Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Người làm áo quan

của Aleksandr Pushkin

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 13.986 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Chẳng phải ngày nào ta cũng thấy những cỗ…
  2. 2:43Cửa mở, và một người đàn ông, thoạt nhìn…
  3. 4:20Căn hộ chật hẹp của ông thợ giày đầy…
  4. 6:13Xin chúc sức khoẻ những người mà chúng ta…
  5. 7:47Nói xong, bác thợ áo quan lên giường, chẳng…
  6. 9:39Ông đến tìm tôi, A-đri-an thở hổn hển nói,…
  7. 11:33Nói rồi người chết dang đôi tay xương xẩu…
  8. 13:02Chứ còn gì nữa, chị người làm đáp.

Chẳng phải ngày nào ta cũng thấy những cỗ quan tài, những sợi tóc bạc của vũ trụ đang già nua? Thơ Đéc-gia-vin.

Mớ đồ đạc cuối cùng của bác làm áo quan A-đri-an Prô-khô-rốp đã được chất lên cỗ xe tang, và đôi ngựa gầy nhom lần thứ tư lê bước từ phố Bát-man-nai-a sang phố Ni-kít-xcai-a, nơi bác dọn cả nhà đến ở. Khoá cửa hàng xong, bác đóng lên cổng tấm biển báo nhà cần bán hoặc cho thuê, rồi đi bộ đến nhà mới.

Đến gần ngôi nhà nhỏ sơn vàng mà bao lâu nay bác hằng ao ước, cuối cùng đã bỏ ra một món tiền kha khá để mua, ông thợ áo quan già ngạc nhiên thấy lòng mình chẳng vui chút nào. Bước qua ngưỡng cửa lạ, thấy nhà mới bề bộn lộn xộn, bác thở dài nhớ túp nhà xiêu vẹo cũ, nơi suốt mười tám năm mọi thứ đều được xếp đặt hết sức ngăn nắp. Bác quay ra mắng cả hai cô con gái lẫn chị người làm sao chậm chạp, rồi tự tay xắn vào giúp.

Chẳng mấy chốc mọi thứ đã đâu vào đấy. Khám thờ với các bức thánh tượng, tủ bát đĩa, cái bàn, cái đi-văng và cái giường chiếm những góc đã định sẵn trong phòng trong. Còn ở bếp và phòng khách thì bày sản phẩm của chủ nhà: quan tài đủ màu, đủ cỡ, cùng những tủ đựng mũ tang, áo choàng tang và đuốc. Trên cổng dựng lên tấm biển vẽ thần Ái tình béo tốt cầm ngọn đuốc chúc ngược, với dòng chữ: "Tại đây bán và bọc quan tài thường và quan tài sơn, có cho thuê và sửa chữa quan tài cũ." Hai cô con gái về phòng riêng của mình. A-đri-an đi một vòng quanh nhà, rồi ngồi bên cửa sổ, sai đun ấm xa-mô-va.

Độc giả có học hẳn biết rằng cả Sếch-xpia lẫn Oan-tơ Xcốt đều cho những người đào huyệt của mình vui tính, hay pha trò, để nhờ cái tương phản ấy mà gây ấn tượng mạnh hơn với trí tưởng tượng của chúng ta. Vì tôn trọng sự thật, chúng tôi không thể theo gương hai ông, và buộc phải thú nhận rằng tính khí ông thợ áo quan của chúng ta hoàn toàn hợp với cái nghề u ám của bác. A-đri-an Prô-khô-rốp thường ngày cau có, trầm ngâm. Bác chỉ chịu mở miệng khi mắng con gái lúc bắt gặp chúng ngồi không, ngó qua cửa sổ nhìn người qua đường. Hoặc khi hét giá cắt cổ cho sản phẩm của mình với những ai không may, mà đôi khi cũng là may, phải cần đến chúng.

Thế đấy, A-đri-an ngồi bên cửa sổ, uống đến chén trà thứ bảy, và như thường lệ, chìm đắm trong những suy nghĩ buồn rầu. Bác nghĩ đến trận mưa như trút cách đây một tuần, đổ xuống đúng lúc đám tang một ông thiếu tướng về hưu vừa ra tới cổng thành. Bao nhiêu áo choàng tang vì thế mà co lại, bao nhiêu mũ tang méo mó cả. Bác thấy trước những khoản chi không tránh được, vì kho đồ tang lễ lâu năm của bác đã ở trong tình trạng thảm hại. Bác hy vọng gỡ lại khoản lỗ ấy từ bà lái buôn già Tri-u-khi-na, người đã hấp hối gần một năm nay. Nhưng bà Tri-u-khi-na lại hấp hối ở tận khu Rát-gu-li-ai, và Prô-khô-rốp sợ rằng con cháu bà, dù đã hứa, sẽ lười sai người đi xa thế để gọi bác, mà thuê luôn một chủ thầu ở gần cho xong.

Những suy nghĩ ấy bỗng bị cắt ngang bởi ba tiếng gõ cửa theo kiểu hội Tam điểm.

– Ai đấy? Bác thợ áo quan hỏi.

Cửa mở, và một người đàn ông, thoạt nhìn đã biết ngay là thợ thủ công người Đức, bước vào phòng, vui vẻ đến gần bác thợ áo quan.

– Xin lỗi, ông hàng xóm thân mến, ông ta nói bằng cái giọng Nga lơ lớ mà đến giờ ta nghe vẫn không nhịn được cười, xin lỗi vì đã làm phiền ông… Tôi muốn sớm được làm quen với ông. Tôi là thợ giày, tên tôi là Gốt-líp Sun-xơ, nhà tôi ở bên kia đường, trong ngôi nhà nhỏ đối diện cửa sổ nhà ông đấy. Mai tôi làm lễ cưới bạc, kỷ niệm hai mươi lăm năm ngày cưới, xin mời ông và các cô nhà sang dùng bữa trưa với tôi cho vui, chỗ bạn bè.

Lời mời được nhận lời niềm nở. Bác thợ áo quan mời ông thợ giày ngồi, dùng chén trà. Nhờ tính tình cởi mở của Gốt-líp Sun-xơ, chẳng mấy chốc hai người đã chuyện trò thân mật.

– Việc buôn bán của ông thế nào? A-đri-an hỏi.

– Ê hê hê, Sun-xơ đáp, cũng lúc thế này lúc thế khác. Chẳng dám than phiền. Tất nhiên hàng của tôi không như hàng của ông: người sống thì không có giày cũng chẳng sao, chứ người chết thì không thể thiếu quan tài.

– Đúng thế thật, A-đri-an nhận xét. Có điều, người sống mà không có tiền mua giày thì, xin ông đừng giận, người ta cứ đi chân đất. Còn người chết nghèo thì quan tài vẫn lấy không.

Hai người cứ chuyện trò như thế thêm một lúc. Cuối cùng ông thợ giày đứng dậy cáo từ, nhắc lại lời mời.

Hôm sau, đúng mười hai giờ trưa, bác thợ áo quan cùng hai con gái ra khỏi cổng ngôi nhà mới mua, sang nhà hàng xóm. Tôi sẽ không tả chiếc áo ca-phtan kiểu Nga của A-đri-an Prô-khô-rốp, cũng chẳng tả bộ cánh kiểu Âu của A-cu-li-na và Đa-ri-a, lần này tôi xin phá lệ của các nhà tiểu thuyết thời nay. Nhưng tôi nghĩ cũng nên nói rằng cả hai cô gái đều đội mũ vàng, đi giày đỏ, thứ mà họ chỉ diện vào những dịp long trọng.

Căn hộ chật hẹp của ông thợ giày đầy ắp khách, phần lớn là thợ thủ công người Đức với vợ và thợ phụ của họ. Trong số viên chức người Nga chỉ có một người lính gác trạm, I-ua-cô người Phần Lan. Dù chức phận hèn mọn, anh ta vẫn được chủ nhà đặc biệt quý mến. Anh làm cái chức ấy đã hai mươi lăm năm, trung thành tận tuỵ, như người phát thư trong truyện của Pô-gô-ren-xki. Trận hoả hoạn năm mười hai thiêu rụi cố đô, cũng thiêu luôn cái chòi gác màu vàng của anh. Nhưng giặc vừa bị đuổi đi, ngay chỗ ấy đã mọc lên một cái chòi mới màu xám, có những cột nhỏ màu trắng kiểu Hy Lạp, và I-ua-cô lại đi đi lại lại quanh nó, tay cầm rìu, mình mặc áo dạ thô. Phần lớn những người Đức sống quanh cổng Ni-kít-xki đều quen anh. Có người còn từng ngủ lại chỗ I-ua-cô từ đêm chủ nhật sang sáng thứ hai.

A-đri-an làm quen với anh ta ngay, như với một người mà sớm muộn gì cũng có lúc cần đến. Khi khách vào bàn, hai người ngồi cạnh nhau. Ông bà Sun-xơ và cô con gái mười bảy tuổi Lốt-khen vừa ăn cùng khách, vừa mời mọc, vừa giúp chị nấu bếp dọn món. Bia chảy tràn. I-ua-cô ăn bằng bốn người. A-đri-an cũng chẳng kém. Hai cô con gái thì giữ ý. Câu chuyện bằng tiếng Đức mỗi lúc một ồn ào.

Bỗng chủ nhà xin mọi người chú ý, rồi vừa mở nút một chai rượu gắn xi, vừa nói to bằng tiếng Nga:

– Xin nâng ly chúc sức khoẻ Lu-i-da hiền thảo của tôi!

Rượu vang sủi bọt trào lên. Chủ nhà âu yếm hôn lên gương mặt tươi tắn của người bạn đời bốn mươi tuổi, và khách ồn ào uống chúc sức khoẻ Lu-i-da hiền thảo.

– Chúc sức khoẻ các vị khách quý của tôi! Chủ nhà hô to, mở chai thứ hai.

Khách cám ơn, lại cạn ly. Rồi những lời chúc cứ nối tiếp nhau: chúc sức khoẻ riêng từng vị khách, chúc sức khoẻ thành Mát-xcơ-va và cả tá thị trấn nước Đức, chúc sức khoẻ tất cả các phường hội nói chung và từng phường hội nói riêng, chúc sức khoẻ các ông thợ cả và các anh thợ phụ. A-đri-an uống rất hăng, vui đến mức tự mình cũng đề nghị một lời chúc bông đùa.

Bỗng một vị khách, ông thợ làm bánh mì béo phệ, nâng ly kêu lên:

– Xin chúc sức khoẻ những người mà chúng ta làm việc cho họ, tức là các vị khách hàng của chúng ta!

Lời đề nghị, như mọi lời đề nghị khác, được mọi người vui vẻ, nhất loạt hưởng ứng. Khách khứa bắt đầu cúi chào nhau: thợ may chào thợ giày, thợ giày chào thợ may, thợ bánh mì chào cả hai, tất cả chào thợ bánh mì, và cứ thế. Giữa những cái cúi chào qua lại ấy, I-ua-cô quay sang người ngồi cạnh, kêu to:

– Sao thế? Uống đi chứ ông bạn, uống chúc sức khoẻ những người chết của ông đi!

Mọi người cười ồ. Nhưng bác thợ áo quan cho rằng mình bị xúc phạm, cau mặt lại. Chẳng ai để ý điều đó. Khách vẫn tiếp tục uống, đến lúc chuông nhà thờ đã đổ hồi gọi lễ chiều mới đứng dậy khỏi bàn.

Khách ra về muộn, phần đông đã ngà ngà say. Ông thợ bánh mì béo phệ và ông thợ đóng sách, có khuôn mặt trông như được bọc bìa da dê đỏ, khoác tay dìu I-ua-cô về chòi gác của anh, theo đúng câu tục ngữ Nga: có vay có trả mới là đẹp. Bác thợ áo quan về đến nhà vừa say vừa giận.

– Thế này là thế nào chứ, bác nói to một mình, nghề của tao thì có gì kém danh giá hơn nghề khác? Chẳng lẽ thợ áo quan là anh em với đao phủ? Bọn ngoại đạo ấy cười cái gì? Chẳng lẽ thợ áo quan là thằng hề ngày hội? Tao đã định mời chúng nó đến ăn mừng nhà mới, đãi chúng nó một bữa thịnh soạn. Thôi thì đừng hòng nhé! Tao sẽ mời những người mà tao làm việc cho: những người chết theo đạo chính thống.

– Ông làm sao thế? Chị người làm đang cởi giày cho bác, nói. Ông nói nhảm gì thế? Làm dấu thánh giá đi! Mời người chết đến ăn mừng nhà mới! Ghê quá đi mất!

– Có Chúa chứng giám, tao sẽ mời, A-đri-an nói tiếp, mời ngay ngày mai. Xin kính mời các vị ân nhân của tôi, tối mai đến nhà tôi dự tiệc. Có gì tôi đãi nấy.

Nói xong, bác thợ áo quan lên giường, chẳng mấy chốc đã ngáy pho pho.

Ngoài trời còn tối thì A-đri-an bị đánh thức. Bà lái buôn Tri-u-khi-na đã qua đời ngay trong đêm ấy, và người quản lý của bà sai một người phóng ngựa đến báo tin cho A-đri-an. Bác thợ áo quan cho người ấy mười cô-pếch uống rượu, vội vàng mặc quần áo, thuê xe đi Rát-gu-li-ai.

Trước cổng nhà người chết đã có cảnh sát đứng. Các lái buôn đi đi lại lại như những con quạ đánh hơi thấy xác chết. Người chết nằm trên bàn, vàng như sáp, nhưng chưa bị thối rữa làm biến dạng. Họ hàng, hàng xóm, người nhà xúm xít quanh bà. Tất cả cửa sổ đều mở. Nến cháy. Các cha đang đọc kinh.

A-đri-an đến gần người cháu trai bà Tri-u-khi-na, một anh lái buôn trẻ mặc áo choàng hợp thời trang, báo rằng quan tài, nến, khăn phủ và các đồ tang lễ khác sẽ được mang đến ngay, đầy đủ chu đáo. Người thừa kế lơ đãng cám ơn bác, bảo rằng anh ta không mặc cả giá, mọi thứ trông vào lương tâm của bác. Bác thợ áo quan, theo thói quen, thề có Chúa là sẽ không lấy thừa một đồng. Bác đưa mắt đầy ngụ ý với người quản lý, rồi đi lo liệu.

Suốt cả ngày bác đi đi về về từ Rát-gu-li-ai đến cổng Ni-kít-xki. Đến chiều tối thì mọi việc xong xuôi, bác cho xe về, đi bộ về nhà. Đêm sáng trăng. Bác thợ áo quan đi bình yên đến cổng Ni-kít-xki. Đến nhà thờ Thăng Thiên thì người quen của chúng ta là I-ua-cô cất tiếng hỏi, nhận ra bác thợ áo quan, chúc bác ngủ ngon.

Đã khuya. Bác thợ áo quan vừa đến gần nhà thì bỗng hình như thấy có ai đến cổng nhà mình, mở cửa ngách rồi lẩn vào trong.

"Thế nghĩa là thế nào?" A-đri-an nghĩ. "Ai lại cần gì đến mình nữa đây? Hay là kẻ trộm lẻn vào nhà mình? Hay bọn trai tán gái đến tìm hai đứa ngốc nhà mình? Biết đâu đấy!"

Bác thợ áo quan đã định gọi anh bạn I-ua-cô đến giúp. Đúng lúc ấy, lại có người đến gần cửa ngách, sắp bước vào. Nhưng thấy chủ nhà đang chạy tới, người ấy dừng lại, ngả chiếc mũ ba sừng chào. A-đri-an thấy khuôn mặt ấy quen quen, nhưng vội quá nên chưa kịp nhìn cho kỹ.

– Ông đến tìm tôi, A-đri-an thở hổn hển nói, xin mời ông vào.

– Đừng khách sáo, ông bạn, người kia đáp, giọng ồ ồ, cứ đi trước đi. Dẫn đường cho khách nào!

A-đri-an cũng chẳng có thì giờ mà khách sáo. Cửa ngách đã mở, bác đi lên cầu thang, người kia theo sau. A-đri-an thấy hình như trong các phòng nhà mình có người đi lại. "Quỷ quái gì thế này!" Bác nghĩ, vội bước vào… và hai chân bác khuỵu xuống.

Căn phòng đầy những người chết. Ánh trăng qua cửa sổ soi lên những khuôn mặt vàng ệch và xanh lét, những cái miệng móm, những con mắt đục ngầu khép hờ, những cái mũi nhô ra… A-đri-an kinh hoàng nhận ra họ là những người đã được chôn cất nhờ công của bác. Và người khách cùng vào với bác chính là ông thiếu tướng được chôn giữa trận mưa như trút.

Tất cả, cả đàn bà lẫn đàn ông, vây quanh bác thợ áo quan, cúi chào, hỏi han. Chỉ trừ một người nghèo mới được chôn không mất tiền, ngượng ngùng xấu hổ vì bộ quần áo rách rưới, không dám lại gần, cứ khiêm nhường đứng trong góc. Những người khác đều ăn mặc chỉnh tề: các bà đội mũ cài ruy băng, các ông quan chức mặc quân phục nhưng râu không cạo, các lái buôn mặc áo ca-phtan ngày lễ.

– Ông thấy chưa, Prô-khô-rốp, ông thiếu tướng thay mặt cả hội đáng kính nói, tất cả chúng tôi đều đã dậy theo lời mời của ông. Chỉ còn ở nhà những người không đi nổi nữa, những người đã rã rời hẳn, hoặc chỉ còn trơ xương không còn da. Nhưng ngay cả trong số đó cũng có một người không nhịn được, ông ấy muốn đến thăm ông lắm…

Đúng lúc ấy, một bộ xương nhỏ chen qua đám đông, đến gần A-đri-an. Cái đầu lâu của nó mỉm cười trìu mến với bác thợ áo quan. Những mảnh dạ xanh nhạt, dạ đỏ và vải thô mục nát lủng lẳng đây đó trên người nó như treo trên cây sào. Còn xương chân thì lọc cọc trong đôi ủng cao cổ to tướng như chày trong cối.

– Ông không nhận ra tôi à, Prô-khô-rốp, bộ xương nói. Ông có nhớ viên trung sĩ cận vệ về hưu Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích Cu-rin-kin không? Chính là cái người mà năm một nghìn bảy trăm chín mươi chín ông đã bán cho cỗ quan tài đầu tiên của ông đấy, mà lại còn là gỗ thông đem đánh tráo làm gỗ sồi?

Nói rồi người chết dang đôi tay xương xẩu ra định ôm bác. Nhưng A-đri-an lấy hết sức hét lên, đẩy nó ra. Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích loạng choạng, ngã xuống, rã ra từng mảnh. Đám người chết nổi lên tiếng xì xào phẫn nộ. Tất cả đứng ra bênh vực danh dự của đồng bạn, xúm vào chửi rủa, doạ nạt A-đri-an. Ông chủ nhà tội nghiệp choáng váng vì tiếng la ó của họ, gần như bị đè bẹp, mất hết hồn vía, ngã vật lên đống xương của viên trung sĩ cận vệ về hưu, và bất tỉnh.

Mặt trời đã chiếu lên chiếc giường bác thợ áo quan nằm từ lâu. Cuối cùng bác mở mắt, thấy chị người làm đang thổi ấm xa-mô-va trước mặt. A-đri-an kinh hãi nhớ lại mọi chuyện hôm qua. Bà Tri-u-khi-na, ông thiếu tướng và viên trung sĩ Cu-rin-kin lờ mờ hiện lên trong đầu bác. Bác lặng lẽ chờ chị người làm mở lời, kể cho bác biết hậu quả của những chuyện xảy ra đêm qua.

– Ông ngủ say quá, ông A-đri-an Prô-khô-rô-vích ạ, chị Ác-xi-nhi-a vừa nói vừa đưa áo choàng cho bác. Ông thợ may hàng xóm có sang tìm ông, rồi anh lính gác ở đây cũng chạy sang báo hôm nay là ngày lễ thánh bổn mạng của ông cẩm, nhưng ông đang ngủ, chúng tôi không muốn đánh thức ông.

– Thế bên nhà bà Tri-u-khi-na quá cố có ai sang tìm tôi không?

– Quá cố? Thế bà ấy chết rồi à?

– Đồ ngốc! Thế hôm qua chẳng phải chính chị giúp tôi lo đám tang cho bà ấy sao?

– Ông làm sao thế? Ông lẩn thẩn rồi à, hay hơi men hôm qua chưa tan? Hôm qua làm gì có đám tang nào? Ông ăn tiệc cả ngày bên nhà ông Đức, về nhà say khướt, lăn ra giường, ngủ một mạch tới giờ, chuông lễ trưa đã đổ xong rồi đấy.

– Thật thế à! Bác thợ áo quan mừng rỡ nói.

– Chứ còn gì nữa, chị người làm đáp.

– Thế thì mau mang trà ra đây, rồi gọi hai đứa con gái tôi lại.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAleksandr Pushkin (1799 – 1837)
Năm mất1837
Xuất bản lần đầu1831
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Гробовщик, trong Truyện Bel-kin, 1831
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →