Viên lục sự ngạch bét, kẻ độc tài nơi trạm ngựa. Thơ công tước Vi-a-dem-xki.
Ai mà chưa từng nguyền rủa những người coi trạm ngựa, ai mà chưa từng cãi nhau với họ? Ai mà chưa từng, trong cơn giận dữ, đòi họ đưa cuốn sổ định mệnh ra để ghi vào đó một lời khiếu nại vô ích về sự hà hiếp, thô lỗ và tắc trách? Ai mà không coi họ là quái vật của loài người, ngang với bọn thư lại thời xưa, hay chí ít cũng ngang với bọn cướp đường ở Mu-rôm?
Nhưng ta hãy công bằng, hãy thử đặt mình vào hoàn cảnh của họ, và có lẽ ta sẽ xét đoán họ độ lượng hơn nhiều. Người coi trạm là gì? Là một kẻ tử vì đạo đích thực của ngạch quan thứ mười bốn, cái phẩm hàm chỉ che chở cho y khỏi bị đánh, mà cũng không phải lúc nào cũng che được, tôi xin viện đến lương tâm của bạn đọc. Chức phận của kẻ độc tài ấy, như công tước Vi-a-dem-xki đùa gọi, là gì? Chẳng phải là khổ sai thật sự sao? Ngày cũng như đêm không lúc nào yên. Bao nhiêu bực bội dồn nén suốt chặng đường dài buồn chán, khách đi đường đều trút cả lên đầu người coi trạm. Thời tiết khó chịu, đường xá tồi tệ, xà ích bướng bỉnh, ngựa không chịu kéo, đều là lỗi của người coi trạm.
Bước vào căn nhà nghèo nàn của y, khách nhìn y như nhìn kẻ thù. May thì y sớm tống khứ được vị khách không mời. Nhưng nếu không có ngựa? Trời ơi! Bao nhiêu lời chửi rủa, bao nhiêu lời đe doạ trút xuống đầu y! Mưa gió lầy lội, y phải chạy khắp các nhà. Bão tuyết, rét cắt da dịp lễ Hiển Linh, y phải ra đứng ngoài hiên, chỉ để được nghỉ một phút khỏi những tiếng quát tháo, những cú đấm của vị khách đang nổi cáu.
Một ông tướng đến. Người coi trạm run rẩy giao cho ông hai cỗ xe ba ngựa cuối cùng, kể cả cỗ dành cho người đưa công văn. Ông tướng đi, chẳng nói với y lấy một lời cám ơn. Năm phút sau, chuông leng keng! Và một viên sĩ quan liên lạc ném tờ giấy đi đường lên bàn y! Ta hãy suy xét kỹ mọi điều ấy, và thay cho phẫn nộ, lòng ta sẽ tràn đầy thương cảm chân thành.
Thêm vài lời nữa. Suốt hai mươi năm liền, tôi đã đi khắp nước Nga theo mọi ngả. Hầu hết các tuyến đường trạm tôi đều biết. Mấy thế hệ xà ích tôi đều quen. Hiếm có người coi trạm nào tôi không biết mặt, hiếm có người nào tôi chưa từng giao thiệp. Tôi hy vọng không bao lâu nữa sẽ cho in tập ghi chép thú vị trong những chuyến đi của mình. Còn bây giờ tôi chỉ nói rằng giới coi trạm đã bị dư luận hình dung một cách sai lệch nhất. Những người coi trạm bị vu oan đến thế, nói chung lại là những người hiền lành, bẩm tính hay giúp đỡ, thích giao du, khiêm tốn trong chuyện danh vọng và không quá ham tiền. Trò chuyện với họ, điều mà các ngài khách đi đường vẫn coi thường một cách vô lý, ta có thể rút ra được nhiều điều thú vị và bổ ích. Riêng tôi, thú thật, tôi thích chuyện trò với họ hơn là nghe một viên quan ngạch thứ sáu nào đó đi công cán nói.
Dễ đoán ra rằng tôi có vài người bạn trong giới coi trạm đáng kính. Quả thật, kỷ niệm về một người trong số họ với tôi rất quý giá. Có một thời hoàn cảnh đã đưa chúng tôi lại gần nhau, và chính về ông mà giờ đây tôi muốn kể với bạn đọc thân mến.
Tháng năm năm một nghìn tám trăm mười sáu, tôi có dịp đi qua một tỉnh nọ, theo một tuyến đường nay đã bỏ. Hồi ấy tôi còn ở phẩm hàm thấp, đi xe trạm đổi ngựa, trả tiền cho hai con ngựa. Vì thế mà người coi trạm chẳng khách sáo gì với tôi, và nhiều khi tôi phải giành giật mới có được cái mà theo tôi nghĩ, tôi có quyền được hưởng. Còn trẻ và nóng nảy, tôi phẫn nộ trước sự hèn hạ, nhu nhược của người coi trạm mỗi khi y đem cỗ xe ba ngựa đã sửa soạn cho tôi giao cho xe của một ông quan có phẩm hàm. Cũng lâu lắm tôi mới quen được với cảnh một tên gia nhân biết chọn mặt gửi vàng bưng món ăn đi qua mặt tôi trong bữa tiệc ở dinh tổng đốc. Bây giờ thì cả hai điều đó tôi đều thấy là lẽ thường. Thật vậy, chúng ta sẽ ra sao nếu thay cho cái lệ tiện lợi cho tất cả là "kính trọng theo phẩm hàm", người ta lại đặt ra một lệ khác, chẳng hạn "kính trọng theo trí tuệ"? Sẽ nổ ra bao nhiêu cuộc cãi vã! Và gia nhân biết dọn món cho ai trước? Nhưng tôi xin quay về với câu chuyện của mình.
Hôm ấy trời nóng. Còn cách trạm ba dặm thì mưa bắt đầu lắc rắc, rồi một phút sau, một trận mưa như trút làm tôi ướt sũng đến sợi chỉ cuối cùng. Đến trạm, việc đầu tiên là thay ngay quần áo, việc thứ hai là gọi trà.
– Đu-nhi-a ơi! Người coi trạm gọi to. Đặt ấm xa-mô-va đi, rồi đi lấy kem sữa.
Nghe gọi, một cô bé chừng mười bốn tuổi từ sau tấm vách ngăn bước ra, chạy ra hiên. Vẻ đẹp của cô làm tôi sửng sốt.
– Con gái bác đấy à? Tôi hỏi người coi trạm.
– Con gái tôi đấy ạ, ông đáp với vẻ tự hào mãn nguyện. Con bé khôn lắm, nhanh nhẹn lắm, giống hệt mẹ nó, bà nhà tôi đã khuất.
Rồi ông bắt đầu chép giấy đi đường của tôi, còn tôi ngắm những bức tranh trang trí căn nhà đơn sơ mà sạch sẽ của ông. Tranh vẽ chuyện đứa con hoang đàng. Bức thứ nhất vẽ một ông già đáng kính đội mũ ngủ, mặc áo choàng ngủ, tiễn một chàng trai bồn chồn. Chàng vội vàng nhận lời chúc phúc và túi tiền của cha. Bức thứ hai tả bằng những nét rực rỡ cảnh chàng trai trác táng: chàng ngồi bên bàn, vây quanh là bạn bè giả dối và những người đàn bà trơ trẽn. Bức sau nữa, chàng trai đã phá sạch gia tài, áo quần rách rưới, đội mũ ba sừng, đi chăn lợn và ăn chung máng với lợn. Trên mặt chàng hiện rõ nỗi buồn sâu sắc và lòng ăn năn. Cuối cùng là cảnh chàng trở về với cha. Ông già tốt bụng vẫn đội cái mũ ngủ ấy, mặc cái áo choàng ngủ ấy, chạy ra đón con. Đứa con hoang đàng quỳ gối. Phía xa, người đầu bếp đang giết con bê béo, còn người anh cả thì hỏi gia nhân vì sao lại vui mừng đến thế. Dưới mỗi bức tranh, tôi đọc được mấy câu thơ tiếng Đức thích hợp.
Tất cả những điều ấy đến nay tôi vẫn còn nhớ, cũng như những chậu hoa bóng nước, chiếc giường có tấm rèm sặc sỡ và mọi đồ vật khác quanh tôi hồi ấy. Tôi như vẫn thấy chính ông chủ nhà, người chừng năm mươi tuổi, tươi tỉnh, khoẻ mạnh, mặc chiếc áo choàng dài màu xanh lá cây có đeo ba tấm huy chương trên những dải băng đã bạc màu.
Tôi chưa kịp trả tiền cho bác xà ích già thì Đu-nhi-a đã mang ấm xa-mô-va vào. Cô bé làm duyên ấy, mới nhìn lần thứ hai đã nhận ra ấn tượng mình gây ra cho tôi. Cô cụp đôi mắt xanh to xuống. Tôi bắt chuyện với cô, cô trả lời chẳng chút rụt rè, như một cô gái đã từng trải. Tôi mời cha cô một cốc rượu pân-sơ, đưa Đu-nhi-a một chén trà, và ba chúng tôi chuyện trò như quen nhau từ lâu lắm.
Ngựa đã sẵn sàng từ lâu, mà tôi vẫn không muốn chia tay hai cha con người coi trạm. Cuối cùng tôi cũng từ biệt họ. Người cha chúc tôi thượng lộ bình an, còn cô con gái tiễn tôi ra tận xe. Ra đến hiên, tôi dừng lại, xin phép cô cho tôi hôn một cái. Đu-nhi-a bằng lòng… Tôi có thể kể ra rất nhiều nụ hôn, từ thuở tôi bắt đầu chuyện ấy, nhưng chẳng có nụ hôn nào để lại trong tôi một kỷ niệm lâu bền và êm ái đến thế.
Vài năm trôi qua, hoàn cảnh lại đưa tôi đến đúng tuyến đường ấy, đúng những nơi ấy. Tôi nhớ đến cô con gái của người coi trạm già, và mừng khi nghĩ rằng sẽ được gặp lại cô. Nhưng tôi lại nghĩ, có khi người coi trạm già đã bị thay rồi. Hẳn Đu-nhi-a đã lấy chồng. Ý nghĩ rằng một trong hai người có thể đã chết cũng thoáng qua đầu tôi, và tôi đến gần trạm với một linh cảm buồn bã.
Ngựa dừng trước căn nhà trạm. Bước vào phòng, tôi nhận ra ngay những bức tranh vẽ chuyện đứa con hoang đàng. Bàn và giường vẫn ở chỗ cũ. Nhưng trên cửa sổ không còn hoa, và mọi thứ xung quanh đều có vẻ cũ nát, bỏ bê. Người coi trạm đang ngủ, đắp chiếc áo lông cừu. Tôi đến làm ông thức giấc. Ông nhổm dậy… Đúng là ông Xam-xôn Vư-rin. Nhưng sao ông già đi nhiều thế! Trong khi ông sửa soạn chép giấy đi đường của tôi, tôi nhìn mái tóc bạc, những nếp nhăn sâu trên khuôn mặt lâu ngày không cạo, cái lưng còng, và không khỏi ngạc nhiên sao chỉ ba bốn năm mà một người đàn ông khoẻ mạnh đã biến thành một ông già ốm yếu đến thế.
– Bác có nhận ra tôi không? Tôi hỏi ông. Chúng ta là chỗ quen biết cũ đấy.
– Có thể lắm, ông đáp, giọng u buồn. Đây là đường cái lớn, khách qua lại chỗ tôi nhiều lắm.
– Cô Đu-nhi-a nhà bác có khoẻ không? Tôi hỏi tiếp.
Ông già cau mày.
– Có trời mà biết, ông đáp.
– Vậy chắc cô ấy lấy chồng rồi? Tôi nói.
Ông già làm như không nghe câu hỏi của tôi, cứ lẩm nhẩm đọc tiếp tờ giấy đi đường. Tôi thôi không hỏi nữa, sai đặt ấm trà. Trí tò mò bắt đầu làm tôi bứt rứt, và tôi hy vọng rượu pân-sơ sẽ làm ông bạn cũ của tôi mở miệng.
Tôi không lầm. Ông già không từ chối cốc rượu tôi mời. Tôi nhận thấy rượu rum làm vẻ u sầu của ông sáng ra. Đến cốc thứ hai, ông đã bắt đầu nói nhiều. Ông nhớ ra, hoặc làm ra vẻ nhớ ra tôi, và tôi được nghe ông kể một câu chuyện mà hồi ấy khiến tôi rất chú ý và xúc động.
– Vậy ra ông biết Đu-nhi-a nhà tôi? Ông bắt đầu. Mà ai lại chẳng biết nó? Ôi, Đu-nhi-a, Đu-nhi-a! Con bé ấy mới đáng yêu làm sao! Khách nào đi qua cũng khen, chẳng ai chê. Các bà các cô tặng nó quà, người cái khăn tay, người đôi hoa tai. Các ông khách cố ý dừng lại, làm như để ăn trưa, ăn tối, mà thật ra chỉ để được ngắm nó lâu hơn. Có ông khách dù khó tính đến đâu, gặp nó cũng dịu xuống, nói năng tử tế với tôi. Ông có tin không, thưa ông, các anh lính đưa công văn, các ông sĩ quan liên lạc đứng nói chuyện với nó cả nửa tiếng. Cả cái nhà này nhờ nó mà đứng vững: cái gì cần dọn dẹp, cái gì cần sửa soạn, việc gì nó cũng làm kịp. Còn tôi, cái lão già ngốc này, ngắm con mãi không chán, mừng mãi không thôi. Tôi mà lại không thương Đu-nhi-a của tôi sao, tôi mà lại không nâng niu con tôi sao? Nó mà lại không sung sướng sao? Nhưng không, tai hoạ thì cầu trời cũng chẳng tránh được. Số đã định thì chẳng thoát được.
Rồi ông kể tỉ mỉ cho tôi nghe nỗi đau của ông.
Ba năm trước, vào một buổi tối mùa đông, lúc người coi trạm đang kẻ dòng cho cuốn sổ mới, còn con gái ông ngồi sau vách may áo, thì một cỗ xe ba ngựa đỗ lại. Một người khách đội mũ lông kiểu Tréc-kéc, mặc áo khoác quân đội, quấn khăn choàng, bước vào phòng đòi ngựa. Ngựa đều đã đi hết cả. Nghe vậy, người khách lớn tiếng, giơ cả roi lên. Nhưng Đu-nhi-a vốn quen với những cảnh như thế, chạy ra từ sau vách, dịu dàng hỏi khách có muốn dùng chút gì không. Đu-nhi-a xuất hiện, và hiệu quả vẫn như mọi lần. Cơn giận của người khách tan biến. Anh ta đồng ý chờ ngựa, gọi bữa tối.
Bỏ cái mũ lông ướt sũng xù xì, gỡ khăn choàng, cởi áo khoác ra, người khách hiện ra là một chàng sĩ quan kỵ binh khinh kỵ trẻ, dáng thon thả, ria đen. Anh ta ngồi lại ở nhà người coi trạm, vui vẻ chuyện trò với ông và cô con gái. Bữa tối dọn ra. Trong khi ấy ngựa về, và người coi trạm bảo thắng ngay vào xe khách, khỏi cho ăn. Nhưng quay vào thì ông thấy chàng trai nằm trên ghế dài gần như bất tỉnh. Anh ta thấy khó ở, đau đầu, không đi được… Biết làm sao! Người coi trạm nhường giường của mình cho anh ta, và định rằng nếu người ốm không đỡ thì sáng hôm sau sẽ cho người lên thị trấn mời thầy thuốc.
Hôm sau, chàng kỵ binh nặng hơn. Người hầu của anh ta cưỡi ngựa lên thị trấn mời thầy thuốc. Đu-nhi-a lấy chiếc khăn tẩm giấm buộc lên đầu cho anh ta, rồi mang đồ khâu ngồi bên giường. Trước mặt người coi trạm, người ốm cứ rên rỉ, hầu như không nói lời nào. Vậy mà anh ta vẫn uống hết hai cốc cà phê, rồi vừa rên vừa gọi bữa trưa. Đu-nhi-a không rời anh ta. Chốc chốc anh ta lại đòi uống, và Đu-nhi-a đưa cho anh ta cốc nước chanh cô tự pha. Người ốm nhấp môi, và mỗi lần trả cốc, lại yếu ớt siết tay Đu-nhi-a tỏ ý cám ơn.
Đến trưa thì thầy thuốc tới. Ông bắt mạch người ốm, nói chuyện với anh ta bằng tiếng Đức, rồi tuyên bố bằng tiếng Nga rằng anh ta chỉ cần nghỉ ngơi yên tĩnh, độ hai ngày nữa là có thể lên đường. Chàng kỵ binh trao cho ông hai mươi lăm rúp tiền thăm bệnh, mời ông ở lại ăn trưa. Thầy thuốc nhận lời. Cả hai ăn ngon lành, uống hết một chai rượu vang, rồi chia tay nhau rất vừa lòng.
Thêm một ngày nữa trôi qua, và chàng kỵ binh khỏi hẳn. Anh ta vui vẻ vô cùng, đùa luôn miệng khi với Đu-nhi-a, khi với người coi trạm. Anh ta huýt sáo các bài hát, chuyện trò với khách qua đường, ghi giấy đi đường của họ vào sổ trạm, và được người coi trạm tốt bụng quý đến nỗi sáng ngày thứ ba ông thấy tiếc phải chia tay vị khách dễ mến.
Hôm ấy là chủ nhật. Đu-nhi-a sửa soạn đi lễ. Xe của chàng kỵ binh đã thắng xong. Anh ta từ biệt người coi trạm, thưởng hậu cho ông tiền trọ và ăn uống. Anh ta từ biệt cả Đu-nhi-a, và ngỏ ý chở cô đến nhà thờ ở cuối làng. Đu-nhi-a đứng ngần ngừ…
– Con sợ gì nào? Cha cô bảo. Ngài đây có phải chó sói đâu mà ăn thịt con. Con cứ ngồi xe đến nhà thờ đi.
Đu-nhi-a ngồi vào xe cạnh chàng kỵ binh, người hầu nhảy lên ghế xà ích, xà ích huýt sáo, và ngựa phi đi.
Người coi trạm tội nghiệp không hiểu sao chính ông lại có thể để Đu-nhi-a của ông đi cùng chàng kỵ binh, sao ông lại mù quáng đến thế, đầu óc ông lúc ấy để đâu. Chưa đầy nửa giờ, tim ông bắt đầu nhói lên, nhói lên, và nỗi lo xâm chiếm ông đến mức ông không chịu nổi, tự mình đi lễ. Đến gần nhà thờ, ông thấy người ta đã ra về, nhưng Đu-nhi-a không có trong sân, cũng không có ngoài thềm. Ông vội vào nhà thờ. Cha xứ đang từ bàn thờ đi ra, thầy giúp lễ đang tắt nến, hai bà cụ còn cầu nguyện trong góc. Nhưng trong nhà thờ không có Đu-nhi-a. Người cha tội nghiệp mãi mới dám hỏi thầy giúp lễ xem cô có đi lễ không. Thầy giúp lễ đáp là không.
Người coi trạm về nhà, hồn xiêu phách lạc. Ông chỉ còn một hy vọng: biết đâu Đu-nhi-a, vì tính bồng bột tuổi trẻ, nghĩ ra trò đi xe đến trạm kế tiếp, nơi bà mẹ đỡ đầu của cô ở. Ông thấp thỏm khổ sở chờ cỗ xe ba ngựa đã chở cô đi quay về. Xà ích không về. Mãi đến chiều tối, anh ta mới về một mình, say khướt, với cái tin chết người: "Từ trạm ấy, cô Đu-nhi-a đi tiếp cùng ông kỵ binh rồi."
Ông già không chịu nổi bất hạnh. Ông nằm vật ngay xuống chiếc giường mà hôm trước gã trai lừa đảo kia đã nằm. Giờ ngẫm lại mọi chuyện, người coi trạm đoán ra rằng cơn ốm kia là giả vờ. Người đàn ông tội nghiệp lên cơn sốt nặng. Người ta chở ông lên thị trấn, và cử tạm một người khác thay chỗ ông. Chính ông thầy thuốc từng đến khám cho chàng kỵ binh chữa bệnh cho ông. Ông ta quả quyết với người coi trạm rằng chàng trai kia hoàn toàn khoẻ mạnh, rằng ngay hồi ấy ông đã đoán ra ý định độc địa của anh ta, nhưng không nói gì vì sợ cái roi của anh ta. Ông người Đức nói thật hay chỉ muốn khoe mình nhìn xa trông rộng thì không biết, nhưng điều đó chẳng an ủi được chút nào người bệnh tội nghiệp.
Vừa mới khỏi bệnh, người coi trạm xin ông trưởng bưu điện thị trấn cho nghỉ phép hai tháng, rồi chẳng nói với ai một lời về ý định của mình, đi bộ đi tìm con gái. Nhờ tờ giấy đi đường, ông biết đại uý kỵ binh Min-xki đi từ Xmô-len-xcơ lên Pê-téc-bua. Bác xà ích chở anh ta kể rằng suốt dọc đường Đu-nhi-a khóc, dù có vẻ là cô tự nguyện đi.
"Biết đâu," người coi trạm nghĩ, "mình sẽ đưa được con cừu non lạc đàn của mình về nhà."
Với ý nghĩ ấy, ông đến Pê-téc-bua, trọ ở khu trung đoàn I-dơ-mai-lốp, trong nhà một hạ sĩ quan về hưu, bạn đồng ngũ cũ của ông, rồi bắt đầu đi tìm. Chẳng bao lâu ông biết được đại uý Min-xki đang ở Pê-téc-bua, trọ ở khách sạn Đê-mút. Người coi trạm quyết định đến gặp anh ta.
Sáng sớm, ông đến phòng ngoài nhà anh ta, xin báo với ngài rằng có một người lính già muốn gặp. Người hầu lính đang đánh giày trên cái khuôn, bảo rằng chủ còn ngủ, trước mười một giờ không tiếp ai. Người coi trạm đi về, rồi quay lại đúng giờ hẹn. Chính Min-xki ra gặp ông, mặc áo choàng ngủ, đội mũ chỏm đỏ.
– Này bác, bác cần gì? Anh ta hỏi.
Tim ông già sôi lên, nước mắt trào ra, và ông chỉ nói được bằng giọng run run:
– Bẩm ngài!… Xin ngài làm phúc như Chúa làm phúc!…
Min-xki liếc nhanh nhìn ông, đỏ bừng mặt, nắm tay ông dẫn vào phòng làm việc, rồi khoá cửa lại.
– Bẩm ngài! Ông già nói tiếp. Cái gì rơi khỏi xe thì coi như mất. Nhưng ít ra xin ngài trả lại cho tôi Đu-nhi-a tội nghiệp của tôi. Ngài đã vui thú với nó đủ rồi. Xin ngài đừng làm hỏng đời nó vô ích.
– Việc đã làm thì không làm lại được, chàng trai nói, vô cùng bối rối. Tôi có lỗi với bác, và tôi sẵn lòng xin bác tha thứ. Nhưng bác đừng nghĩ tôi có thể bỏ Đu-nhi-a. Cô ấy sẽ hạnh phúc, tôi xin lấy danh dự mà hứa với bác. Bác cần cô ấy làm gì? Cô ấy yêu tôi. Cô ấy đã quen với cuộc sống khác rồi. Cả bác lẫn cô ấy, chẳng ai quên được chuyện đã xảy ra.
Rồi anh ta nhét cái gì đó vào ống tay áo ông, mở cửa ra, và người coi trạm chẳng nhớ bằng cách nào đã thấy mình đứng ngoài phố.
Ông đứng bất động một hồi lâu. Cuối cùng ông thấy trong nếp gấp ống tay áo mình có một cuộn giấy. Ông rút ra, mở ra, thấy mấy tờ giấy bạc năm rúp, mười rúp nhàu nát. Nước mắt lại trào ra trong mắt ông, những giọt nước mắt phẫn uất! Ông vò những tờ giấy bạc thành một cục, ném xuống đất, lấy gót giày giẫm lên, rồi bỏ đi…
Đi được vài bước, ông dừng lại, suy nghĩ… rồi quay lại… nhưng những tờ giấy bạc đã không còn đó. Một chàng trai ăn mặc chỉnh tề, thấy ông, chạy vội ra một chiếc xe ngựa thuê, nhảy lên, hét: "Đi!…" Người coi trạm không đuổi theo.
Ông quyết định về trạm của mình, nhưng trước đó muốn được nhìn thấy Đu-nhi-a tội nghiệp của ông, dù chỉ một lần nữa thôi. Vì thế, độ hai ngày sau, ông lại đến nhà Min-xki. Nhưng người hầu lính bảo ông một cách cộc cằn rằng chủ không tiếp ai, lấy ngực đẩy ông ra khỏi phòng ngoài, rồi đóng sầm cửa trước mũi ông. Người coi trạm đứng đó, đứng mãi, rồi bỏ đi.
Chính tối hôm ấy, ông đang đi trên phố Li-tây-nai-a, sau khi nhờ làm lễ cầu ở nhà thờ Đức Mẹ Sầu Bi. Bỗng một cỗ xe ngựa sang trọng phóng vụt qua trước mặt ông, và người coi trạm nhận ra Min-xki. Cỗ xe dừng trước một ngôi nhà ba tầng, ngay trước lối vào, và chàng kỵ binh chạy lên bậc thềm. Một ý nghĩ may mắn loé lên trong đầu người coi trạm. Ông quay lại, đến ngang chỗ người đánh xe.
– Ngựa của ai đấy, anh bạn? Ông hỏi. Có phải của ông Min-xki không?
– Đúng thế, người đánh xe đáp. Mà có việc gì?
– Thế này: chủ anh sai tôi đưa một mảnh thư cho cô Đu-nhi-a của ông ấy, mà tôi lại quên mất cô Đu-nhi-a ấy ở đâu.
– Ở đây chứ đâu, tầng hai ấy. Bác đến muộn rồi, ông bạn ạ, giờ thì chính ông ấy đang ở trên đó với cô ta.
– Không sao, người coi trạm đáp, tim thắt lại một cách khó tả. Cám ơn anh đã chỉ cho. Còn việc của tôi thì tôi cứ làm.
Nói rồi ông đi lên cầu thang.
Cửa khoá. Ông bấm chuông. Mấy giây chờ đợi trôi qua nặng nề với ông. Chìa khoá lạch cạch, cửa mở.
– Cô Áp-đô-ti-a Xam-xô-nốp-na có ở đây không? Ông hỏi.
– Có, một cô hầu gái trẻ đáp. Bác tìm cô ấy có việc gì?
Người coi trạm không trả lời, đi vào phòng lớn.
– Không được, không được! Cô hầu gái kêu với theo. Cô Áp-đô-ti-a Xam-xô-nốp-na đang có khách.
Nhưng người coi trạm không nghe, cứ đi tiếp. Hai phòng đầu tối om, phòng thứ ba có ánh đèn. Ông đến bên cánh cửa mở toang, dừng lại.
Trong căn phòng bày biện đẹp đẽ, Min-xki ngồi trầm ngâm. Đu-nhi-a, ăn mặc theo mốt xa hoa nhất, ngồi trên tay ghế bành của anh ta như người cưỡi ngựa ngồi trên yên kiểu Anh. Cô âu yếm nhìn Min-xki, quấn những lọn tóc xoăn đen của anh ta quanh những ngón tay lấp lánh nhẫn của mình. Người coi trạm tội nghiệp! Chưa bao giờ con gái ông trông đẹp đến thế. Ông bất giác đứng ngắm cô.
– Ai đấy? Cô hỏi, không ngẩng đầu lên.
Ông vẫn im lặng. Không nghe tiếng đáp, Đu-nhi-a ngẩng đầu lên… và thét lên một tiếng, ngã xuống tấm thảm. Min-xki hoảng hốt lao tới đỡ cô dậy. Bỗng thấy người coi trạm già đứng ở cửa, anh ta bỏ Đu-nhi-a đấy, tiến đến gần ông, run lên vì giận.
– Ông cần gì? Anh ta nói, nghiến răng. Sao ông cứ lén lút theo tôi khắp nơi như một tên cướp thế? Hay ông định đâm chết tôi? Cút đi!
Rồi anh ta dùng bàn tay khoẻ mạnh túm cổ áo ông già, đẩy ông ra cầu thang.
Ông già về chỗ trọ. Bạn ông khuyên ông đi kiện. Nhưng người coi trạm nghĩ ngợi, rồi phẩy tay, quyết định thôi.
Hai ngày sau, ông rời Pê-téc-bua trở về trạm của mình, lại tiếp tục công việc.
– Thế là đã sang năm thứ ba, ông kết thúc, tôi sống không có Đu-nhi-a, chẳng có lấy một tin tức gì về nó. Nó còn sống hay đã chết, có trời mà biết. Chuyện gì chẳng xảy ra được. Nó không phải đứa đầu tiên, cũng chẳng phải đứa cuối cùng bị một gã chơi bời qua đường dụ dỗ, giữ một thời gian rồi vứt bỏ. Ở Pê-téc-bua có khối những đứa con gái ngốc nghếch trẻ măng như thế, hôm nay lụa là gấm vóc, ngày mai đã thấy đi quét đường cùng đám người khố rách ở quán rượu. Có lúc nghĩ đến chuyện có khi Đu-nhi-a cũng đang lụi tàn ở đó, thì tôi lại không đừng được mà phạm tội, mong cho nó được nằm dưới mồ…
Câu chuyện của ông bạn tôi, người coi trạm già, là như thế. Câu chuyện nhiều lần bị ngắt quãng bởi những giọt nước mắt mà ông lấy vạt áo chùi một cách rất gợi hình, như bác Tê-ren-tích chăm chỉ trong bản ba-lát tuyệt hay của Đmi-tơ-ri-ép. Những giọt nước mắt ấy một phần là do rượu pân-sơ, mà ông đã nốc tới năm cốc trong lúc kể. Nhưng dù sao đi nữa, chúng cũng khiến lòng tôi xúc động sâu sắc. Chia tay ông rồi, tôi còn lâu lắm mới quên được người coi trạm già, còn nghĩ mãi về Đu-nhi-a tội nghiệp…
Mới đây thôi, đi qua thị trấn nhỏ ấy, tôi nhớ đến ông bạn của mình. Tôi được biết cái trạm ông từng trông coi đã bị bỏ. Tôi hỏi: "Người coi trạm già còn sống không?" Chẳng ai trả lời cho tôi được thoả đáng. Tôi quyết định đến thăm vùng đất quen, thuê ngựa riêng, và lên đường đến làng ấy.
Lúc ấy là mùa thu. Những đám mây xám phủ kín bầu trời. Gió lạnh thổi từ những cánh đồng đã gặt, cuốn đi những chiếc lá đỏ lá vàng của hàng cây ven đường. Tôi đến làng lúc mặt trời lặn, dừng lại trước căn nhà trạm. Ra hiên, nơi ngày xưa Đu-nhi-a tội nghiệp đã hôn tôi, là một người đàn bà béo. Trả lời những câu hỏi của tôi, bà ta bảo người coi trạm già đã chết được chừng một năm, nhà ông giờ có một ông thợ nấu bia đến ở, còn bà ta là vợ ông thợ nấu bia. Tôi tiếc chuyến đi vô ích và bảy rúp tiêu phí uổng.
– Ông ấy chết vì sao? Tôi hỏi vợ ông thợ nấu bia.
– Uống rượu đến chết, thưa ông, bà ta đáp.
– Thế người ta chôn ông ấy ở đâu?
– Ngoài rào làng, cạnh mộ bà vợ đã khuất của ông ấy.
– Có ai dẫn tôi ra mộ ông ấy được không?
– Sao lại không được. Này Van-ca! Thôi đừng nghịch con mèo nữa. Dẫn ông đây ra nghĩa trang, chỉ cho ông ấy mộ ông coi trạm.
Nghe vậy, một thằng bé rách rưới, tóc đỏ, chột một mắt, chạy đến bên tôi, rồi dẫn ngay tôi ra ngoài rào làng.
– Cháu có biết ông cụ không? Dọc đường tôi hỏi nó.
– Sao lại không biết! Ông dạy cháu khoét sáo. Có những lần, cầu cho ông được lên thiên đàng, ông ở quán rượu về, bọn cháu chạy theo: "Ông ơi, ông ơi! Cho cháu hạt dẻ!" Thế là ông chia hạt dẻ cho bọn cháu. Lúc nào ông cũng chơi với bọn cháu.
– Thế khách qua đường có ai nhắc đến ông ấy không?
– Bây giờ ít khách qua lắm. Chỉ có ông hội thẩm thỉnh thoảng ghé, mà ông ấy thì chẳng để tâm đến người chết. À, mùa hè vừa rồi có một bà đi qua, bà ấy có hỏi thăm ông coi trạm già, rồi ra thăm mộ ông.
– Bà nào thế? Tôi tò mò hỏi.
– Một bà đẹp lắm, thằng bé đáp. Bà đi cỗ xe kín sáu ngựa kéo, có ba cậu chủ nhỏ, có cả vú em, lại có cả một con chó xù đen nữa. Người ta bảo bà là ông coi trạm già chết rồi, thế là bà khóc, rồi bảo các con: "Các con ngồi yên nhé, mẹ ra nghĩa trang một lát." Cháu đã xin dẫn bà đi. Nhưng bà bảo: "Ta tự biết đường." Rồi bà cho cháu một đồng năm cô-pếch bằng bạc. Bà tốt bụng lắm!…
Chúng tôi đến nghĩa trang, một bãi đất trống trơn, không rào giậu, lổn nhổn những cây thánh giá bằng gỗ, chẳng có lấy một bóng cây nào che. Từ thuở sinh ra tôi chưa từng thấy một nghĩa trang nào buồn đến thế.
– Đây là mộ ông coi trạm già, thằng bé nói với tôi, nhảy lên một đống cát có cắm cây thánh giá đen với một bức thánh tượng bằng đồng.
– Bà ấy cũng ra đây à? Tôi hỏi.
– Có ạ, Van-ca đáp. Cháu đứng xa nhìn bà. Bà nằm xuống đây, nằm lâu lắm. Rồi bà vào làng, gọi cha xứ, đưa tiền cho cha, rồi đi. Bà còn cho cháu một đồng năm cô-pếch bằng bạc. Bà tốt quá!
Tôi cũng cho thằng bé một đồng năm cô-pếch, và không còn tiếc chuyến đi lẫn bảy rúp đã tiêu nữa.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn