Người bà con của tôi và tôi đang trên đường trở về Calcutta sau chuyến đi chơi mùa lễ thì gặp người đàn ông ấy trên tàu hoả. Nhìn cách ăn mặc và dáng điệu, thoạt đầu chúng tôi tưởng ông ta là một người Hồi giáo ở miền thượng du. Nhưng nghe ông ta nói chuyện thì chúng tôi bắt đầu ngờ ngợ.
Chuyện gì ông ta cũng bàn, mà bàn chắc nịch, chắc đến mức người nghe phải tưởng Đấng Tạo Hoá làm việc gì cũng hỏi ý ông ta trước. Cho tới hôm ấy, chúng tôi vẫn sống yên vui, vì chẳng hề biết rằng có những thế lực bí mật đang ngấm ngầm hoạt động, rằng quân Nga đã tiến sát tới nơi, rằng người Anh có những mưu sâu kế hiểm, rằng các tù trưởng bản xứ đang rối loạn tới hồi gay cấn. Vậy mà người bạn đường mới quen của chúng tôi chỉ mỉm cười ranh mãnh mà bảo:
"Trên trời dưới đất còn khối chuyện mà báo chí của các ông không đăng đâu."
Chúng tôi xưa nay chưa từng ra khỏi nhà, nên phong thái của người ấy làm chúng tôi há hốc miệng. Chuyện dù nhỏ nhặt đến đâu, ông ta cũng dẫn được khoa học, bình được kinh Vệ-đà, hoặc ngâm được mấy câu thơ của một thi sĩ Ba Tư nào đó. Chúng tôi thì chẳng biết gì về khoa học, về kinh Vệ-đà hay tiếng Ba Tư, nên mỗi lúc lại càng thêm phục.
Người bà con của tôi vốn theo thuyết thần linh, tin chắc rằng ông bạn đường kia hẳn được một thứ "từ lực" hay "phép màu" nào đó soi dẫn, hoặc có một "thể vía" hay cái gì đại loại như thế. Câu nói nhàm nhất buột ra từ miệng con người phi thường ấy, anh cũng nghe say sưa như nghe kinh, rồi lén ghi chép lại. Tôi đoán con người phi thường kia có thấy, và lấy làm hơi khoái chí.
Tàu tới ga đầu mối, chúng tôi vào phòng đợi để chờ chuyến nối. Lúc ấy đã mười giờ đêm. Nghe nói đường ray có trục trặc nên tàu sẽ tới rất trễ. Tôi trải chăn lên mặt bàn, định nằm đánh một giấc cho thoải mái, thì con người phi thường ấy thong thả bắt đầu kể câu chuyện dưới đây. Dĩ nhiên, đêm ấy tôi không chợp mắt được chút nào.
Ông ta kể:
Hồi ấy, vì bất đồng với cấp trên về mấy việc cai trị, tôi bỏ chức ở Giu-na-ga, sang làm việc cho ngài Ni-dam xứ Hai-đri-a. Thấy tôi còn trẻ, khoẻ mạnh, người ta cử ngay tôi đi làm viên thu thuế bông ở Ba-rích.
Ba-rích là một nơi tuyệt đẹp. Sông Xu-xta róc rách trên ghềnh đá, thầm thì trên sỏi cuội, lượn qua những khu rừng dưới chân các ngọn đồi vắng vẻ như một vũ nữ tài hoa. Từ mép nước có một trăm năm mươi bậc đá dẫn lên, và trên đỉnh dãy bậc ấy, sát bờ sông, dưới chân đồi, sừng sững một toà lâu đài cẩm thạch đứng trơ trọi một mình. Quanh đó không một bóng nhà, vì làng Ba-rích và chợ bông ở mãi tận đằng xa.
Chừng hai trăm năm mươi năm trước, hoàng đế Mát-mút Sa đệ nhị đã xây toà lâu đài hẻo lánh này làm chốn ăn chơi. Thời ấy, nước hoa hồng phun lên từ những vòi nước. Trên nền cẩm thạch mát lạnh của những gian phòng đẫm hơi nước, các thiếu nữ Ba Tư ngồi xoã tóc chờ tắm, đôi bàn chân trần mềm mại khoả trong làn nước trong của bể, vừa gảy đàn vừa hát những khúc ca về vườn nho quê nhà.
Giờ thì vòi nước đã thôi phun, tiếng hát đã im. Không còn những bàn chân trắng như tuyết bước khoan thai trên nền cẩm thạch trắng như tuyết nữa. Nơi ấy chỉ còn là chỗ ở mênh mông, hiu quạnh của những kẻ thu thuế như tôi, những người đàn ông bị nỗi cô đơn đè nặng và thiếu vắng bóng đàn bà.
Ông Ca-rim Khan, viên thư ký già trong sở, đã nhiều lần khuyên tôi đừng dọn đến đó ở.
"Ban ngày ngài cứ ở đó nếu ngài thích," ông bảo. "Nhưng đừng bao giờ ngủ lại qua đêm."
Tôi cười xoà cho qua. Bọn đầy tớ nói chúng sẽ làm việc tới tối rồi về, đêm không ở lại. Tôi gật đầu ngay. Ngôi nhà mang tiếng xấu đến nỗi trời tối là ngay cả kẻ trộm cũng chẳng dám bén mảng tới gần.
Thoạt đầu, cảnh vắng vẻ của toà lâu đài bỏ hoang đè lên tôi như một cơn ác mộng. Tôi cố ở ngoài thật lâu, làm việc quần quật, đêm mới về nhà, mệt rã rời, lên giường là ngủ thiếp đi.
Chưa được một tuần, nơi ấy bắt đầu toả ra một sức quyến rũ kỳ dị đối với tôi. Thật khó mà tả, càng khó mà bắt người ta tin. Tôi có cảm giác cả ngôi nhà như một sinh vật sống, đang từ từ, lặng lẽ tiêu hoá tôi bằng một thứ dịch vị làm u mê nào đó.
Có lẽ chuyện ấy đã bắt đầu ngay từ lúc tôi đặt chân vào nhà. Nhưng tôi còn nhớ rõ cái ngày đầu tiên tôi nhận ra nó.
Hôm đó đã sang đầu hè. Chợ ế, tôi chẳng có việc gì làm. Gần lúc mặt trời lặn, tôi ngồi trên chiếc ghế bành sát mép nước, dưới chân dãy bậc đá. Sông Xu-xta đã cạn, nước rút xuống thấp. Bên kia, một dải cát rộng rực lên màu chiều. Bên này, những viên sỏi dưới đáy làn nước nông trong vắt lấp lánh. Không một hơi gió. Không khí đứng lặng, nồng nặc mùi hương hắc của những bụi cây mọc trên đồi gần đó.
Mặt trời vừa khuất sau đỉnh đồi thì một tấm màn đen dài buông xuống sân khấu của ngày. Những ngọn đồi chắn ngang khiến cái lúc chạng vạng, khi sáng tối còn hoà lẫn, bị cắt ngắn lại. Tôi định cưỡi ngựa đi dạo một vòng, vừa toan đứng dậy thì nghe có tiếng chân bước trên bậc đá phía sau. Tôi ngoảnh lại, nhưng không có ai.
Tưởng mình nghe nhầm, tôi lại ngồi xuống. Lần này tôi nghe thấy rất nhiều tiếng chân, như thể cả một đám đông đang ùa xuống bậc đá. Một luồng run rẩy kỳ lạ chạy khắp người tôi, vừa sung sướng vừa thoáng chút sợ hãi. Trước mắt tôi không có một bóng người, vậy mà tôi tưởng như thấy cả một đoàn thiếu nữ vui tươi đang đi xuống bậc đá, để tắm sông Xu-xta trong buổi chiều hè.
Trong thung lũng, trên mặt sông, trong toà lâu đài, không một âm thanh nào phá tan sự im lặng. Thế mà tôi nghe rõ tiếng cười vui vẻ, trong trẻo của các cô gái, như tiếng suối reo đổ xuống trăm ngọn thác nhỏ. Họ chạy lướt qua tôi, đuổi nhau tinh nghịch ra phía bờ sông, chẳng để ý gì đến tôi. Tôi không thấy họ, và họ cũng như không thấy tôi.
Mặt sông vẫn phẳng lặng. Nhưng tôi cảm thấy làn nước nông, trong và yên ấy bỗng xao động vì bao nhiêu cánh tay đeo vòng lanh canh khoát nước. Tôi cảm thấy các cô gái đang cười đùa, té nước vào nhau, và những bàn chân của các nàng tung từng con sóng nhỏ lên thành những trận mưa ngọc trai.
Tim tôi rộn lên. Tôi không biết đó là vì sợ, vì sướng hay vì tò mò. Tôi khao khát được nhìn họ cho rõ hơn, nhưng trước mắt chẳng có gì. Tôi tưởng chỉ cần căng tai ra là nghe được hết những gì họ nói. Nhưng căng tai đến đâu, tôi cũng chỉ nghe thấy tiếng ve kêu trong rừng. Dường như có một tấm màn đen dày hai trăm năm mươi năm treo trước mặt tôi. Tôi muốn run run vén một góc lên mà nhìn trộm, dù đám đông phía bên kia hoàn toàn chìm trong bóng tối.
Bỗng một cơn gió ập tới, xua tan cái oi bức của buổi chiều. Mặt sông Xu-xta đang lặng bỗng gợn lên, quăn lại như mái tóc của một nàng tiên nước. Từ những cánh rừng chìm trong bóng chiều vọng ra một tiếng xào xạc đồng loạt, như thể rừng vừa tỉnh dậy sau một giấc mộng đen. Gọi là thật hay mơ cũng được, cái ảo ảnh vô hình phản chiếu từ một thế giới xa xăm hai trăm năm mươi năm tuổi ấy tan biến trong chớp mắt. Những bóng hình huyền bí vừa lướt qua tôi bằng những bước chân không thân xác, cười vang mà không thành tiếng, rồi lao mình xuống sông, đã không quay lên vắt những tà áo ướt sũng. Như mùi hương bị gió cuốn đi, họ tan biến chỉ trong một hơi thở của mùa xuân.
Tôi đâm ra sợ hãi thật sự. Hẳn là nàng Thơ đã nhân lúc tôi cô đơn mà nhập vào tôi. Mụ phù thuỷ ấy rõ ràng đã đến để làm hại một gã khốn khổ kiếm sống bằng nghề thu thuế bông như tôi. Tôi quyết định ăn một bữa thật no. Bụng đói là cửa ngõ cho đủ thứ bệnh nan y ùa vào. Tôi gọi đầu bếp, bảo làm một bữa tiệc kiểu Mô-gun thật thịnh soạn, thơm lừng gia vị và bơ.
Sáng hôm sau, cả câu chuyện chỉ còn như một cơn mơ hão kỳ quặc. Lòng nhẹ tênh, tôi đội chiếc mũ cát như các ông tây, đánh xe đi làm. Hôm ấy tôi phải viết bản báo cáo ba tháng, tưởng sẽ về muộn. Thế nhưng trời chưa tối, tôi đã bị kéo về nhà một cách lạ lùng. Kéo bằng cái gì, tôi không nói được. Tôi chỉ cảm thấy mọi người đang chờ, và tôi không được chậm trễ thêm nữa.
Bỏ dở bản báo cáo, tôi đứng dậy, đội mũ, đánh xe chạy rầm rập trên con đường tối tăm, um tùm, vắng vẻ, và về tới toà lâu đài mênh mông im lặng đứng bên sườn đồi u ám.
Ở tầng một, cầu thang dẫn lên một gian sảnh rất rộng. Mái sảnh trải dài trên những vòm cửa chạm trổ, tựa vào ba hàng cột đồ sộ, ngày đêm rên rỉ dưới sức nặng của chính sự cô quạnh ghê gớm của nó. Ngày vừa tắt, đèn chưa thắp. Tôi đẩy cửa bước vào. Lập tức bên trong như có một cơn náo động, như thể cả một đám đông đang tụ họp bỗng tan tác, ùa ra các cửa lớn, cửa sổ, hành lang, hiên và các phòng, vội vã trốn chạy.
Tôi chẳng thấy ai, đứng ngây ra, tóc gáy dựng đứng vì một thứ khoái cảm mê man. Một mùi hương thoang thoảng của tinh dầu hoa và phấn sáp, đã phai đi vì năm tháng, còn vương trong mũi tôi. Đứng trong bóng tối của gian sảnh mênh mông hoang vắng, giữa những hàng cột cổ xưa, tôi nghe thấy tiếng vòi nước róc rách đổ xuống nền cẩm thạch, một điệu đàn lạ tai, tiếng trang sức lanh canh và tiếng lục lạc ở cổ chân leng keng, tiếng chuông điểm giờ, tiếng kèn trống vọng lại từ xa, tiếng những chuỗi pha lê trên đèn chùm chạm nhau trong gió, tiếng chim hoạ mi hót trong những chiếc lồng treo ngoài hành lang, tiếng cò kêu trong vườn. Tất cả hoà thành một thứ nhạc kỳ lạ, không phải của cõi trần, vây quanh tôi.
Rồi tôi bị mê hoặc đến mức cái ảo ảnh không sờ được, không với tới được, không thuộc về trần thế ấy lại trở thành điều thật duy nhất trên đời. Còn mọi thứ khác chỉ là giấc mộng. Rằng tôi, tức là ông Mỗ, con trai cả của cụ Mỗ quá cố, đang lĩnh mỗi tháng bốn trăm năm mươi đồng ru-pi để thu thuế bông, ngày ngày mặc áo vét ngắn, đội mũ cát, ngồi xe ngựa nhỏ đến sở, tất cả những điều đó bỗng hiện ra như một ảo tưởng lố bịch đến lạ lùng. Tôi phá lên cười ha hả giữa bóng tối của gian sảnh lặng ngắt.
Đúng lúc ấy, người đầy tớ bước vào, tay cầm cây đèn dầu đã thắp. Tôi không biết hắn có cho tôi là điên không. Nhưng lập tức tôi nhớ ra mình đích thị là ông Mỗ, con trai cụ Mỗ quá cố. Còn chuyện trong lòng đất hay ngoài trái đất có một cõi nào đó, nơi những vòi nước vô hình phun mãi và những cây đàn tiên do những ngón tay vô hình gảy lên một khúc nhạc bất tận, thì chỉ các nhà thơ lớn nhỏ mới trả lời được. Còn điều chắc chắn là tôi thu thuế ở chợ bông Ba-rích, và nhờ thế mà lĩnh bốn trăm năm mươi ru-pi mỗi tháng. Tôi ngồi đọc báo bên chiếc bàn gấp dưới ánh đèn dầu, bật cười khoái chí vì cái ảo giác kỳ cục của mình.
Đọc báo xong, ăn bữa tối kiểu Mô-gun xong, tôi tắt đèn, nằm xuống chiếc giường trong một gian phòng nhỏ bên cạnh. Qua khung cửa sổ mở, một ngôi sao sáng rực treo cao trên dãy đồi A-va-li viền bóng rừng tối, từ cách xa hàng triệu triệu dặm trên trời đang chăm chú nhìn ngài Thu Thuế nằm trên chiếc giường gấp tầm thường. Ý nghĩ ấy làm tôi thấy lạ và buồn cười. Tôi không biết mình ngủ thiếp đi lúc nào, ngủ được bao lâu. Bỗng tôi giật mình tỉnh dậy, dù chẳng nghe tiếng động nào, chẳng thấy ai lẻn vào. Chỉ có ngôi sao sáng trên đỉnh đồi đã lặn, và ánh trăng non mờ nhạt đang rón rén lọt vào phòng qua khung cửa sổ, như ngượng ngùng vì đã tự tiện bước vào.
Tôi không thấy ai, nhưng có cảm giác như có người khẽ đẩy mình. Khi tôi tỉnh hẳn, nàng không nói một lời, chỉ đưa năm ngón tay đeo đầy nhẫn vẫy tôi, ra hiệu rón rén đi theo. Tôi lặng lẽ trở dậy. Trong vô số gian phòng của toà lâu đài hoang vắng, với những âm thanh đang ngủ và những tiếng vọng đang chờ, ngoài tôi ra chẳng có một linh hồn nào. Vậy mà mỗi bước đi tôi lại sợ có ai thức giấc. Phần lớn các gian phòng trong lâu đài lúc nào cũng đóng kín, tôi chưa từng bước vào.
Tôi nín thở, rón rén đi theo người dẫn đường vô hình. Đi đâu, giờ tôi không nói được. Tôi đã băng qua biết bao lối đi hẹp tối tăm, bao hành lang dài, bao điện chầu im lìm uy nghiêm, bao gian buồng kín bí mật!
Tuy không thấy người dẫn đường xinh đẹp, nhưng trong trí tưởng tượng tôi vẫn hình dung ra nàng. Một cô gái Ả Rập, đôi cánh tay rắn và mịn như cẩm thạch lộ ra dưới ống tay áo rộng, một tấm mạng mỏng rủ từ vành mũ xuống che mặt, bên hông giắt một con dao găm cong! Tôi tưởng như một trong những đêm của Nghìn lẻ một đêm đã bay từ thế giới truyện cổ đến với tôi, và giữa đêm khuya tôi đang lần bước qua những ngõ hẹp tối tăm của thành Bát-đa đang ngủ, tới một nơi hò hẹn đầy hiểm nguy.
Cuối cùng, người dẫn đường đột ngột dừng lại trước một tấm rèm màu xanh thẫm, và hình như chỉ tay vào một cái gì phía dưới. Ở đó chẳng có gì cả. Nhưng một nỗi kinh hoàng bỗng làm máu trong tim tôi đông cứng lại. Tôi tưởng như thấy trên nền nhà, dưới chân tấm rèm, một tên thái giám da đen dữ tợn mặc gấm vóc, đang ngồi duỗi chân ngủ gật, một thanh gươm tuốt trần đặt ngang đùi.
Người dẫn đường nhẹ nhàng bước qua chân hắn, vén một góc rèm lên. Tôi thoáng thấy một phần gian phòng trải thảm Ba Tư. Có ai đó đang ngồi trên giường bên trong. Tôi không thấy nàng, chỉ thoáng thấy đôi bàn chân tuyệt đẹp xỏ trong đôi hài thêu kim tuyến, thò ra dưới ống quần rộng màu nghệ, đặt hờ hững trên tấm thảm nhung màu cam. Một bên có chiếc khay pha lê xanh nhạt, trên đó bày mấy quả táo, quả lê, quả cam và rất nhiều chùm nho, hai chiếc chén nhỏ và một bình rượu ánh vàng, rõ ràng đang chờ khách. Một làn hương ngây ngất bốc lên từ một thứ trầm lạ đang cháy bên trong, gần như làm tôi mê đi.
Tim run lên, tôi định bước qua đôi chân duỗi dài của tên thái giám. Đúng lúc ấy hắn giật mình tỉnh dậy, thanh gươm rơi khỏi đùi, đập xuống nền cẩm thạch đánh choang một tiếng. Một tiếng thét kinh hoàng làm tôi bật dậy.
Tôi thấy mình đang ngồi trên chiếc giường gấp, mồ hôi đầm đìa. Vầng trăng khuyết nhợt nhạt trong ánh sáng ban mai như một người bệnh thức trắng mệt mỏi lúc rạng đông. Và lão Mê-he A-li điên của chúng tôi, như thường lệ mỗi ngày, vừa đi trên con đường vắng vừa gào lên:
"Tránh ra! Tránh ra!"
Một đêm trong những đêm Ả Rập của tôi kết thúc đột ngột như thế. Nhưng vẫn còn một nghìn đêm nữa.
Từ đó, ngày và đêm của tôi vênh hẳn nhau. Ban ngày tôi đi làm, mệt mỏi rã rời, nguyền rủa cái đêm quyến rũ cùng những giấc mơ trống rỗng của nó. Nhưng đêm xuống, cuộc sống ban ngày với bao dây trói và xiềng xích công việc lại hiện ra như một thứ phù hoa vụn vặt, giả dối, lố bịch.
Trời vừa tối là tôi sa vào lưới của một cơn say kỳ lạ, bị nó cuốn đi. Tôi hoá thành một nhân vật vô danh nào đó của một thời đã qua, đóng vai mình trong một trang sử chưa ai viết. Chiếc áo vét ngắn kiểu Anh và chiếc quần bó chẳng hợp với tôi chút nào. Tôi đội chiếc mũ nhung đỏ, mặc quần rộng, khoác áo gi-lê thêu, thêm chiếc áo choàng lụa dài thướt tha, cầm những chiếc khăn màu ướp tinh dầu hoa. Trang điểm cầu kỳ xong xuôi, tôi ngồi lên chiếc ghế cao đệm dày, bỏ điếu thuốc lá, thay bằng chiếc tẩu nước ống cuộn nhiều vòng đựng nước hoa hồng, như thể đang nóng lòng chờ một cuộc hò hẹn lạ lùng với người yêu.
Tôi không đủ sức kể lại những chuyện kỳ diệu diễn ra khi đêm mỗi lúc một sâu. Tôi có cảm giác như trong những gian phòng kỳ lạ của toà nhà đồ sộ ấy, những mảnh vụn của một câu chuyện đẹp đang bay tán loạn trong một cơn gió xuân bất chợt. Tôi lần theo được một quãng, nhưng không bao giờ thấy được đoạn kết. Thế mà suốt đêm tôi vẫn lang thang từ phòng này sang phòng khác để đuổi theo chúng.
Giữa vòng xoáy của những mảnh mộng ấy, giữa mùi lá móng, giữa tiếng đàn tưng tửng, giữa những làn không khí đẫm hơi nước thơm, tôi chợt bắt gặp, nhanh như một tia chớp, bóng dáng một người con gái đẹp. Chính nàng là người mặc chiếc quần màu nghệ, đôi bàn chân trắng hồng mềm mại xỏ trong đôi hài thêu kim tuyến mũi cong, mặc chiếc yếm bó sát thêu chỉ vàng, đội chiếc mũ đỏ có diềm vàng rủ xuống vầng trán và đôi má trắng như tuyết.
Nàng làm tôi phát điên. Tôi đuổi theo nàng từ phòng này sang phòng khác, từ lối này sang lối khác, giữa mê cung ngõ ngách rối rắm của cõi mộng bị bỏ bùa dưới đáy giấc ngủ.
Có những buổi tối, khi tôi đang đứng trước tấm gương lớn, hai bên thắp hai ngọn nến, chăm chút sửa soạn như một vị hoàng thân, thì bỗng thấy bóng người đẹp Ba Tư hiện ra trong gương, ngay cạnh bóng tôi. Nàng quay cổ thật nhanh. Trong đôi mắt to đen láy loé lên một ánh nhìn háo hức, đầy đam mê và đau đớn. Trên đôi môi đỏ xinh xắn thấp thoáng một lời sắp nói. Dáng nàng thon thả, trắng trẻo, đầy sức xuân như một dây leo đang nở hoa, nhẹ nhàng cất bước uyển chuyển. Một tia sáng chói loà của đau đớn, khát khao và ngây ngất, một nụ cười, một ánh mắt, một chớp lấp lánh của ngọc ngà và lụa là, rồi nàng tan biến.
Một luồng gió lồng lộng, mang theo tất cả hương thơm của đồi núi và rừng cây, thổi tắt ngọn nến. Tôi quăng quần áo sang một bên, nằm xuống giường, mắt nhắm lại, toàn thân run lên vì sung sướng. Và quanh tôi, trong làn gió, giữa hương rừng hương núi, trôi qua bóng tối im lặng biết bao vuốt ve, bao nụ hôn, bao cái chạm tay dịu dàng, những tiếng thì thầm bên tai, những hơi thở thơm tho trên trán. Hoặc một chiếc khăn tay ướp hương cứ phất qua phất lại trên má tôi. Rồi từ từ, một con rắn huyền bí quấn những vòng mê man quanh người tôi. Tôi thở ra một tiếng dài, lịm đi, rồi chìm vào một giấc ngủ sâu.
Một buổi chiều, tôi quyết định cưỡi ngựa đi chơi. Tôi không biết ai đã van tôi ở lại, nhưng hôm ấy tôi không chịu nghe lời nài nỉ nào. Chiếc mũ và chiếc áo kiểu Anh của tôi đang treo trên giá. Tôi vừa với tay lấy xuống thì một cơn gió lốc bất chợt nổi lên, cuốn theo cát sông Xu-xta và lá khô trên đồi A-va-li, chộp lấy chúng, xoay tít mãi. Một tràng cười vui vẻ vang lên, mỗi lúc một cao, gảy lên đủ mọi cung bậc của niềm vui, rồi tắt dần về phía mặt trời lặn.
Hôm ấy tôi không đi được. Và ngày hôm sau, tôi bỏ hẳn chiếc áo và chiếc mũ kiểu Anh kỳ cục ấy.
Đêm ấy, giữa canh khuya, tôi lại nghe tiếng ai nức nở nghẹn ngào, đứt từng khúc ruột. Như thể từ dưới gầm giường, dưới nền nhà, dưới móng đá của toà lâu đài khổng lồ, từ đáy một nấm mồ tối tăm ẩm ướt, có một giọng nói đang thảm thiết kêu van:
"Ôi, hãy cứu em! Hãy phá tan những cánh cửa cứng của ảo ảnh, của giấc ngủ như chết và những giấc mơ vô ích này! Hãy đặt em ngồi bên anh trên yên ngựa, ôm chặt em vào lòng, rồi phi qua đồi, qua rừng, qua sông, đưa em lên những gian phòng ấm áp đầy nắng ở phía trên kia!"
Ta là ai? Ôi, làm sao ta cứu được nàng? Từ vòng xoáy cuồng loạn của những giấc mơ này, ta biết kéo vào bờ người đẹp nào đang chết đuối, nỗi đam mê hiện hình nào đây? Hỡi bóng ma diễm lệ mong manh! Nàng đã sống ở đâu, vào thời nào? Bên dòng suối mát nào, dưới bóng rặng chà là nào, nàng đã chào đời, trong vòng tay của người du mục không nhà nào giữa sa mạc? Gã Bê-đu-in nào đã giật nàng khỏi tay mẹ, như ngắt một nụ hoa vừa hé trên một dây leo hoang, đặt nàng lên lưng con ngựa nhanh như chớp, băng qua những bãi cát bỏng, đem nàng tới chợ nô lệ của kinh thành nào? Và ở đó, viên quan nào của nhà vua đã thấy vẻ rực rỡ của tuổi xuân e ấp đang nở, trả vàng mua nàng, đặt nàng vào chiếc kiệu vàng, đem dâng vào hậu cung của chủ mình?
Ôi, câu chuyện của chốn ấy! Tiếng đàn xa-reng, tiếng lục lạc cổ chân leng keng, thỉnh thoảng một ánh dao găm loé lên, thứ rượu Si-ra-dơ đỏ rực mà tẩm thuốc độc, và những ánh mắt sắc như dao! Huy hoàng biết bao, mà cũng nô lệ biết bao!
Bên phải bên trái nàng, các nữ tì phe phẩy quạt lông, kim cương lấp lánh trên vòng tay. Đức vua, vua của các vua, quỳ xuống dưới đôi bàn chân trắng như tuyết đi hài nạm ngọc của nàng. Ngoài cửa, tên thái giám A-bít-xi-ni dữ tợn, trông như sứ giả của thần chết mà ăn vận như thiên thần, đứng tuốt gươm trần trong tay! Rồi hỡi bông hoa sa mạc, bị cuốn đi trên đại dương huy hoàng chói loà nhuộm máu, với bọt sóng ghen tuông, với ghềnh đá và bãi ngầm mưu mô, nàng đã bị ném dạt vào bờ chết chóc tàn nhẫn nào, hay vào một xứ sở nào khác còn lộng lẫy và tàn nhẫn hơn?
Đúng lúc ấy, lão Mê-he A-li điên bỗng gào lên:
"Tránh ra! Tránh ra! Tất cả đều giả dối! Tất cả đều giả dối!"
Tôi mở mắt, thấy trời đã sáng. Người lính hầu mang thư từ vào cho tôi. Đầu bếp cúi chào, đứng chờ tôi sai bảo.
Tôi nói: "Không, tôi không thể ở đây thêm nữa."
Ngay hôm ấy tôi thu dọn đồ đạc, chuyển lên ở trong sở. Ông Ca-rim Khan già thấy tôi thì hơi mỉm cười. Tôi bực mình nhưng không nói gì, vùi đầu vào việc.
Chiều xuống, tôi bắt đầu lơ đãng. Tôi cảm thấy như mình có một cuộc hẹn phải đến. Việc soát sổ sách thuế bông hoàn toàn vô nghĩa. Cả cái triều đình của ngài Ni-dam cũng chẳng đáng giá là bao. Bất cứ thứ gì thuộc về hiện tại, bất cứ thứ gì đang chạy vạy, xoay xở, kiếm miếng cơm, đều có vẻ tầm thường, vô nghĩa, đáng khinh.
Tôi ném bút xuống, gấp sổ lại, lên xe ngựa mà đi. Tôi để ý thấy chiếc xe tự dừng lại trước cổng lâu đài cẩm thạch, đúng vào lúc hoàng hôn. Tôi rảo bước leo lên cầu thang, vào phòng.
Bên trong im lặng nặng nề. Những gian phòng tối om như đang hờn dỗi. Lòng tôi đầy ăn năn, nhưng chẳng có ai để tôi giãi bày, để tôi xin tha thứ. Tôi lang thang qua những gian phòng tối với một đầu óc trống rỗng. Ước gì tôi có một cây đàn để hát cho người không quen biết nghe: "Hỡi ngọn lửa, con thiêu thân tội nghiệp đã gắng bay đi mà không nổi, nay đã quay về với người! Hãy tha thứ cho nó một lần này thôi, hãy đốt cháy đôi cánh nó, thiêu nó trong ngọn lửa của người!"
Bỗng hai giọt nước mắt từ trên cao rơi xuống trán tôi. Hôm ấy, mây đen kéo kín đỉnh đồi A-va-li. Rừng cây u ám và dòng nước đen như nhọ nồi của sông Xu-xta đang chờ đợi trong một nỗi hồi hộp ghê gớm, một sự yên lặng đầy điềm gở. Bỗng đất, nước và trời cùng rùng mình. Một trận cuồng phong gào thét lao qua những cánh rừng xa không lối, nhe hàm răng chớp loé như một gã điên vừa bứt xích. Những gian sảnh hoang vắng của lâu đài đập cửa rầm rầm, rên rỉ trong nỗi đau cay đắng.
Đầy tớ đều đã lên sở cả, không ai thắp đèn. Đêm ấy nhiều mây, không trăng. Trong bóng tối dày đặc bên trong, tôi cảm nhận rõ ràng có một người đàn bà đang nằm úp mặt trên tấm thảm dưới chân giường, những ngón tay tuyệt vọng níu chặt, giật bứt mái tóc dài rũ rượi. Máu rỉ xuống vầng trán trắng trẻo của nàng. Lúc thì nàng cười, một tràng cười khô khốc, chói tai, không chút vui. Lúc thì nàng oà lên nức nở, quằn quại. Lúc thì nàng xé toạc yếm áo, đấm vào ngực trần. Gió gầm rú qua khung cửa sổ mở, mưa trút như thác, xối ướt sũng người nàng.
Suốt đêm, cơn bão không ngớt, tiếng khóc thảm thiết cũng không ngớt. Tôi lang thang trong bóng tối từ phòng này sang phòng khác, lòng buồn đau mà bất lực. Ta biết an ủi ai khi chẳng có ai bên cạnh? Nỗi đau tột cùng này là của ai? Nỗi sầu khổ không nguôi này từ đâu mà ra?
Và lão điên lại gào lên:
"Tránh ra! Tránh ra! Tất cả đều giả dối! Tất cả đều giả dối!"
Tôi thấy trời đã rạng. Giữa thời tiết khủng khiếp ấy, lão Mê-he A-li vẫn đi vòng quanh lâu đài, gào lên câu nói quen thuộc. Bỗng tôi chợt nghĩ, có lẽ ngày xưa lão cũng từng sống trong ngôi nhà này. Tuy đã hoá điên, lão vẫn ngày ngày tìm đến, đi vòng quanh mãi, bị cái bùa mê quái gở của con quỷ cẩm thạch kia hút lấy.
Bất chấp mưa bão, tôi chạy ra hỏi lão:
"Này, Mê-he A-li, cái gì là giả dối?"
Lão không trả lời, chỉ gạt tôi sang bên, rồi cứ thế đi vòng quanh, gào lên điên dại. Lão như một con chim bị bùa mê, cứ bay lượn quanh hàm con rắn, và cố gắng tuyệt vọng tự cảnh tỉnh mình bằng cách lặp đi lặp lại:
"Tránh ra! Tránh ra! Tất cả đều giả dối! Tất cả đều giả dối!"
Tôi chạy như điên dưới trận mưa quất rát mặt, tới sở, hỏi ông Ca-rim Khan:
"Ông nói cho tôi biết, tất cả chuyện này nghĩa là gì!"
Những gì tôi góp nhặt được từ ông già ấy là thế này. Ngày xưa, trong toà lâu đài ấy từng sục sôi biết bao mối tình không được đáp lại, bao khát khao không được thoả, bao ngọn lửa hoan lạc cuồng nhiệt rực đỏ. Lời nguyền của tất cả những trái tim tan nát, những hy vọng tàn lụi ấy đã khiến từng hòn đá của nó trở nên khát khao, đói khát, chực nuốt chửng như một mụ yêu tinh đói bất cứ người sống nào lỡ bước tới gần. Trong những người đã sống ở đó ba đêm liền, không một ai thoát khỏi cái hàm tàn nhẫn ấy, trừ Mê-he A-li, mà lão thoát được cũng phải trả giá bằng trí khôn của mình.
Tôi hỏi: "Vậy không còn cách nào để tôi thoát ra sao?"
Ông già nói: "Chỉ có một cách, mà cách ấy rất khó. Tôi sẽ nói cho ngài biết. Nhưng trước hết ngài phải nghe câu chuyện về một cô gái Ba Tư trẻ tuổi từng sống trong toà lâu đài hoan lạc ấy. Trên đời này chưa từng có tấn bi kịch nào lạ lùng hơn, đau xót hơn."
Đúng lúc ấy, mấy người phu khuân vác báo tàu sắp tới. Sớm thế ư? Chúng tôi vội vàng thu dọn hành lý thì đoàn tàu đã phì phò tiến vào ga. Một ông người Anh, có vẻ vừa ngủ dậy, đang ngó ra từ một toa hạng nhất, cố đọc tên ga. Vừa trông thấy người bạn đường của chúng tôi, ông ta reo lên "A lô" một tiếng, rồi kéo ông ấy vào khoang của mình. Chúng tôi lên toa hạng nhì, nên chẳng còn dịp nào biết người ấy là ai, cũng chẳng biết câu chuyện của ông ta kết thúc ra sao.
Tôi nói: "Rõ ràng lão ta coi chúng mình là lũ ngốc, bịa chuyện ra để trêu cho vui. Câu chuyện ấy từ đầu đến cuối toàn là chuyện bịa."
Cuộc tranh cãi sau đó khiến tôi và người bà con theo thuyết thần linh của tôi giận nhau suốt đời.
— Hết —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ