Chương 1: Người hát rong tìm được lâu đài
Xam Ga-lo-uê thắng yên con ngựa nhỏ của mình, dứt khoát không gì lay chuyển nổi. Anh sắp rời trại An-ti-tô sau ba tháng ở chơi. Đâu thể bắt một vị khách chịu đựng cà phê lúa mì với bánh quy lổn nhổn những vệt vàng vì bột nở lâu hơn thế. Ních Na-pô-lê-ông, ông đầu bếp to lớn, xưa nay chưa từng làm nổi một mẻ bánh quy cho ra hồn. Đã có một lần, hồi Ních nấu bếp ở trại Liễu, Xam đã phải bỏ chạy khỏi tài nấu nướng của ông chỉ sau sáu tuần lưu lại.
Trên mặt Xam là vẻ buồn rầu, đậm thêm nỗi tiếc nuối, và hơi dịu đi bởi lòng khoan dung nhẫn nại của một người sành điệu không được ai hiểu. Nhưng anh vẫn kiên quyết, dứt khoát cài đai yên, cuộn sợi dây buộc ngựa treo lên núm yên, buộc áo mưa với áo khoác ở phía sau yên, rồi quấn chiếc roi ngựa vào cổ tay phải. Cả nhà Me-ri-điu, chủ trại An-ti-tô, đàn ông, đàn bà, trẻ con, kẻ hầu người hạ, khách khứa, người làm, chó má, và mấy người tình cờ ghé chơi, đều tụ tập ngoài hiên ngôi nhà chính, mặt ai cũng buồn rười rượi. Bởi vì Xam Ga-lo-uê tới bất cứ trại, lán hay túp lều nào giữa sông Phri-ô và sông Bra-vô cũng đem lại niềm vui, thì khi anh ra đi cũng gây ra bao tang tóc và buồn khổ.
Rồi giữa im lặng tuyệt đối, chỉ trừ tiếng khuỷu chân sau của một con chó săn gõ bành bạch xuống sàn khi nó đuổi một con bọ chét đáng ghét, Xam dịu dàng, cẩn thận buộc cây đàn ghi-ta lên yên ngựa, ở trên chiếc áo mưa và áo khoác. Cây đàn nằm trong một chiếc bao vải bạt màu xanh lá. Nếu anh hiểu ý nghĩa của nó, thì nó giải thích được con người Xam.
Xam Ga-lo-uê là người hát rong cuối cùng. Dĩ nhiên các anh biết về những người hát rong thời trung cổ. Bách khoa toàn thư bảo họ phát đạt từ thế kỷ mười một tới thế kỷ mười ba. Họ phát đạt nhờ cái gì thì không rõ. Các anh có thể chắc chắn đó không phải nhờ thanh gươm. Có lẽ là nhờ cây vĩ cầm, nhờ một dĩa mì Ý, hay nhờ chiếc khăn quàng của một quý bà. Dù sao thì Xam Ga-lo-uê cũng là một người trong số họ.
Xam làm vẻ mặt tử vì đạo khi leo lên ngựa. Nhưng vẻ mặt ấy còn vui vẻ chán so với vẻ mặt con ngựa của anh. Các anh biết đấy, một con ngựa hiểu chủ nó rất rõ. Rất có thể những con ngựa chăn bò ngoài bãi cỏ hay bên cọc buộc ngựa vẫn thường chế giễu con ngựa của Xam, vì người cưỡi nó là một tay chơi đàn ghi-ta chứ không phải một gã chăn bò thực thụ, ồn ào, hay chửi thề. Chẳng ai là anh hùng trong mắt con ngựa của mình. Mà đến cái cầu thang cuốn trong cửa hàng bách hoá cũng đáng được tha thứ nếu nó làm vấp một người hát rong.
Ồ, tôi biết tôi cũng là một người như thế, và các anh cũng vậy. Các anh còn nhớ những câu chuyện các anh học thuộc lòng, những trò ảo thuật với cỗ bài các anh tập luyện, và bản nhạc nhỏ trên đàn dương cầm, nó thế nào nhỉ, tì tùng tè tùng tì tùng, những màn giúp vui mười phút các anh trình diễn khi tới thăm bà dì giàu có. Các anh nên biết rằng mọi người đều chia làm ba hạng: Nam tước, Người hát rong và Người lao động. Nam tước chẳng thèm đọc những thứ lăng nhăng thế này, còn Người lao động thì chẳng có thời gian. Thế nên tôi biết các anh hẳn là Người hát rong, và các anh sẽ hiểu Xam Ga-lo-uê. Dù ta hát, diễn kịch, nhảy múa, viết văn, diễn thuyết hay vẽ tranh, ta cũng chỉ là người hát rong. Vậy thì ta cứ chấp nhận nó cho đành.
Con ngựa có bộ mặt sầu não như nhà thơ Đan-tê, được đầu gối Xam điều khiển, chở người hát rong lang bạt đi mười sáu dặm về hướng đông nam. Thiên nhiên đang vào lúc hiền hoà nhất. Hết dặm này tới dặm khác, những bông hoa nhỏ mỏng manh, ngọt ngào làm thơm ngát đồng cỏ nhấp nhô dịu dàng. Gió đông làm dịu cái ấm áp của mùa xuân. Những đám mây trắng như bông từ vịnh Mê-hi-cô bay vào che bớt những tia nắng tháng Tư chiếu thẳng. Xam vừa đi vừa hát. Dưới dây cương con ngựa, anh giắt mấy cành cây bụi để xua ruồi nai. Được đội vương miện như thế, con vật mặt dài trông càng giống Đan-tê hơn trước, và nhìn vẻ mặt thì hình như nó đang nghĩ tới nàng Bê-a-tri-xê.
Thẳng tắp như địa hình cho phép, Xam cưỡi ngựa tới trại cừu của ông già E-li-xơn. Lúc ấy anh thấy tới thăm một trại cừu là điều đáng mong. Ở trại An-ti-tô có quá nhiều người, quá nhiều ồn ào, tranh cãi, ganh đua, lộn xộn. Anh chưa từng ban cho ông già E-li-xơn cái ân huệ được anh lưu lại trại, nhưng anh biết mình sẽ được đón tiếp nồng hậu. Người hát rong đi đâu thì chính anh ta là tấm giấy thông hành. Những Người lao động trong lâu đài hạ cầu treo cho anh, và Nam tước mời anh ngồi bên tay trái mình trong phòng tiệc. Ở đó các quý bà mỉm cười với anh, vỗ tay tán thưởng những bài hát, câu chuyện của anh, trong khi những Người lao động mang lên đầu lợn rừng và bình rượu. Nếu Nam tước có gật gù ngủ gật một hai lần trên chiếc ghế gỗ sồi chạm trổ, thì cũng chẳng phải vì ác ý.
Ông già E-li-xơn đón người hát rong một cách đầy hãnh diện. Ông thường nghe những chủ trại khác, những người từng được vinh dự đón anh tới thăm, ca ngợi Xam Ga-lo-uê, nhưng chưa bao giờ dám mơ tới vinh dự ấy cho lãnh địa khiêm tốn của mình. Tôi nói lãnh địa, vì ông già E-li-xơn là vị Nam tước cuối cùng. Trong đời, bổn phận và chức năng của Nam tước là tạo việc làm cho Người lao động, và chỗ ăn chỗ ở cho Người hát rong.
Ông già E-li-xơn là một ông già teo tóp, râu ngắn màu vàng trắng, gương mặt hằn đầy những nếp nhăn của những nụ cười đã qua. Trại của ông là một ngôi nhà gỗ hai gian nhỏ như cái hộp, nằm trong một lùm cây sếu ở chỗ hiu quạnh nhất của vùng nuôi cừu. Người trong nhà gồm một ông đầu bếp người da đỏ bộ tộc Cai-ô-oa, bốn con chó săn, một con cừu nuôi làm cảnh, và một con sói đồng cỏ đã thuần được một nửa, bị xích vào cọc rào. Ông có ba nghìn con cừu, chăn trên hai khoảnh đất thuê và hàng nghìn mẫu đất chẳng thuê cũng chẳng sở hữu. Mỗi năm ba bốn lần có ai đó nói cùng thứ tiếng với ông cưỡi ngựa tới cổng, trao đổi với ông vài ý nghĩ trơ trụi. Đó là những ngày hội đối với ông già E-li-xơn. Vậy thì cái ngày một người hát rong, một người hát rong mà theo bách khoa toàn thư lẽ ra phải phát đạt từ thế kỷ mười một tới thế kỷ mười ba, ghìm cương trước cổng lâu đài của ông, hẳn phải được ghi bằng những chữ hoa lộng lẫy, rực rỡ, trang trí công phu biết bao!
Những nụ cười của ông già E-li-xơn quay lại lấp đầy những nếp nhăn khi ông thấy Xam. Ông vội vã lê bước khập khiễng ra khỏi nhà đón anh.
— Chào bác E-li-xơn, — Xam vui vẻ gọi. — Cháu nghĩ ghé qua thăm bác ít hôm. Cháu thấy vùng cỏ của bác vừa được mưa tốt lắm. Thế này thì đàn cừu non mùa xuân của bác tha hồ mà ăn.
— Chà, chà, chà, — ông già E-li-xơn nói. — Gặp cháu bác mừng quá, Xam. Bác chẳng bao giờ nghĩ cháu lại chịu khó cưỡi ngựa sang tận cái trại cũ hẻo lánh thế này. Nhưng cháu tới bác mừng lắm. Xuống ngựa đi. Trong bếp bác có một bao yến mạch mới, bác mang ra cho ngựa cháu ăn nhé?
— Yến mạch cho nó á? — Xam nói, giọng chế giễu. — Không đâu bác ạ. Nó ăn cỏ đã béo như lợn rồi. Nó có được cưỡi đủ đâu mà giữ dáng. Bác cho phép thì cháu cứ thả nó vào bãi ngựa, buộc dây kéo là được.
Tôi chắc chắn rằng suốt thế kỷ mười một tới mười ba, chưa bao giờ Nam tước, Người hát rong và Người lao động hoà hợp với nhau êm ả như những người tương ứng của họ tối hôm ấy ở trại cừu của ông già E-li-xơn. Bánh quy của ông đầu bếp Cai-ô-oa xốp nhẹ, ngon miệng, cà phê thì đậm. Lòng hiếu khách và sự trân trọng không gì dập tắt nổi rạng lên trên gương mặt dãi dầu mưa nắng của ông già E-li-xơn. Còn người hát rong thì tự nhủ rằng mình quả đã vấp được vào một chốn dễ chịu. Một bữa ăn nấu khéo, đầy đặn, một ông chủ nhà mà chỉ một chút cố gắng mua vui nhỏ nhất của anh cũng làm ông thích thú vượt xa công sức bỏ ra, và bầu không khí yên tĩnh mà tâm hồn nhạy cảm của anh lúc ấy đang thèm khát, tất cả hợp lại đem đến cho anh một sự thoả mãn, một cảm giác nhàn hạ xa hoa mà anh hiếm khi tìm thấy trong những chuyến du hành qua các trại.
Sau bữa tối ngon lành, Xam cởi chiếc bao vải xanh, lấy cây đàn ra. Xin lưu ý, không phải để trả tiền ăn đâu. Chẳng có người hát rong chân chính nào, kể cả Xam Ga-lo-uê, lại hát để đổi lấy bữa tối như cậu bé trong bài đồng dao. Người hát rong chân chính ăn tối xong, rồi mới hát vì Nghệ thuật.
Vốn liếng của Xam Ga-lo-uê gồm chừng năm chục chuyện cười và từ ba tới bốn chục bài hát. Mà anh không chỉ có thế. Anh có thể nói chuyện hết hai chục điếu thuốc về bất cứ đề tài nào anh đưa ra. Và anh chẳng bao giờ ngồi khi có thể nằm, chẳng bao giờ đứng khi có thể ngồi. Tôi rất muốn nán lại với anh, vì tôi đang vẽ một bức chân dung, khéo nhất trong chừng mực một cây bút chì cùn và một cuốn từ điển rách bươm cho phép.
Tôi ước gì các anh được nhìn thấy anh. Anh nhỏ người, rắn rỏi, và lười biếng tới mức trí tưởng tượng không hình dung nổi. Anh mặc chiếc áo len xanh biếc, phía trước buộc bằng một sợi dây to quá cỡ màu xám ngọc trai, bộ quần áo vải bạt nâu không bao giờ rách, đôi ủng cao gót không thể thiếu với cặp đinh thúc ngựa kiểu Mê-hi-cô, và chiếc mũ rơm rộng vành cũng kiểu Mê-hi-cô.
Tối hôm ấy Xam và ông già E-li-xơn kéo ghế ra ngồi dưới gốc cây sếu. Họ châm thuốc lá, và người hát rong vui vẻ gảy đàn. Nhiều bài anh hát là những bài ca kỳ lạ, u buồn, giọng thứ, mà anh học được từ những người chăn cừu và chăn bò Mê-hi-cô. Có một bài đặc biệt làm say mê và xoa dịu tâm hồn vị nam tước cô đơn. Đó là bài hát những người chăn cừu ưa thích, mở đầu bằng câu "Bay đi, bay đi, bồ câu nhỏ". Tối hôm ấy Xam hát bài ấy cho ông già E-li-xơn nghe nhiều lần.
Người hát rong ở lại trại của ông già. Ở đó có sự bình yên, tĩnh lặng và lòng trân trọng mà anh chưa tìm được ở những trại ồn ào của các ông vua chăn bò. Chẳng khán giả nào trên đời có thể tôn vinh tác phẩm của nhà thơ, nhạc sĩ hay hoạ sĩ bằng sự tán thưởng sùng kính, không bao giờ vơi như sự tán thưởng ông già E-li-xơn dành cho những cố gắng của anh. Chẳng chuyến viếng thăm nào của một bậc vua chúa tới một gã tiều phu hay nông dân hèn mọn lại được đón nhận với niềm biết ơn và niềm vui hãnh diện hơn thế.
Xam Ga-lo-uê dành phần lớn thời gian nằm trên một chiếc giường bạt mát rượi dưới bóng cây sếu. Ở đó anh cuốn những điếu thuốc giấy nâu, đọc những thứ sách vở buồn tẻ mà trại có được, và làm giàu thêm vốn ngẫu hứng anh chơi rất điêu luyện trên cây đàn. Như một nô lệ hầu hạ một vị lãnh chúa lớn, ông đầu bếp Cai-ô-oa mang tới cho anh nước mát trong chiếc vò đỏ treo dưới mái che bằng cành cây, và mang đồ ăn tới khi anh gọi. Gió đồng cỏ quạt cho anh hiu hiu. Sáng sáng chiều chiều, lũ chim nhại đua tài với tiếng đàn ngọt ngào của anh, nhưng hiếm khi sánh kịp. Một sự tĩnh lặng thơm ngát dường như phủ khắp thế giới của anh. Trong khi ông già E-li-xơn lui cui giữa đàn cừu trên con ngựa mỗi giờ đi được một dặm, và ông đầu bếp Cai-ô-oa ngủ trưa dưới nắng cháy ở cuối gian bếp, thì Xam nằm trên giường, nghĩ rằng mình đang sống trong một thế giới hạnh phúc biết bao, và thế giới ấy tốt với những người mà sứ mạng ở đời là đem lại niềm vui và giải trí biết bao. Ở đây anh có chỗ ăn chỗ ở tốt như anh hằng mong ước. Hoàn toàn chẳng phải lo nghĩ, chẳng phải gắng sức, chẳng có tranh chấp. Một sự chào đón không bao giờ cạn, và một ông chủ nhà nghe một bài hát hay một câu chuyện lần thứ mười sáu mà vẫn thích thú như lần đầu. Có người hát rong nào ngày xưa trên đường lang bạt lại gặp được một lâu đài đế vương đến thế? Trong lúc anh nằm như thế, nghĩ ngợi về những phúc lành của mình, những chú thỏ nâu nhỏ rụt rè nô đùa ngang sân. Một đàn chim cút xanh mào trắng chạy qua thành một hàng dọc, cách hai chục mét. Một con chim cu rốc đi săn nhện độc nhảy lên hàng rào, chào anh bằng những cái vẫy đuôi dài. Trong bãi ngựa rộng tám mươi mẫu, con ngựa có bộ mặt như Đan-tê béo ra, và gần như mỉm cười.
Người hát rong đã tới cuối chặng đường lang bạt.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn