Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người tung hứng của Đức Bà

của Anatole France

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 9.665 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Đời vua Lu-i, ở nước Pháp có một anh…
  2. 1:30Anh chưa bao giờ nghĩ tới chuyện của cải…
  3. 2:51Thưa cha, không phải ạ, Bác-na-bê đáp. Con đây,…
  4. 4:05Thế là Bác-na-bê thành thầy tu. Trong tu viện…
  5. 5:26Thầy Mác-bốt cũng là một trong những người con…
  6. 6:58Anh rên rỉ như thế và buông mình theo…
  7. 7:59Cha bề trên, người có bổn phận không được…

Đời vua Lu-i, ở nước Pháp có một anh làm trò tung hứng nghèo, quê ở Côm-piên, tên là Bác-na-bê, đi khắp các thành thị làm những trò sức khoẻ và khéo tay.

Những ngày phiên chợ, anh trải trên quảng trường một tấm thảm cũ sờn rách. Anh nói mấy câu bông đùa học được của một tay làm trò già lắm, câu nào anh cũng giữ nguyên chẳng sửa chữ nào, để thu hút lũ trẻ con và đám người hiếu kỳ. Rồi anh làm những dáng điệu chẳng tự nhiên chút nào, và đặt một cái đĩa thiếc thăng bằng trên mũi. Thoạt tiên đám đông xem anh một cách thờ ơ.

Nhưng khi anh chống tay trồng cây chuối, đầu chúc xuống, tung lên trời rồi đón bằng chân sáu quả cầu bằng đồng lấp lánh dưới nắng, hoặc khi anh ngả người ra sau tới lúc gáy chạm gót chân, làm thân mình cong thành một bánh xe tròn trịa, và trong dáng ấy tung hứng mười hai con dao, thì một tiếng xuýt xoa thán phục nổi lên trong đám người xem, và tiền xu rơi như mưa xuống tấm thảm.

Thế nhưng cũng như phần đông những người sống bằng tài nghệ, Bác-na-bê ở Côm-piên kiếm sống rất chật vật.

Đổ mồ hôi trán mới có miếng bánh, anh gánh nhiều hơn phần mình những khổ ải sinh ra từ tội lỗi của tổ tông A-đam.

Mà anh cũng chẳng làm việc được nhiều như anh muốn. Để phô bày cái tài đẹp đẽ của mình, cũng như cây cối muốn ra hoa kết trái, anh cần hơi ấm mặt trời và ánh sáng ban ngày. Mùa đông, anh chẳng khác gì cái cây trụi hết lá, gần như đã chết. Đất đóng băng cứng rắn với người làm trò. Và giống như con ve sầu mà nữ thi sĩ Ma-ri xứ Pháp từng kể, anh chịu đói chịu rét trong mùa xấu trời. Nhưng vì lòng anh đơn sơ, anh nhẫn nại chịu những nỗi khổ của mình.

Anh chưa bao giờ nghĩ tới chuyện của cải từ đâu mà ra, hay vì sao phận người lại không bằng nhau. Anh tin chắc rằng nếu thế gian này xấu, thì thế giới bên kia không thể không tốt, và niềm hy vọng ấy nâng đỡ anh. Anh không bắt chước bọn làm trò trộm cắp và vô đạo, những kẻ đã bán linh hồn cho quỷ. Anh chẳng bao giờ báng bổ danh Chúa. Anh sống lương thiện, và tuy chẳng có vợ, anh không thèm muốn vợ người hàng xóm, vì đàn bà là kẻ thù của những người đàn ông mạnh mẽ, như chuyện ông Sam-sôn kể trong Kinh Thánh đã cho thấy.

Nói cho đúng, đầu óc anh chẳng hướng về những ham muốn xác thịt, và bỏ những vò rượu còn khó với anh hơn là bỏ đàn bà. Vì tuy không phải kẻ bê tha, anh thích uống những khi trời nóng. Anh là người tốt, kính sợ Chúa, và rất sùng kính Đức Mẹ Đồng Trinh.

Mỗi lần bước vào nhà thờ, chẳng bao giờ anh quên quỳ trước tượng Mẹ Thiên Chúa mà dâng lời cầu nguyện:

— Lạy Bà, xin Bà gìn giữ đời con cho tới khi Chúa muốn con chết, và khi con chết rồi, xin Bà cho con được hưởng niềm vui thiên đàng.

Một buổi tối kia, sau một ngày mưa, anh đi buồn bã, lưng còng, tay cắp những quả cầu và những con dao giấu trong tấm thảm cũ, tìm một kho thóc nào đó để ngủ qua đêm mà chẳng có gì ăn, thì thấy trên đường một thầy tu cùng đi một lối. Anh chào thầy tử tế. Đi cùng nhịp với nhau, hai người bắt chuyện.

— Này bạn, thầy tu hỏi, sao bạn mặc toàn đồ xanh lá thế? Phải chăng bạn đóng vai thằng hề trong một vở kịch đạo nào đó?

— Thưa cha, không phải ạ, Bác-na-bê đáp. Con đây, như cha thấy, tên là Bác-na-bê, làm nghề tung hứng. Nghề này sẽ là nghề đẹp nhất trên đời, nếu ngày nào cũng được ăn.

— Bác-na-bê bạn tôi, thầy tu nói tiếp, cẩn thận với điều bạn nói. Không có nghề nào đẹp hơn nghề tu hành. Người tu ca ngợi Chúa, Đức Mẹ và các thánh, và đời người tu là một bài thánh ca không dứt dâng lên Chúa.

Bác-na-bê đáp:

— Thưa cha, con xin thú thật con đã nói như kẻ ngu dốt. Nghề của cha đâu thể so với nghề của con. Tuy nhảy múa mà giữ được đồng xu thăng bằng trên đầu cây gậy dựng trên chóp mũi cũng là có tài, nhưng cái tài ấy chẳng sánh được với cha. Con cũng muốn được như cha, ngày ngày hát kinh nhật tụng, nhất là kinh dâng Đức Mẹ rất thánh, Đấng con một lòng sùng kính. Con sẵn lòng từ bỏ cái nghề đã làm con nổi tiếng từ Xoa-xông tới Bô-vê, trong hơn sáu trăm thành thị làng mạc, để vào sống đời tu hành.

Thầy tu cảm động trước tấm lòng đơn sơ của người làm trò. Vốn tinh tường, thầy nhận ra Bác-na-bê là một trong những người thiện chí mà Chúa từng phán: bình an dưới thế cho những người thiện tâm. Vì thế thầy đáp:

— Bác-na-bê bạn tôi, hãy đi với tôi, tôi sẽ đưa bạn vào tu viện mà tôi làm bề trên. Đấng đã dẫn thánh nữ Ma-ri-a Ai Cập vào sa mạc đã đặt tôi trên đường bạn đi, để đưa bạn vào con đường cứu rỗi.

Thế là Bác-na-bê thành thầy tu. Trong tu viện nơi anh được nhận vào, các tu sĩ thi nhau phụng thờ Đức Mẹ, và ai nấy đều dùng hết hiểu biết, hết tài khéo Chúa ban để phụng sự Người.

Phần mình, cha bề trên viết những cuốn sách bàn, theo đúng phép tắc kinh viện, về các nhân đức của Mẹ Thiên Chúa.

Thầy Mô-rít chép những bài luận ấy bằng nét chữ tài hoa lên những tấm giấy da bê.

Thầy A-lếch-xăng vẽ lên đó những bức tiểu hoạ tinh xảo. Người ta thấy Nữ Vương thiên đàng ngồi trên ngai vua Sa-lô-môn, dưới chân có bốn con sư tử canh giữ. Quanh đầu Người có vầng hào quang, bảy con chim bồ câu bay lượn, ấy là bảy ơn của Đức Thánh Linh: ơn kính sợ, ơn đạo đức, ơn hiểu biết, ơn sức mạnh, ơn lo liệu, ơn thông minh và ơn khôn ngoan. Người có sáu trinh nữ tóc vàng làm bạn: Khiêm Nhường, Thận Trọng, Ẩn Dật, Tôn Kính, Trinh Khiết và Vâng Phục.

Dưới chân Người, hai hình người nhỏ bé trần truồng, trắng toát, đứng trong dáng van xin. Đó là những linh hồn đang khẩn cầu Người dùng quyền năng che chở để được cứu rỗi, và hẳn nhiên không khẩn cầu vô ích.

Ở một trang khác, thầy A-lếch-xăng vẽ bà E-va đối diện Đức Mẹ, để người ta cùng lúc thấy tội lỗi và sự cứu chuộc, người đàn bà bị hạ nhục và người trinh nữ được tôn vinh. Trong cuốn sách ấy người ta còn chiêm ngưỡng Giếng Nước Hằng Sống, Suối Nước, Hoa Huệ, Mặt Trăng, Mặt Trời và Khu Vườn Kín mà sách Diễm Ca nhắc tới, Cửa Thiên Đàng và Thành Đô của Chúa, và đó đều là những hình ảnh tượng trưng cho Đức Mẹ.

Thầy Mác-bốt cũng là một trong những người con dịu hiền nhất của Đức Mẹ.

Thầy tạc tượng đá không ngừng tay, nên râu, mày, tóc thầy lúc nào cũng bạc trắng bụi đá, mắt lúc nào cũng sưng và chảy nước. Nhưng tuổi đã cao mà thầy vẫn tràn đầy sức lực và niềm vui, rõ ràng Nữ Vương thiên đàng che chở tuổi già của người con mình. Thầy Mác-bốt tạc Người ngồi trên toà, trán có vầng hào quang viền ngọc. Và thầy cẩn thận để nếp áo phủ kín chân Đấng mà nhà tiên tri đã nói: người yêu dấu của ta như một khu vườn kín.

Đôi khi thầy lại tạc Người dưới dáng một em bé đầy duyên dáng, như đang nói: lạy Chúa, Chúa là Chúa của con! Ngay từ lòng mẹ, con đã nói: Ngài là Thiên Chúa của con.

Trong tu viện còn có những nhà thơ làm những bài ca, những bài thánh thi bằng tiếng La-tinh để tôn vinh Đức Trinh Nữ Ma-ri-a diễm phúc. Thậm chí còn có một thầy người xứ Pi-các-đi chuyển những phép lạ của Đức Bà sang tiếng nói thường ngày, bằng những câu thơ có vần.

Thấy cả một cuộc thi đua ca tụng như thế, cả một mùa gặt đẹp đẽ những công trình như thế, Bác-na-bê than thở vì mình ngu dốt, quê mùa.

— Than ôi, anh thở dài khi đi dạo một mình trong mảnh vườn nhỏ không bóng mát của tu viện, mình thật khốn khổ vì không thể như các anh em, ca ngợi cho xứng đáng Mẹ thánh của Chúa, Đấng mình đã dâng trọn tình yêu của trái tim. Than ôi, than ôi! Con là kẻ thô kệch, chẳng có tài nghệ gì, và để phụng sự Bà, lạy Bà Đồng Trinh, con không có bài giảng răn dạy, không có sách luận chia chương mục đúng phép, không có tranh vẽ tinh tế, không có tượng tạc chuẩn xác, không có những câu thơ đếm từng chữ, nhịp nhàng. Con chẳng có gì cả, than ôi!

Anh rên rỉ như thế và buông mình theo nỗi buồn. Một tối các thầy đang nghỉ ngơi trò chuyện, anh nghe một thầy kể chuyện một tu sĩ chẳng đọc được kinh gì ngoài kinh Kính Mừng. Vị tu sĩ ấy bị khinh rẻ vì dốt nát. Nhưng khi ông chết, từ miệng ông nở ra năm đoá hồng, để tôn vinh năm chữ cái trong tên Ma-ri-a, và sự thánh thiện của ông được tỏ lộ như thế.

Nghe chuyện, Bác-na-bê lại một lần nữa thán phục lòng nhân từ của Đức Mẹ. Nhưng tấm gương của cái chết diễm phúc ấy không làm anh khuây khoả, vì lòng anh nhiệt thành, và anh muốn phụng sự vinh quang của Bà mình trên trời.

Anh tìm cách mà không sao tìm ra, và ngày càng buồn phiền. Rồi một buổi sáng, anh thức dậy lòng đầy vui sướng, chạy tới nhà nguyện, ở lại đó một mình hơn một giờ. Sau bữa trưa, anh lại tới đó.

Và từ lúc ấy, ngày nào anh cũng tới nhà nguyện vào giờ vắng người, ở đó phần lớn khoảng thời gian các thầy khác dành cho các môn học và các nghề thủ công. Anh không còn buồn, không còn rên rỉ nữa.

Lối sống kỳ lạ ấy khơi dậy tính tò mò của các thầy.

Trong cộng đoàn, người ta tự hỏi vì sao thầy Bác-na-bê hay đi tĩnh tâm một mình như thế.

Cha bề trên, người có bổn phận không được bỏ sót điều gì trong cách sống của các tu sĩ mình, quyết định theo dõi Bác-na-bê trong những lúc anh ở một mình. Thế là một hôm, khi anh vẫn đóng cửa trong nhà nguyện như thường lệ, cha bề trên cùng hai vị cao niên trong tu viện tới, nhìn qua khe cửa xem bên trong đang xảy ra chuyện gì.

Họ thấy Bác-na-bê trước bàn thờ Đức Mẹ, đầu chúc xuống, chân chổng lên trời, đang tung hứng sáu quả cầu đồng và mười hai con dao. Để tôn vinh Mẹ thánh của Chúa, anh làm những trò đã từng đem lại cho anh nhiều lời khen ngợi nhất. Không hiểu rằng con người đơn sơ ấy đang dâng tài nghệ và hiểu biết của mình để phụng sự Đức Mẹ, hai vị cao niên kêu lên rằng đó là phạm thánh.

Cha bề trên biết Bác-na-bê có tâm hồn trong trắng, nhưng ngỡ anh đã hoá điên. Cả ba sắp sửa lôi gấp anh ra khỏi nhà nguyện, thì họ thấy Đức Mẹ bước xuống những bậc bàn thờ, tới lấy vạt áo choàng xanh lau những giọt mồ hôi đang nhỏ xuống từ trán người làm trò tung hứng của Người.

Bấy giờ cha bề trên sấp mặt xuống nền đá, đọc lời này:

— Phúc cho những người đơn sơ, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa!

— A-men! hai vị cao niên đáp, cúi hôn mặt đất.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnatole France (1844 – 1924)
Năm mất1924
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Jongleur de Notre-Dame, L’Étui de nacre, 1892
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →