đầu tiên chú mua là một tiếng vọng ở Gióoc-gi-a, nhắc lại bốn lần. Món tiếp theo là một tiếng vọng nhắc sáu lần ở Me-ri-len. Tiếp nữa là một tiếng vọng nhắc mười ba lần ở Mên. Tiếp nữa, một tiếng vọng nhắc chín lần ở Can-dát. Tiếp nữa, một tiếng vọng nhắc mười hai lần ở Te-nét-xi, chú mua được giá rẻ, có thể nói vậy, vì nó đang hư hỏng, một phần vách đá phản âm đã đổ sụp.

Chú tin rằng chỉ tốn vài nghìn đô la là sửa được, và nếu xây thêm đá cho cao lên thì sức nhắc lại sẽ tăng gấp ba. Nhưng ông kiến trúc sư nhận việc chưa từng xây tiếng vọng bao giờ, thế là ông ta làm hỏng hẳn nó. Trước khi ông ta động tay vào, nó cãi lại ra rả như bà mẹ vợ. Nhưng giờ thì nó chỉ còn đáng vứt vào trại câm điếc.

Rồi, tiếp theo chú mua cả một lô tiếng vọng hai nòng nho nhỏ, rẻ tiền, rải rác khắp các bang và vùng lãnh thổ. Mua cả lô thì chú được bớt hai mươi phần trăm. Tiếp đó chú mua ở Ô-rê-gơn một tiếng vọng nổ liên thanh như súng máy Ga-linh, tôi nói ông nghe, nó tốn cả một gia tài.

Có lẽ ông cũng biết, thưa ông, trên thị trường tiếng vọng, bảng giá tăng luỹ tiến, giống như cách tính theo ca-ra ở kim cương. Thực ra người ta dùng ngay cái từ ấy. Một tiếng vọng một ca-ra chỉ đáng giá mười đô la, cộng thêm giá mảnh đất có nó. Một tiếng vọng hai ca-ra, tức là hai nòng, đáng giá ba mươi đô la. Năm ca-ra đáng chín trăm năm mươi đô. Mười ca-ra đáng mười ba nghìn. Tiếng vọng Ô-rê-gơn của chú tôi, mà chú gọi là Tiếng Vọng Pít Vĩ Đại, là một viên ngọc hai mươi hai ca-ra, giá hai trăm mười sáu nghìn đô la. Người ta cho không luôn mảnh đất, vì nó cách khu dân cư gần nhất tới bốn trăm dặm.

Còn trong lúc ấy, đường đời tôi rải đầy hoa hồng. Tôi là người cầu hôn được chấp nhận của cô con gái duy nhất, xinh đẹp của một bá tước người Anh, và được nàng yêu tha thiết đến mê mẩn. Bên cạnh nàng, tôi bơi giữa biển hạnh phúc. Gia đình nàng hài lòng, vì ai cũng biết tôi là người thừa kế duy nhất của một ông chú được coi là có năm triệu đô la. Tuy nhiên, chẳng ai trong chúng tôi biết chú tôi đã trở thành nhà sưu tập, ít ra là ở mức hơn một thú vui thẩm mỹ nho nhỏ.

Thế rồi mây đen kéo tới trên cái đầu không hay biết gì của tôi. Cái tiếng vọng thần thánh, mà từ đó đã nổi tiếng khắp thế giới với tên Cô-i-nua Vĩ Đại, hay Núi Tiếng Vọng, được phát hiện ra. Đó là một viên ngọc sáu mươi lăm ca-ra. Những hôm trời lặng gió, ông nói một tiếng là nó đáp lại ông suốt mười lăm phút.

Nhưng kìa, cùng lúc ấy một sự thật khác cũng lộ ra: có một nhà sưu tập tiếng vọng khác đang có mặt trên trận địa. Hai người cùng lao tới để mua món hàng vô song. Tài sản ấy gồm hai quả đồi nhỏ, giữa có một chỗ trũng nông, ở tít ngoài những vùng định cư hẻo lánh của bang Niu Oóc. Hai người tới nơi cùng lúc, chẳng ai biết người kia đang ở đó.

Tiếng vọng ấy không thuộc về một chủ. Một người tên là Uy-li-am-xơn Bô-li-va Gia-vít sở hữu quả đồi phía đông, còn một người tên là Ha-bi-xơn Blét-xô sở hữu quả đồi phía tây. Chỗ trũng ở giữa là đường ranh giới. Thế là trong khi chú tôi mua quả đồi của Gia-vít với giá ba triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn đô la, thì người kia mua quả đồi của Blét-xô với giá nhỉnh hơn ba triệu một chút.

Thế, ông có thấy hậu quả tất yếu không? Này nhé, bộ sưu tập tiếng vọng cao quý nhất thế gian mãi mãi không trọn vẹn, vì nó chỉ có một nửa ông vua của mọi tiếng vọng trong vũ trụ. Chẳng ai bằng lòng với việc sở hữu chia đôi này, mà cũng chẳng ai chịu bán cho người kia. Thế là cãi cọ, xích mích, ghen ghét. Và cuối cùng, nhà sưu tập kia, với một sự độc ác mà chỉ nhà sưu tập mới có thể dành cho người anh em của mình, bắt tay vào san phẳng quả đồi của ông ta!

Ông thấy đấy, đã không có được tiếng vọng thì ông ta quyết không để ai có được. Ông ta sẽ dời quả đồi của mình đi, thế là sẽ chẳng còn gì phản âm lại tiếng vọng của chú tôi. Chú tôi phản đối, nhưng người kia bảo: “Tôi sở hữu một đầu tiếng vọng này. Tôi chọn giết đầu của tôi. Đầu của ông thì ông tự lo lấy.”

Thế là chú tôi xin toà ra lệnh cấm. Người kia kháng cáo, đưa lên toà cấp cao hơn. Họ kiện mãi lên, lên tận Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Ở đó nó gây ra vô số rắc rối. Hai ông thẩm phán cho rằng tiếng vọng là động sản, vì nó không nhìn thấy, không sờ thấy được, nhưng vẫn mua được, bán được, vậy thì đánh thuế được. Hai ông khác cho rằng tiếng vọng là bất động sản, vì rõ ràng nó gắn liền với đất, không chuyển từ chỗ này sang chỗ khác được. Mấy ông thẩm phán còn lại thì cãi rằng tiếng vọng hoàn toàn không phải là tài sản.

Cuối cùng toà phán quyết rằng tiếng vọng là tài sản. Hai quả đồi là tài sản. Hai người là chủ sở hữu riêng biệt, độc lập của hai quả đồi, nhưng là đồng sở hữu chung tiếng vọng. Vì thế bị đơn hoàn toàn được tự do san phẳng quả đồi của mình, vì nó chỉ thuộc về riêng ông ta, nhưng phải ký quỹ ba triệu đô la để bồi thường thiệt hại có thể xảy ra cho nửa tiếng vọng của chú tôi.

Phán quyết này cũng cấm chú tôi dùng quả đồi của bị đơn để phản âm phần tiếng vọng của mình nếu không được bị đơn đồng ý. Chú chỉ được dùng quả đồi của chú. Trong hoàn cảnh ấy mà phần tiếng vọng của chú không chạy, thì dĩ nhiên là đáng buồn, nhưng toà không tìm được cách nào cứu vãn. Toà cũng cấm bị đơn dùng quả đồi của chú tôi để phản âm đầu tiếng vọng của ông ta, nếu không được đồng ý. Ông thấy cái kết quả vĩ đại chưa! Chẳng ai chịu đồng ý cả, thế là cái tiếng vọng tuyệt vời, cao quý ấy phải ngừng phát huy quyền năng vĩ đại của nó. Và từ đó tới nay, khối tài sản lộng lẫy ấy bị phong toả, không bán được.

Một tuần trước ngày cưới của tôi, trong khi tôi vẫn đang bơi trong hạnh phúc, và giới quý tộc từ khắp gần xa đang tụ về dự hôn lễ của chúng tôi, thì có tin chú tôi qua đời, kèm theo một bản sao di chúc chú để lại, cho tôi làm người thừa kế duy nhất. Chú đã đi rồi. Than ôi, ân nhân thân yêu của tôi không còn nữa. Đến tận hôm nay, nghĩ tới điều ấy, tim tôi vẫn nghẹn lại.

Tôi đưa bản di chúc cho ngài bá tước. Nước mắt nhoà đi, tôi không đọc nổi. Ngài bá tước đọc, rồi nghiêm khắc nói:

“Thưa anh, anh gọi cái này là của cải à? Mà chắc là ở cái đất nước phồng to của anh thì người ta gọi thế thật. Thưa anh, anh được để lại làm người thừa kế duy nhất của một bộ sưu tập tiếng vọng đồ sộ, nếu như có thể gọi là bộ sưu tập một thứ rải rác khắp chiều dài chiều rộng mênh mông của lục địa châu Mỹ. Thưa anh, chưa hết đâu. Anh nợ ngập đầu ngập cổ. Trong cả lô ấy không có tiếng vọng nào không bị đem cầm cố.

Thưa anh, tôi không phải người khắc nghiệt, nhưng tôi phải nghĩ tới quyền lợi của con tôi. Giả như anh có lấy một tiếng vọng mà anh có thể đường hoàng gọi là của mình, giả như anh có lấy một tiếng vọng không bị cầm cố, để anh có thể cùng con tôi lui về đó, cần cù, khiêm nhường mà vun trồng, cải tạo nó, và nhờ thế mà kiếm sống, thì tôi đã không nói không với anh. Nhưng tôi không thể gả con tôi cho một kẻ ăn mày. Rời xa hắn ra, con yêu của cha. Còn anh, đi đi, mang lũ tiếng vọng ngập trong nợ nần của anh mà biến khỏi mắt tôi mãi mãi.”

Nàng Xê-lét-xtin cao quý của tôi ôm chặt lấy tôi trong nước mắt, bằng đôi tay yêu thương, và thề rằng nàng sẵn lòng, mà không, nàng vui lòng lấy tôi, dù tôi chẳng có lấy một tiếng vọng nào trên đời. Nhưng không thể được. Chúng tôi bị chia lìa. Nàng thì héo hon rồi mất trong vòng một năm, còn tôi thì lầm lũi suốt chặng đường đời dài đằng đẵng, buồn bã, cô đơn, ngày ngày, giờ giờ cầu nguyện cho sự giải thoát sẽ đưa chúng tôi về bên nhau, nơi cõi thân yêu mà kẻ ác thôi quấy phá và người mỏi mệt được nghỉ ngơi.

Còn bây giờ, thưa ông, nếu ông vui lòng xem qua những tấm bản đồ, bản vẽ trong cặp của tôi đây, tôi tin chắc tôi có thể bán cho ông một tiếng vọng rẻ hơn bất cứ ai trong nghề. Này nhé, cái này, chú tôi mua ba mươi năm trước với giá mười đô la, một trong những tiếng vọng ngọt ngào nhất ở Tếch-dát, tôi để lại cho ông với giá...

“Cho tôi ngắt lời anh,” tôi nói. “Anh bạn ạ, cả ngày hôm nay tôi chẳng được một phút yên thân với mấy anh chào hàng. Tôi đã mua một cái máy khâu mà tôi chẳng cần. Tôi đã mua một tấm bản đồ sai bét mọi chi tiết. Tôi đã mua một cái đồng hồ không chạy. Tôi đã mua một thứ thuốc diệt nhậy mà lũ nhậy khoái hơn mọi thứ đồ uống khác. Tôi đã mua vô số phát minh vô dụng, và bây giờ thì tôi ngán cái trò ngớ ngẩn này lắm rồi. Anh có cho không tôi một tiếng vọng của anh thì tôi cũng chẳng thèm. Tôi sẽ không để nó ở trong nhà. Tôi xưa nay vẫn ghét những kẻ định bán tiếng vọng cho tôi. Anh thấy khẩu súng này chứ? Thôi, mang bộ sưu tập của anh đi đi, đừng để đổ máu.”

Nhưng anh ta chỉ mỉm cười, một nụ cười buồn và dịu dàng, rồi lấy thêm mấy bản vẽ nữa ra. Kết cục thế nào thì các bạn biết rõ quá rồi, vì các bạn biết rằng một khi đã mở cửa cho người chào hàng, thì tai hoạ đã xảy ra và bạn chỉ còn nước chịu thua.

Sau một giờ đồng hồ không chịu nổi, tôi thoả hiệp với anh ta. Tôi mua hai tiếng vọng hai nòng còn tốt, và anh ta cho thêm một cái nữa, vì anh ta bảo cái ấy không bán được, do nó chỉ nói được tiếng Đức. Anh ta nói: “Xưa kia nó là một cô nàng thạo đủ thứ tiếng, chẳng hiểu sao rồi cái giọng nó cứ tụt dần.”

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1876
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Canvasser's Tale, Mark Twain, 1876, bản in trong tập Alonzo Fitz and Other Stories (Project Gutenberg số 3184)
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →