Chương 1: Phần một. Ngôi nhà nhỏ có những cánh cửa biết hát
Tôi rất yêu cuộc sống khiêm nhường của những chủ đất sống cô quạnh ở các làng xa, những người mà ở xứ U-crai-na người ta thường gọi là "người đời xưa". Họ giống như những ngôi nhà nhỏ cũ kỹ đẹp như tranh, đẹp nhờ cái vẻ loang lổ sặc sỡ và nhờ hoàn toàn trái ngược với những công trình mới phẳng phiu, mà tường chưa bị mưa rửa, mái chưa bị rêu xanh phủ, thềm chưa tróc vữa để lộ gạch đỏ.
Đôi khi tôi thích được bước xuống trong chốc lát vào thế giới của cuộc sống cô quạnh lạ thường ấy, nơi chẳng một mong muốn nào bay vượt qua hàng rào cọc quây quanh cái sân nhỏ, vượt qua rào phên của khu vườn đầy táo và mận, vượt qua những túp nhà làng xiêu vẹo quanh đó, rợp bóng liễu, bóng cây cơm cháy và cây lê. Cuộc sống của những chủ nhân khiêm nhường ấy lặng lẽ đến thế, lặng lẽ đến thế, khiến ta quên mình trong chốc lát, và tưởng rằng những đam mê, những ham muốn, những đứa con bất an của quỷ dữ vẫn làm thế gian xáo động, hoàn toàn không có thật, và ta chỉ thấy chúng trong một giấc mơ lấp lánh, chói loà.
Từ đây tôi nhìn thấy ngôi nhà thấp với hành lang chạy quanh, những chiếc cột gỗ nhỏ đã đen sạm, để khi có sấm, có mưa đá, người ta có thể đóng cửa chớp mà không bị ướt. Sau nhà là cây anh đào dại thơm ngát, những dãy cây ăn quả thấp chìm trong màu đỏ thắm của anh đào và biển mận tím như ngọc phủ một lớp phấn mờ màu chì. Một cây phong toả tán rộng, dưới bóng trải tấm thảm để nghỉ. Trước nhà là cái sân rộng với lớp cỏ non thấp, một lối mòn từ kho thóc đến bếp và từ bếp đến các gian nhà chủ. Một con ngỗng cổ dài đang uống nước cùng đàn ngỗng con non nớt, mềm như lông tơ. Hàng rào cọc treo đầy những xâu lê khô, táo khô và những tấm thảm đang phơi gió. Một xe dưa đỗ cạnh kho thóc, một con bò đực đã tháo ách nằm lười biếng bên cạnh.
Tất cả những thứ ấy có một sức quyến rũ không sao tả nổi đối với tôi, có lẽ vì tôi không còn được thấy chúng nữa, và vì ta vẫn thương mến mọi thứ mà ta phải xa cách. Dù sao thì ngay cả hồi ấy, khi cỗ xe của tôi đến trước thềm ngôi nhà nhỏ, tâm hồn tôi đã rơi vào một trạng thái dễ chịu, bình yên lạ lùng. Ngựa vui vẻ chạy đến dưới thềm, bác đánh xe thản nhiên leo xuống ghế, nhồi tẩu, như thể về đến chính nhà mình. Ngay cả tiếng sủa của mấy con chó lừ đừ cũng nghe êm tai.
Nhưng tôi thích nhất chính những chủ nhân của những góc nhỏ khiêm nhường ấy, những ông lão bà lão chu đáo ra tận nơi đón khách. Đến giờ đôi khi tôi vẫn thấy khuôn mặt họ hiện ra giữa tiếng ồn, giữa đám đông, giữa những chiếc áo đuôi tôm thời thượng, và bỗng tôi như rơi vào nửa tỉnh nửa mơ, thấy lại chuyện xưa. Trên mặt họ bao giờ cũng ghi rõ một vẻ hiền hậu, niềm nở, chân thành đến thế, khiến ta bất giác từ bỏ, ít nhất trong một lúc, mọi mơ mộng táo bạo, và lặng lẽ chuyển cả tâm hồn sang cuộc sống đồng quê giản dị.
Đến giờ tôi vẫn không quên được hai ông bà già của thế kỷ trước. Than ôi, giờ họ không còn nữa. Nhưng lòng tôi đến nay vẫn đầy thương xót, và tim tôi thắt lại lạ lùng khi tưởng tượng một ngày nào đó trở lại nơi họ từng ở, nay đã hoang vắng, và chỉ thấy một đống nhà đổ nát, một cái ao tù, một con hào cỏ mọc đầy ở chỗ ngày xưa có ngôi nhà thấp, và chẳng còn gì nữa. Buồn thay! Tôi đã buồn từ trước rồi! Nhưng ta hãy quay về câu chuyện.
Ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích Tốp-xtô-gúp và vợ ông, bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na, mà dân quanh vùng gọi là bà Tốp-xtô-gúp, chính là hai ông bà già mà tôi bắt đầu kể. Nếu tôi là hoạ sĩ, muốn vẽ lên vải cặp vợ chồng già hiền hậu trong thần thoại là Phi-lê-môn và Bô-xít, tôi sẽ chẳng bao giờ chọn mẫu nào khác ngoài họ.
Ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích sáu mươi tuổi, bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na năm mươi lăm. Ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích người cao, lúc nào cũng mặc chiếc áo lông cừu ngắn bọc vải len, ngồi lom khom, và gần như lúc nào cũng mỉm cười, dù đang kể chuyện hay chỉ ngồi nghe. Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na thì hơi nghiêm, gần như chẳng bao giờ cười. Nhưng trên mặt, trong mắt bà ghi rõ biết bao hiền hậu, biết bao sẵn lòng đãi khách bằng tất cả những gì ngon nhất nhà mình có, đến nỗi bạn hẳn sẽ thấy một nụ cười là quá ngọt ngào đối với khuôn mặt hiền lành ấy.
Những nếp nhăn nhẹ trên mặt họ sắp xếp dễ thương đến mức một hoạ sĩ hẳn sẽ đánh cắp chúng. Hình như qua chúng có thể đọc được cả cuộc đời họ, cuộc đời trong trẻo, bình yên mà những dòng họ lâu đời, chất phác và giàu có của xứ này vẫn sống. Những dòng họ bao giờ cũng trái ngược với những kẻ ti tiện xuất thân từ đám buôn hắc ín, buôn vặt, kéo nhau như cào cào vào các công đường, bòn đến đồng xu cuối cùng của chính đồng hương mình, tràn ngập Pê-téc-bua những kẻ hay đơn kiện, rồi cuối cùng làm giàu, và long trọng thêm vào cuối họ mình một âm tiết cho ra vẻ Nga. Không, hai ông bà chẳng giống chút nào những sinh vật đáng khinh và đáng thương ấy, cũng như mọi dòng họ lâu đời, gốc gác của xứ U-crai-na.
Không thể nhìn tình yêu thương lẫn nhau của họ mà không xúc động. Họ chẳng bao giờ gọi nhau là "mình" hay "anh em", mà bao giờ cũng gọi trịnh trọng: "Ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích", "Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na".
– Có phải ông làm thủng cái ghế không, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích?
– Không sao, bà đừng giận, bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na: tôi đấy.
Họ chưa bao giờ có con, nên mọi gắn bó của họ dồn cả vào nhau. Ngày trước, thời trẻ, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích từng phục vụ trong đội kỵ binh tình nguyện, sau lên thiếu tá hạng hai. Nhưng chuyện ấy đã lâu lắm rồi, đã qua rồi, chính ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích cũng gần như chẳng bao giờ nhắc đến. Ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích lấy vợ năm ba mươi tuổi, khi ông còn là một chàng trai khôi ngô mặc áo chẽn thêu. Ông còn khá khéo léo bắt trộm bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na đi, vì họ hàng bà không muốn gả bà cho ông. Nhưng cả chuyện ấy ông cũng chẳng còn nhớ mấy, ít ra thì ông chẳng bao giờ kể.
Tất cả những chuyện xưa xa xôi, khác thường ấy đã nhường chỗ cho một cuộc sống bình yên và cô quạnh, cho những giấc mơ màng lơ mơ mà sao vẫn hài hoà. Như khi bạn ngồi trên ban công nhà quê nhìn ra vườn, lúc cơn mưa đẹp đẽ rì rào rộn rã, gõ lộp độp trên lá cây, chảy róc rách thành dòng, rủ rỉ ru giấc ngủ vào tay chân bạn, trong khi cầu vồng lén hiện ra sau rặng cây, như một vòm cung đổ nát, toả sáng mờ mờ bảy sắc trên trời. Hay khi cỗ xe đung đưa ru bạn, nhấp nhô giữa những bụi cây xanh, chim cút thảo nguyên kêu vang, và cỏ thơm cùng bông lúa và hoa đồng nội chen vào cửa xe, mơn man đập nhẹ vào tay và mặt bạn.
Ông bao giờ cũng mỉm cười dễ chịu lắng nghe khách đến chơi, đôi khi chính ông cũng nói, nhưng chủ yếu là hỏi han. Ông không thuộc hạng người già hay làm phiền người ta bằng những lời ca ngợi muôn thuở thời xưa hay chê bai thời nay. Trái lại, khi hỏi han bạn, ông tỏ ra rất tò mò và quan tâm đến chuyện đời riêng của bạn, những thành công và thất bại, những thứ mà mọi ông già tốt bụng thường quan tâm, tuy sự tò mò ấy cũng hơi giống sự tò mò của đứa trẻ, vừa nói chuyện với bạn vừa ngắm cái con dấu đeo trên đồng hồ của bạn. Những lúc ấy, có thể nói khuôn mặt ông toả ra lòng tốt.
Các phòng trong ngôi nhà nhỏ nơi hai ông bà già của chúng ta sống đều nhỏ và thấp, như thường thấy ở nhà những người đời xưa. Phòng nào cũng có một cái lò sưởi khổng lồ chiếm gần một phần ba gian phòng. Những căn phòng nhỏ ấy ấm kinh khủng, vì cả ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích lẫn bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na đều rất thích ấm. Cửa lò đều mở ra phía tiền sảnh, nơi lúc nào cũng chất rơm gần tới tận trần, thứ rơm mà ở xứ U-crai-na người ta vẫn dùng thay củi. Tiếng rơm cháy lách tách và ánh lửa khiến tiền sảnh vô cùng dễ chịu vào những buổi tối mùa đông, khi lũ trai trẻ nóng nảy, rét cóng vì mải đuổi theo một cô gái ngăm ngăm nào đó, chạy ùa vào vừa vỗ tay vừa xuýt xoa.
Tường các phòng treo mấy bức tranh to nhỏ trong những khung hẹp kiểu cổ. Tôi tin chắc chính chủ nhà đã quên nội dung của chúng từ lâu, và nếu có bức nào bị mang đi, hẳn họ cũng chẳng nhận ra. Có hai bức chân dung lớn vẽ sơn dầu. Một bức vẽ một vị giám mục nào đó, bức kia vẽ Nga hoàng Pi-ốt Đệ Tam. Từ khung hẹp, nữ công tước La-va-li-e nhìn ra, người dính đầy vết ruồi. Quanh cửa sổ và trên cửa ra vào có vô số bức tranh nhỏ, mà người ta quen đến mức coi như vết bẩn trên tường, nên chẳng bao giờ ngắm.
Sàn nhà gần như ở mọi phòng đều bằng đất sét, nhưng được trát sạch sẽ và giữ gìn gọn gàng đến mức hẳn chẳng có sàn gỗ nào ở nhà giàu sánh nổi, những sàn gỗ mà một gã hầu mặc chế phục ngái ngủ uể oải quét.
Phòng của bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na bày toàn hòm, rương, hộp, hộp con và rương nhỏ. Vô số túi bọc đựng hạt giống, hạt hoa, hạt rau, hạt dưa hấu treo khắp tường. Vô số cuộn len nhiều màu, những mảnh vải của những chiếc áo xưa may từ nửa thế kỷ trước, được xếp ở các góc, trong các rương nhỏ và giữa các rương nhỏ. Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na là một người nội trợ giỏi, gom góp tất cả, dù đôi khi chính bà cũng không biết sau này sẽ dùng nó vào việc gì.
Nhưng thứ đáng chú ý nhất trong nhà là những cánh cửa biết hát. Sáng ra, tiếng hát của những cánh cửa đã vang khắp nhà. Tôi không thể nói vì sao chúng hát: tại những bản lề đã gỉ sét, hay chính người thợ làm ra chúng đã giấu trong đó một bí quyết nào. Nhưng điều đáng chú ý là mỗi cánh cửa có một giọng riêng. Cửa vào phòng ngủ hát bằng giọng kim mảnh nhất. Cửa vào phòng ăn khàn khàn giọng trầm. Còn cửa ở tiền sảnh phát ra một âm thanh lạ lùng, vừa lạch xạch vừa rên rỉ, đến nỗi lắng nghe kỹ thì cuối cùng nghe rất rõ: "Trời ơi, tôi rét quá!"
Tôi biết nhiều người rất ghét âm thanh ấy. Nhưng tôi thì rất yêu nó. Nếu đôi khi ở nơi này tôi tình cờ nghe tiếng cửa kẽo kẹt, thì bỗng tôi như ngửi thấy mùi làng quê, căn phòng thấp sáng ánh nến trên chân đèn kiểu cổ, bữa tối đã dọn sẵn trên bàn, đêm tháng năm tối sẫm nhìn từ vườn qua khung cửa sổ mở vào chiếc bàn bày đồ ăn, con chim họa mi tưới tiếng hót vang lừng lên khu vườn, ngôi nhà và dòng sông xa, nỗi sợ và tiếng xào xạc của cành lá… Và lạy Chúa, một chuỗi kỷ niệm dài biết bao lại trôi về với tôi những lúc ấy!
Những chiếc ghế trong phòng bằng gỗ, nặng nề, như thường thấy thời xưa. Ghế nào cũng có lưng tựa cao tiện chạm, để nguyên màu gỗ, không đánh véc-ni, không sơn. Chúng thậm chí không bọc vải, và hơi giống những chiếc ghế mà đến nay các vị giám mục vẫn ngồi. Những chiếc bàn tam giác ở các góc, bàn vuông trước đi-văng và trước tấm gương trong khung vàng mảnh chạm hình lá cây, ruồi đã chấm đầy những đốm đen. Tấm thảm trước đi-văng có những con chim giống bông hoa và những bông hoa giống con chim. Đó gần như là toàn bộ đồ đạc của ngôi nhà nhỏ chẳng cầu kỳ, nơi hai ông bà già của tôi sống.
Phòng các cô hầu chật ních những cô gái trẻ và không còn trẻ, mặc váy lót kẻ sọc. Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na thỉnh thoảng giao cho họ khâu vài thứ lặt vặt, bắt họ nhặt quả mọng, nhưng phần lớn thời gian họ chạy xuống bếp và ngủ. Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na cho rằng cần thiết phải nuôi họ trong nhà, và trông chừng đạo đức của họ rất nghiêm. Nhưng bà vô cùng ngạc nhiên là chẳng mấy tháng lại có một cô nào đó trong đám hầu gái eo lưng to ra khác thường. Điều ấy càng có vẻ lạ, vì trong nhà gần như chẳng có ai là đàn ông chưa vợ, ngoại trừ chú bé hầu phòng mặc áo đuôi tôm ngắn màu xám, chân đất, không ăn thì chắc chắn là đang ngủ. Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na thường mắng cô gái có lỗi, và nghiêm khắc dặn từ nay không được thế nữa.
Trên kính cửa sổ, vô số ruồi vo ve kinh khủng, tất cả bị át đi bởi giọng trầm dày của con ong nghệ, thỉnh thoảng kèm theo tiếng rít chói tai của ong vò vẽ. Nhưng hễ nến được mang ra, cả bầy ấy lại kéo nhau đi ngủ, phủ kín trần nhà như một đám mây đen.
Ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích rất ít lo chuyện làm ăn, tuy thỉnh thoảng ông cũng ra chỗ thợ cắt cỏ, thợ gặt, đứng nhìn họ làm khá chăm chú. Toàn bộ gánh nặng cai quản đều đặt trên vai bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na. Việc nhà của bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na là không ngớt mở rồi khoá kho, muối, phơi, nấu vô số trái cây và cây cỏ. Nhà bà hệt như một phòng thí nghiệm hoá học. Dưới gốc táo lúc nào cũng nhóm lửa, và hầu như chẳng bao giờ trên kiềng sắt vắng cái nồi hay cái chậu đồng nấu mứt, thạch, kẹo dẻo, làm bằng mật ong, bằng đường, và tôi chẳng còn nhớ bằng gì nữa.
Dưới một gốc cây khác, bác đánh xe mãi cất rượu trong cái nồi chưng cất bằng đồng, ngâm lá đào, hoa anh đào dại, cỏ thiên kim, hạt anh đào. Đến cuối mẻ cất, bác hoàn toàn không còn uốn lưỡi được nữa, nói toàn những câu vớ vẩn đến nỗi bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na chẳng hiểu gì, rồi bác xuống bếp ngủ.
Bao nhiêu thứ ấy được nấu, được muối, được phơi nhiều đến mức có lẽ cuối cùng đã tràn ngập cả sân, vì bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na bao giờ cũng thích làm dư ra để dành, ngoài phần đã tính để dùng. Giá như quá nửa số ấy không bị đám hầu gái ăn mất. Họ lẻn vào kho, ăn kinh khủng đến nỗi cả ngày rên rỉ, than đau bụng.
Việc cày cấy và những việc làm ăn khác ngoài sân thì bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na ít có dịp can thiệp. Người quản lý câu kết với ông trưởng làng ăn cắp không chút xót thương. Họ quen thói vào rừng của chủ như vào rừng của mình, đóng vô số xe trượt đem bán ở phiên chợ gần đó. Ngoài ra, tất cả những cây sồi to, họ đều bán cho những người Cô-dắc hàng xóm làm cối xay.
Chỉ có một lần bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na muốn đi kiểm tra rừng của mình. Người ta thắng một cỗ xe ngựa nhẹ có những tấm da chắn bùn to tướng. Bác đánh xe vừa giũ dây cương, mấy con ngựa từng phục vụ trong đội dân binh vừa nhích khỏi chỗ, thì không khí đã đầy những âm thanh lạ lùng: nghe cùng lúc cả tiếng sáo, tiếng trống con, tiếng trống cái. Từng chiếc đinh, từng cái móc sắt đều kêu leng keng, đến nỗi ở tận chỗ cối xay cũng nghe thấy bà chủ ra khỏi sân, dù quãng đường ấy chẳng dưới hai dặm. Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na không thể không nhận ra khu rừng bị tàn phá khủng khiếp, mất hết những cây sồi mà từ thuở nhỏ bà đã biết là cây trăm tuổi.
– Này Ni-chi-po, bà nói, quay sang người quản lý đang có mặt ở đó, sao rừng sồi của anh lại thưa thớt thế này? Coi chừng kẻo tóc trên đầu anh cũng thưa đi đấy.
– Sao lại thưa ạ? Người quản lý thường đáp. Mất rồi! Mất sạch rồi: cây thì bị sét đánh, cây thì bị sâu đục, mất rồi, thưa bà, mất rồi.
Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na hoàn toàn hài lòng với câu trả lời ấy, và về đến nhà thì chỉ ra lệnh tăng gấp đôi người canh gác trong vườn, quanh mấy cây anh đào Tây Ban Nha và mấy cây lê mùa đông to.
Hai vị cai quản xứng đáng ấy, người quản lý và ông trưởng làng, thấy chẳng cần thiết phải chở hết bột về kho nhà chủ, nhà chủ có một nửa là đủ rồi. Mà cuối cùng nửa ấy họ cũng chở về toàn bột mốc hoặc bột ẩm, thứ đã bị chê ở chợ phiên. Nhưng người quản lý và ông trưởng làng ăn cắp bao nhiêu đi nữa, cả nhà ăn uống kinh khủng đến đâu đi nữa, từ bà giữ kho cho đến lũ lợn, lũ lợn phá hại không biết bao nhiêu mận và táo, nhiều khi còn tự lấy mõm húc vào cây cho cả một trận mưa quả rụng xuống. Lũ sẻ và quạ mổ bao nhiêu đi nữa, đám gia nhân mang quà cho họ hàng ở các làng khác bao nhiêu đi nữa, cả lôi trong kho ra những tấm vải cũ, những con sợi, tất cả đều đổ về cái nguồn chung của cả thế gian là quán rượu. Khách khứa, những bác đánh xe, những gã hầu lừ đừ ăn cắp bao nhiêu đi nữa. Thì mảnh đất được ban phước ấy vẫn sinh ra mọi thứ nhiều vô kể, còn ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích và bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na lại cần ít đến thế, nên mọi sự cướp bóc khủng khiếp ấy dường như chẳng để lại dấu vết gì trong nhà họ.
Theo tục lệ xưa của những chủ đất đời xưa, cả hai ông bà già đều rất thích ăn. Trời vừa rạng, họ bao giờ cũng dậy sớm, và những cánh cửa vừa bắt đầu bản hoà nhạc nhiều giọng của mình, thì họ đã ngồi bên chiếc bàn nhỏ uống cà phê. Uống cà phê xong, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích ra tiền sảnh, vẫy vẫy chiếc khăn tay, nói:
– Xuỵt, xuỵt! Đi, ngỗng, ra khỏi thềm!
Ngoài sân ông thường gặp người quản lý. Như thường lệ, ông bắt chuyện với anh ta, hỏi han công việc hết sức tỉ mỉ, đưa ra những nhận xét và chỉ thị khiến ai cũng phải ngạc nhiên vì ông hiểu việc nhà nông đến thế, và một kẻ mới vào nghề hẳn chẳng dám nghĩ có thể ăn cắp được của một ông chủ tinh mắt như vậy. Nhưng người quản lý của ông là con chim đã từng nếm đạn: anh ta biết phải trả lời thế nào, mà còn biết rõ hơn phải làm ăn thế nào.
Sau đó ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích trở vào nhà, đến bên bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na, nói:
– Này bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na, có lẽ đã đến lúc ăn chút gì rồi nhỉ?
– Bây giờ thì ăn gì hả ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích? Bánh quy mỡ nhé, hay bánh nhân hạt anh túc, hay là nấm muối?
– Thì nấm muối hay bánh cũng được, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích đáp.
Thế là trên bàn bỗng xuất hiện tấm khăn trải với bánh nhỏ và nấm muối.
Một giờ trước bữa trưa, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích lại ăn thêm chút nữa, uống một chén rượu bạc kiểu cổ, nhắm với nấm, với đủ loại cá khô và những thứ khác. Mười hai giờ thì ngồi vào bữa trưa. Ngoài những đĩa thức ăn và những bình nước xốt, trên bàn còn đặt vô số những chiếc nồi nhỏ trát kín nắp, để khỏi bay hơi món ngon nào đó của nền bếp xưa đậm đà. Trong bữa trưa, chuyện trò thường xoay quanh những đề tài gần gũi nhất với bữa ăn.
– Tôi thấy hình như món cháo này, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích thường nói, hơi bị khê. Bà có thấy thế không, bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na?
– Không đâu, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích. Ông thêm chút bơ vào, thế là không thấy khê nữa. Hoặc ông lấy chút nước xốt nấm này mà rưới vào.
– Cũng được, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích nói, chìa đĩa ra. Để xem ra sao.
Ăn trưa xong, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích đi nằm nghỉ một tiếng, sau đó bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na mang đến một quả dưa hấu đã bổ, nói:
– Ông nếm thử xem, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích, quả dưa này ngon lắm.
– Bà đừng tin là ruột nó đỏ thì ngon nhé, bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích nói, cầm lấy một miếng khá to. Có khi đỏ mà vẫn chẳng ngon.
Nhưng quả dưa lập tức biến mất. Sau đó ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích ăn thêm mấy quả lê, rồi đi dạo trong vườn cùng bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na. Về đến nhà, bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na đi lo việc của mình, còn ông ngồi dưới mái hiên nhìn ra sân, ngắm cái kho cứ lúc mở ra lúc đóng lại, và đám hầu gái chen nhau, khi mang vào, khi mang ra, đủ thứ lỉnh kỉnh trong những hộp gỗ, những cái sàng, những cái mẹt và những đồ đựng hoa quả khác.
Một lúc sau, ông cho gọi bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na, hoặc tự đến chỗ bà, nói:
– Tôi ăn gì bây giờ nhỉ, bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na?
– Ăn gì bây giờ à? Bà Pun-khê-ri-a I-va-nốp-na nói. Hay tôi đi bảo người ta mang cho ông bánh bao nhân quả mọng, thứ tôi đã dặn để dành riêng cho ông?
– Thế cũng tốt, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích đáp.
– Hay là ông ăn chút thạch quả nhé?
– Thế cũng được, ông Áp-pha-na-xi I-va-nô-vích đáp.
Sau đó mọi thứ được mang đến ngay, và như lệ thường, được ăn hết.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn